Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội hiện nay" được thực hiện bởi sinh viên Đặng Thị Thảo vào năm 2019, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Thị Minh Thảo.
Về lý do chọn đề tài, tác giả phân tích rằng Việt Nam sở hữu hệ thống tín ngưỡng dân gian đa dạng gắn liền với tiến trình lịch sử và phương thức canh tác nông nghiệp lúa nước. Khác với các tôn giáo hướng con người về thế giới siêu thực, tín ngưỡng thờ Mẫu hướng về cội nguồn, tri ân những người phụ nữ có công với dân, với nước, thể hiện truyền thống "uống nước nhớ nguồn". Tại khu vực Ba Vì – vùng đất bán sơn địa cách trung tâm Hà Nội khoảng 60 km về phía Tây Bắc, nơi cùng sinh sống của ba dân tộc Kinh, Mường và Dao – tín ngưỡng thờ Mẫu mang nhiều dấu ấn văn hóa bản địa sâu sắc. Tuy nhiên, tính đến thời điểm tác giả thực hiện khóa luận, tại địa bàn huyện Ba Vì chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống về tín ngưỡng thờ Mẫu mà chủ yếu chỉ dừng lại ở việc lược ghi huyền tích, nhân vật thờ tự trong các sách địa chí hoặc nghiên cứu di tích đơn lẻ. Do đó, việc nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu tại đền Đá Đen (xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì) được lựa chọn nhằm làm rõ các giá trị lịch sử, thực hành nghi lễ và tác động thực tiễn đến đời sống địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen, huyện Ba Vì, từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng này tại địa phương cũng như trong bối cảnh chung của đất nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:
- Đưa ra cái nhìn tổng quan về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam, khái quát về điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế – xã hội của huyện Ba Vì.
- Tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen, bao gồm huyền tích, nghi thức thờ Mẫu, phong tục tập quán, sinh hoạt lễ hội và phân tích những ảnh hưởng của tín ngưỡng này đối với đời sống nhân dân bản huyện.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm giữ gìn, phát huy các yếu tố tích cực của tín ngưỡng thờ Mẫu tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, nghiên cứu tập trung tại khu di tích đền Đá Đen thuộc địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì; về thời gian, khóa luận khảo cứu các thực hành và biến đổi của tín ngưỡng từ năm 1990 đến năm 2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tôn giáo, tín ngưỡng trong thời kỳ đổi mới.
Về mặt lý luận, tác giả sử dụng hệ thống khái niệm chuyên ngành về tín ngưỡng dân gian, bản chất của tín ngưỡng thờ Nữ thần và thờ Mẫu (Mẫu thần, Tam tòa Thánh Mẫu, Tứ phủ). Các khái niệm phân định rõ giữa "nhiên thần" (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa) và "nhân thần" (nhân vật lịch sử có thực như Thái hậu Dương Vân Nga, Nguyên phi Ỷ Lan; nhân vật huyền sử như Mẹ Âu Cơ, Thánh Mẫu Liễu Hạnh), cùng ba cung bậc tôn vinh: Vương Mẫu, Quốc Mẫu và Thánh Mẫu.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp khảo sát thực tế (điền dã): Tác giả trực tiếp khảo sát không gian đền Đá Đen, quan sát các kỳ lễ hội, thực hành nghi lễ lên đồng (hầu bóng), ghi chép văn khấn và quy cách bài trí đồ lễ.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Thu thập, hệ thống hóa các tài liệu lịch sử, văn hóa, tài liệu thống kê kinh tế – xã hội của địa phương để phân tích các yếu tố cấu thành tín ngưỡng.
- Phương pháp phân tích – so sánh: So sánh các dạng thức thờ Mẫu giữa ba miền Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ; đối chiếu không gian và nghi thức thờ tự tại đền Đá Đen với các trung tâm thờ Mẫu khác như Phủ Dầy (Nam Định), Phủ Tây Hồ (Hà Nội), đền Suối Mỡ (Bắc Giang), đền Bắc Lệ (Lạng Sơn).
- Phương pháp tiếp cận văn hóa vùng: Đặt đối tượng nghiên cứu trong không gian địa văn hóa bán sơn địa Ba Vì – Xứ Đoài, nơi có sự giao thoa sinh hoạt văn hóa giữa ba tộc người Kinh, Mường, Dao.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các công trình nghiên cứu đã xuất bản của các học giả như Ngô Đức Thịnh, Vũ Ngọc Khánh, Vũ Thị Tú Anh, Lê Công Sự, Phan Thị Bảo; các bài viết trên Tạp chí Văn học, Tạp chí Văn hóa dân gian, Tạp chí Cộng sản; kỷ yếu hội thảo khoa học trong nước và quốc tế; cùng hệ thống số liệu thống kê kinh tế – xã hội của Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì giai đoạn 2005–2010.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục của khóa luận gồm phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương nội dung chính với 6 tiết.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam và đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội ở huyện Ba Vì thành phố Hà Nội hiện nay
Nội dung chương 1 được chia thành hai tiết lớn, giải quyết nền tảng lý luận chung và bức tranh thực địa của địa bàn nghiên cứu:
Tiết 1: Một số vấn đề lý luận về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam. Tác giả trình bày nguồn gốc hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu từ sự tôn sùng thiên nhiên của cư dân nông nghiệp lúa nước. Thờ Mẫu khởi nguyên từ tục thờ Mẹ Cây, Mẹ Rừng (Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Sơn Lâm), Mẹ Đất (Mẫu Địa), Mẹ Nước (Mẫu Thoải) và Mẹ Trời (Mẫu Thiên). Sự hình thành hệ thống Tứ phủ gắn liền với triết lý âm dương, ngũ hành và tư tưởng "âm sinh dương thành". Tác giả phân tích sự phân hóa của ba dạng thức thờ Mẫu tại ba miền:
- Bắc Bộ: Mang tính nội sinh hoàn chỉnh, phát triển tuần tự từ thờ Nữ thần sang Mẫu thần và định hình hệ thống Tam phủ, Tứ phủ từ thế kỷ XV trở đi với trung tâm là Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
- Trung Bộ: Phổ biến ở Nam Trung Bộ, không có hệ thống Tam phủ – Tứ phủ mà tập trung thờ Nữ thần và Mẫu thần (Thiên Y A Na, Po Nagar, Tứ vị Thánh nương, Bà Ngũ Hành).
- Nam Bộ: Có sự dung hợp văn hóa đa tộc người (Việt, Chăm, Khmer), ranh giới giữa Nữ thần và Mẫu thần không tuyệt đối (Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thủy Long).
Tiết này cũng làm rõ không gian thờ tự (Phủ), cấu trúc điện thần Tứ phủ tương ứng với bốn phương, bốn sắc áo biểu trưng: Thiên phủ (màu đỏ), Thoải phủ (màu trắng), Địa phủ (màu vàng), Nhạc phủ (màu xanh). Nghi thức diễn xướng trung tâm là hầu đồng với quy chuẩn 36 giá đồng, sự tham gia của ông đồng, bà đồng, người hầu dâng và ban cung văn.
Tiết 2: Khái quát về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội, tín ngưỡng thờ mẫu ở huyện Ba Vì. Huyện Ba Vì có diện tích tự nhiên 424 km², dân số khoảng 265.000 người thuộc 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao, phân bố tại 31 xã, thị trấn (gồm 7 xã miền núi và 1 xã bãi giữa sông Hồng). Huyện tái sáp nhập vào Hà Nội từ tháng 8/2008 theo Nghị quyết số 15 của Quốc hội khóa XII. Địa hình chia làm ba tiểu vùng: vùng núi, vùng đồi và vùng đồng bằng ven sông Hồng. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 với lượng mưa 1.832,2 mm (chiếm 90,87% cả năm), nhiệt độ trung bình 23°C; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, tháng ít mưa nhất là tháng 12 (15 mm). Năm 2008, toàn huyện có 10.724,9 ha rừng (gồm 4.400,4 ha rừng sản xuất; 78,4 ha rừng phòng hộ và 6.246 ha rừng đặc dụng), hệ thực vật ghi nhận 812 loài bậc cao thuộc 88 họ, trong đó có Bách xanh và Thông đỏ thuộc Sách đỏ Việt Nam.
Tác giả tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế – xã hội của huyện Ba Vì (số liệu lũy kế đến hết năm 2010):
| Chỉ tiêu kinh tế – xã hội huyện Ba Vì |
Số liệu thực hiện đến năm 2010 |
Ghi chú / Tốc độ tăng trưởng |
| Tổng giá trị sản xuất |
9.116 tỷ đồng |
Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 16% |
| Tổng giá trị tăng thêm |
4.311 tỷ đồng |
Đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đảng bộ |
| Nông, lâm nghiệp và thủy sản |
1.662 tỷ đồng (giá trị tăng thêm) |
Tăng 24,2% so với cùng kỳ; sản lượng chè đạt 12.800 tấn/năm |
| Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp |
340 tỷ đồng (giá trị tăng thêm) |
Tăng 34% so với cùng kỳ; có 2 cụm CN và 12 làng nghề |
| Dịch vụ và du lịch |
1.803 tỷ đồng (giá trị tăng thêm) |
Tăng 48,4%; doanh thu du lịch 70 tỷ đồng, đón 1,5 triệu lượt khách |
| Giải quyết việc làm mới |
10.750 lao động |
Gắn với chương trình nông nghiệp, nông thôn |
| Giáo dục và Y tế |
18 trường chuẩn quốc gia; 23/31 trạm có bác sĩ |
30/31 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế |
| Văn hóa |
96 làng văn hóa, 45 cơ quan văn hóa |
Đạt danh hiệu văn hóa cơ sở |
Về phân bố di tích, trên địa bàn huyện có hệ thống thờ Mẫu phong phú lồng ghép trong các đền (đền Thượng, đền Trung, đền Hạ, đền Bố, đền Chúa Thoải, đền Đá Đen) và các chùa (chùa Thông, chùa Mía, chùa Tản Viên, chùa Khai Nguyên). Trong đó, đền Đá Đen (xã Tản Lĩnh) tọa lạc dưới chân núi Ba Vì, thờ Dưỡng Mẫu của Tam vị Đức Thánh Tản.
Chương 2: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen và những ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen đối với đời sống nhân dân bản huyện
Chương 2 là phần trọng tâm khảo cứu thực địa, được triển khai qua hai tiết:
Tiết 1: Huyền tích chúa Đá Đen – Mẫu Thượng Ngàn, nội dung và nghi thức thờ Mẫu Thượng Ngàn. Tác giả thuật lại thần tích: Thân mẫu sinh thành của Thánh Tản Viên là bà Đinh Thị Đen (hoặc Đinh Thị Duyên). Khi đi gánh nước tại giếng (sâu 3–4 m, không bao giờ cạn nước), bà gặp rồng vàng, về nhà thụ thai 14 tháng mới sinh Nguyễn Tuấn. Lên 6 tuổi mồ côi cha, hai mẹ con chuyển về xóm Cốc nương nhờ bà Ma Thị Cao Sơn – một tù trưởng giàu có nhưng không có con. Bà Ma Thị nhận Nguyễn Tuấn làm con nuôi. Năm 12 tuổi, Nguyễn Tuấn đốn củi trên núi Tản, gặp Tử Vi thần tướng Bạch Tuyết trao gậy thần "đầu sinh đầu tử". Bà Ma Thị đặt tên con là Sơn Tinh và căn dặn dùng gậy làm việc thiện giúp đời. Khi bà Ma Thị ốm nặng, xót thương con côi cút, bà đã nhỏ lệ; giọt nước mắt rơi xuống đất hóa thành khối đá đen lớn dần. Hiện nay, hòn Đá Đen nằm ở chân núi Ba Vì có kích thước dài 53 cm, nơi rộng nhất đạt 29 cm.
Điện thần đền Đá Đen được phối thờ theo trật tự:
- Tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải).
- Ngũ vị Tôn quan (từ Quan Đệ Nhất đến Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh).
- Thánh Mẫu Chúa Bà Đá Đen – Mẫu Thượng Ngàn (nhân vật thờ chính).
- Cô Bé Thượng Ngàn, Cậu Bé.
- Ban Hạ ban thờ Ngũ Hổ trấn giữ năm phương và đôi thanh xà, bạch xà (Ông Lốt).
Trang phục hầu giá Chúa Bà Đá Đen mang nét đặc thù bản địa: toàn bộ khăn áo, quần dài, đai lưng, thẻ ngà, kiềng bạc, chuỗi hạt, xuyến và quạt đều sử dụng màu đen đồng nhất. Đền còn có tên chữ là Hách Bạch Linh Từ và lưu truyền bài văn khấn riêng ca ngợi cảnh sắc non Tản, khí thiêng Đá Đen.
Quy cách phẩm vật tế lễ tại đền phân biệt rõ giữa lễ Tứ phủ và lễ Sơn Trang:
- Lễ Tứ phủ: Đặt trên kỷ tháp, gồm chén đũa bạc, cốc pha lê, gương phủ khăn thêu; 4 mâm lễ Tứ phủ đại diện cho 4 màu (mỗi mâm gồm 9 quả trứng, 1 lược, 1 quạt, 1 đôi guốc, 9 vuông vải màu); kèm 1 chung nhỏ, 1 thau nhỏ, nộm hình nhân và 4 lốt.
- Lễ Sơn Trang (dâng ban Thánh Mẫu Ma Thị Cao Sơn và Cô Chín): Mọi vật phẩm chia làm 13 phần (1 phần lớn ở giữa dâng Mẫu, 12 phần nhỏ xung quanh dâng 12 cô Sơn Trang coi 12 cửa rừng). Mâm hoa quả rừng xếp quanh búp măng tre bóc sạch luộc chín; mâm mặn gồm các đĩa cá nhỏ, tôm, cua, ốc luộc (mỗi đĩa đúng 13 con); kết hợp bát cơm gạo cẩm, mướp đắng, xôi nếp mùn, bánh chưng không nhân.
Lễ hội đền Đá Đen diễn ra theo chu kỳ các ngày mùng 8 tháng Giêng, mùng 8 tháng 4, mùng 8 tháng 7 và mùng 8 tháng 8 âm lịch. Đại lễ lớn nhất trong năm là Tiệc Chúa tổ chức vào ngày 19 tháng 9 âm lịch (kỷ niệm ngày Thánh Mẫu về trời). Điểm đặc sắc là đội tế nữ quy tụ phụ nữ ba dân tộc Kinh, Mường, Dao của hai xã Tản Lĩnh và Vân Hòa. Đêm 18/9, bà con lên rừng chặt nứa non, giã nếp nương đồ cơm lam; sáng 19/9 tiến hành dâng lễ mặn, tế cáo, tấu cồng chiêng, thổi kèn púa và tổ chức diễn xướng hầu đồng.
Tiết 2: Những ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen huyện Ba Vì đối với đời sống nhân dân bản huyện. Tác giả chia tách tác động thành hai mặt:
- Mặt tích cực: Đền được công nhận Di tích lịch sử – văn hóa cấp thành phố năm 2015. Lễ hội thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch địa phương, tạo việc làm và thu nhập cho người dân thông qua hệ thống dịch vụ bán hàng lưu niệm, nông lâm sản, ẩm thực, đồ lễ và cơ sở lưu trú. Về văn hóa – xã hội, tín ngưỡng củng cố tinh thần đại đoàn kết giữa các cộng đồng dân tộc Kinh – Mường – Dao, giáo dục truyền thống "uống nước nhớ nguồn", đề cao vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.
- Mặt tiêu cực: Tình trạng thương mại hóa, hiện tượng chèo kéo du khách; đốt vàng mã quá mức gây ô nhiễm môi trường và nguy cơ hỏa hoạn; sự phát sinh của các tệ nạn mê tín dị đoan như bói toán, xóc thẻ, dâng sao giải hạn, cờ bạc ngụy trang, tình trạng khấn thuê làm biến dạng không gian thiêng và ảnh hưởng đến an ninh trật tự mùa lễ hội.
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp trong việc giữ gìn, phát huy những yếu tố tích cực của tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen huyện Ba Vì hiện nay
Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp quản lý:
Tiết 1: Một số định hướng.
- Quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về tự do tín ngưỡng, tôn giáo và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.
- Định hướng bảo tồn gắn liền với phát huy giá trị di tích đền Đá Đen trong chiến lược phát triển du lịch sinh thái – văn hóa của huyện Ba Vì.
- Bảo tồn tính nguyên hợp và nét đặc trưng văn hóa của ba dân tộc Kinh – Mường – Dao trong sinh hoạt tín ngưỡng, tránh đồng hóa hoặc làm sai lệch phong tục cổ truyền.
Tiết 2: Một số giải pháp.
- Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của chính quyền xã Tản Lĩnh, Ban Quản lý di tích đền Đá Đen; xây dựng quy chế quản lý lễ hội, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động dịch vụ xung quanh khu vực đền.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng nhân dân và du khách hiểu đúng giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ Mẫu; bài trừ các hiện tượng mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, bói toán, cờ bạc.
- Quy hoạch không gian thờ tự, chỉnh trang cảnh quan di tích; kiểm soát nghiêm ngặt việc đốt vàng mã, bảo đảm vệ sinh môi trường, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ.
- Phát huy vai trò chủ thể văn hóa của nhân dân địa phương, duy trì và chuẩn hóa nghi thức tế lễ của đội tế nữ liên dân tộc Kinh – Mường – Dao trong ngày hội Tiệc Chúa 19/9 âm lịch.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã cung cấp một bức tranh toàn diện và có hệ thống về di tích đền Đá Đen và tín ngưỡng thờ Mẫu tại huyện Ba Vì. Các kết quả cụ thể bao gồm:
- Khảo cứu và văn bản hóa huyền tích về Thánh Mẫu Ma Thị Cao Sơn – Thần mẫu nuôi của Tản Viên Sơn Thánh – gắn liền với di vật hòn Đá Đen (dài 53 cm, rộng 29 cm) và giếng nước cổ sâu 3–4 m tại chân núi Ba Vì.
- Mô tả chi tiết hệ thống điện thần, đặc điểm trang phục thuần màu đen của giá hầu Chúa Bà Đá Đen và quy thức chuẩn bị mâm lễ Sơn Trang chia 13 phần (với các lễ vật đặc thù gồm 13 con cá, tôm, cua, ốc và búp măng rừng luộc chín).
- Thống kê và phản ánh chân thực lịch trình lễ hội, đặc biệt là sự tham gia phối hợp của đội tế nữ 3 dân tộc Kinh – Mường – Dao thuộc hai xã Tản Lĩnh và Vân Hòa trong ngày lễ Tiệc Chúa (19/9 âm lịch).
- Đánh giá khách quan tác động hai mặt của tín ngưỡng đối với kinh tế – xã hội địa phương sau khi đền được công nhận di tích cấp thành phố năm 2015, chỉ rõ các biểu hiện lệch lạc nảy sinh từ việc thương mại hóa.
Về đóng góp, tác giả đã tự xác định công trình là nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tiếp cận tín ngưỡng thờ Mẫu tại huyện Ba Vì dưới góc độ khoa học chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học kết hợp văn hóa học. Nghiên cứu đã bổ sung cứ liệu thực địa về thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở vùng bán sơn địa vào kho tàng nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam, đồng thời đưa ra các kiến nghị mang tính ứng dụng thực tiễn cho cơ quan quản lý văn hóa huyện Ba Vì.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài được tác giả tự nhìn nhận trong phần Lời cảm ơn và Mở đầu: do điều kiện hạn hẹp về thời gian khảo sát thực địa và sự hạn chế nhất định về dung lượng kiến thức chuyên sâu của sinh viên, khóa luận chưa thể bao quát toàn bộ các cơ sở thờ Mẫu khác trên địa bàn huyện mà chỉ tập trung sâu vào một trường hợp nghiên cứu điển hình là đền Đá Đen. Bên cạnh đó, tư liệu điều tra định lượng và phỏng vấn sâu các tầng lớp nhân nhang, thanh đồng còn ở mức độ khái quát.
Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản gợi mở việc mở rộng phạm vi khảo cứu sang các di tích thờ Mẫu khác thuộc vùng chân núi Ba Vì (như đền Hạ, đền Trung, đền Bố, đền Chúa Thoải), cũng như nghiên cứu sâu hơn về sự biến đổi của nghi lễ lên đồng dưới tác động của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn hiện nay.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tôn giáo học, Văn hóa học, Lịch sử và Việt Nam học khi tìm kiếm tư liệu thực địa về tín ngưỡng dân gian vùng Xứ Đoài.
- Cán bộ quản lý văn hóa tại huyện Ba Vì và thành phố Hà Nội trong công tác quản lý di tích, tổ chức lễ hội và định hướng bảo tồn các giá trị di sản văn hóa phi vật thể liên quan đến Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt.
- Những người làm đề tài nghiên cứu về Mẫu Thượng Ngàn, truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh, và mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các tộc người Kinh, Mường, Dao tại khu vực bán sơn địa Bắc Bộ.
Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản gồm Tiết 1 của Chương 2 (khảo tả chi tiết đồ lễ Sơn Trang, bài văn khấn và huyền tích hòn Đá Đen) và hệ thống dữ liệu kinh tế – xã hội của huyện Ba Vì được tổng hợp ở Chương 1.
Câu hỏi thường gặp
1. Đền Đá Đen thờ vị thần chủ nào và có mối liên hệ ra sao với truyền thuyết Tản Viên Sơn Thánh?
Đền Đá Đen (xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì) tôn thờ Thánh Mẫu Ma Thị Cao Sơn – Bà Chúa Thượng Ngàn. Theo huyền tích trình bày trong khóa luận, bà Ma Thị là người mẹ nuôi (dưỡng mẫu) đã cưu mang Nguyễn Tuấn (Sơn Tinh) khi mồ côi cha từ năm 6 tuổi, dạy dỗ và dặn dò chàng sử dụng gậy thần "đầu sinh đầu tử" để cứu nhân độ thế.
2. Hòn Đá Đen thực tế có kích thước bao nhiêu và bắt nguồn từ huyền tích gì?
Khối đá đen hiện nằm ở chân núi Ba Vì có chiều dài 53 cm, vị trí rộng nhất là 29 cm. Theo huyền tích địa phương, khi bà Ma Thị Cao Sơn ốm nặng, vì thương xót người con nuôi côi cút giữa non ngàn hiểm trở nên bà đã rơi lệ; giọt nước mắt rơi xuống đất hóa thành khối đá màu đen và lớn dần thành khối đá hiện nay.
3. Trang phục của giá hầu đồng Chúa Bà Đá Đen có điểm gì khác biệt so với các giá hầu thông thường?
Trang phục của Chúa Bà Đá Đen mang nét đặc thù thuần một màu đen duy nhất: từ áo dài, quần dài, khăn tấu hương, thắt đai lưng, thẻ ngà, kiềng bạc, vòng, hoa tai, chuỗi hạt đá màu đen, xuyến cho đến quạt.
4. Mâm lễ Sơn Trang dâng tại đền Đá Đen được bài trí theo quy thức cụ thể nào?
Mọi vật phẩm trong mâm lễ Sơn Trang đều phải chia thành 13 phần: 1 phần lớn ở giữa dâng Thánh Mẫu và 12 phần nhỏ xung quanh dâng 12 cô Sơn Trang coi 12 cửa rừng. Mâm hoa quả rừng xếp quanh búp măng tre bóc sạch luộc chín; mâm mặn bắt buộc phải có các đĩa cá nhỏ, tôm, cua, ốc luộc chín với số lượng đúng 13 con mỗi đĩa, kèm bát cơm gạo cẩm, mướp đắng, xôi nếp mùn và bánh chưng không nhân.
5. Lễ hội lớn nhất tại đền Đá Đen diễn ra vào ngày nào và có sự tham gia của các cộng đồng dân tộc nào?
Lễ hội lớn nhất trong năm tại đền Đá Đen là ngày Tiệc Chúa (Khánh đản), tổ chức vào ngày 19 tháng 9 âm lịch (ngày Thánh Mẫu về trời). Lễ tế quy tụ đội tế nữ gồm phụ nữ của cả ba dân tộc Kinh, Mường, Dao cư trú tại hai xã Tản Lĩnh và Vân Hòa.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đặng Thị Thảo đã làm rõ các vấn đề lý luận về tín ngưỡng thờ Mẫu tại Việt Nam và khảo cứu chuyên sâu trường hợp đền Đá Đen tại huyện Ba Vì. Công trình phản ánh chân thực huyền tích, hệ thống điện thần, nghi thức lễ bái đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng Ngàn, đồng thời phân tích những chuyển biến kinh tế – xã hội tại địa phương từ khi đền được xếp hạng di tích năm 2015. Trên cơ sở nhận diện cả mặt tích cực và tiêu cực, khóa luận đã đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm bảo tồn không gian thiêng và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc Ba Vì.