mở đầu bằng các nghỉ lễ long trong và thiêng liêng. Trong lịch sử đất nước, giai đoạn trước công nguyên xã hội Việt Nam có dấu tích rõ nét của sự tồn tại chế độ Mẫu hệ và Mẫu quyên. Nhưng cho tới thế kỷ X, nhà nước phong kiến được thiết lập, chế độ phụ quyền đã thay thế chế độ Mẫu quyén. Từ thời phong kiến nhà Lê, đặc biệt là nhà Nguyễn, vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như ở xã hội đã bị coi nhẹ, dân dã gọi là “nam tôn nữ ti”, qua niệm nay thể hiện thông qua luật pháp hà khắc.
Tuy nhiên trong các làng xã người dân vẫn sống theo các lề thói cô truyền, nơi đây “Phép Vua thua lệ làng”. Chế độ Mẫu hệ hình thành trước khi có mô 17 hình của nhà nước, vẫn có sự chi phối lớn đến các mối quan hệ trong gia đình, người phụ nữ vẫn giữ vai trò trong các việc nuôi con và quản lý gia đình, nhất là về mặt kinh tế. Họ đều là những: “nội tướng” hay “tay hòm chìa khóa”, người đàn ông trong gia đình thì lo những phương diện khác: “Đàn ông tậu nhà, đàn bà bán lợn”. Nếu một người đàn ông nào đó can thiệp vào chuyện quản lý gia đình thì thường bị chê là: “đo lọ nước mắn, đếm củ dưa hành”, bị cho là kẻ tiêu nhân.
Hình ảnh người phụ nữ đảm đang, tần tảo, lo toan cho cuộc sống của gia đình, chồng con cũng được xuất hiện trong văn học: “Quanh năm buôn bán ở mom sông” rồi “nuôi đủ năm con với một chồng” (bài thơ Thương Vợ, Tú Xương). Qua đó, chúng ta thấy rõ được vai trò lớn lao của người phụ nữ trong bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nào. Ngay trong cả đời sống tinh than và tâm linh, nhiều phụ nữ đã trở thành các Thần — Nữ than, trong đó có các vị đã được tôn vinh là Mẫu, Thánh Mẫu, Quốc Mẫu, Vuong Mẫu. Vậy, có thể nhìn nhận tín ngưỡng của dân gian, của dân tộc lại là “Tín ngưỡng thờ Mẫu”.
Tín ngưỡng thờ Mẫu, chứa đựng những quan niệm về một trật tự vũ trụ, thể hiện một ý thức về nhân sinh, ý thức về cội nguồn, dân tộc, lòng yêu nước được thiêng liêng hoá thành biểu tượng cao nhất là Mẫu. Đó là sự tiếp thu những anh hưởng của phong tục thờ cúng tô tiên, một tín ngưỡng có vai trò quan trọng hàng đầu trong tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Ở một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ, việc tôn thờ Nữ than, thờ Mẫu than, thờ Mẫu Tam tòa và Tứ phủ, là hiện tượng khá phổ biến có nguồn gốc lich sử và xã hội sâu xa. Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt là một tín ngưỡng bản địa có những ảnh hưởng ngoại lai từ Đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người.
Tín ngưỡng mà ở đó thần linh đã được giới tính hoá mang hình mẫu của người Mẹ, là nơi mà ở đó hình ảnh người phụ nữ Việt Nam được giải thoát khỏi những thành kiến và ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. 18 Từ các nghiên cứu tổng hợp, các nhà nghiên cứu đã hệ thống hóa tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam trên cả phương diện đồng đại và lịch đại. Trên phương điện lịch đại, tín ngưỡng thờ Mẫu hình thành và phát triển từ tục thờ Nữ thần và Mẫu thần bản địa, rồi tiếp thu những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Hoa để đạt đến đỉnh cao là tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Mẫu Tam tòa và Tứ Phủ. Tới thế kỷ XVII - XVIII, khi Mẫu Tam tòa, Tứ Phủ đã được hình thành, phát triển thì nó lại hóa tục thờ Nữ thần và có những cách thức thờ khác nhau (phụ lục 1).
Hệ thống thờ Mẫu Tam tòa và thần phả Mẫu Tam Tòa: Theo quan niệm dân gian, có các Tòa (phủ) Thánh Mẫu: mẫu Thượng ngàn, mau Thoải, mau Thượng thiên, mau Địa. Huyền thoại về mẫu Liễu Hạnh xuất hiện với quê quán, thân phận như chứng minh về sự hiện hữu của Thánh Mẫu. Sau này, mẫu Liễu Hạnh được đồng nhất với mẫu Thượng Thiên và Mẫu Địa, cho tới khi thời Mạc ngôi Tam tòa được hiểu là ba vị Thánh Mẫu: Mẫu Thượng thiên, Mẫu Sơn trang, Mẫu Thoải phủ, được mô hình hóa như sau: Nhận diện Thánh Mẫu Tam tòa Thứ tự Thánh Mẫu Thánh Mẫu Thánh Mẫu thứ hai thứ nhất thứ ba 2 1 3 Tên gọi Đệ Nhị Đệ nhat Đệ tam Sơn trang Thánh Tiên thiên Thoai phủ Mẫu Thượng thiên Thủy Cung Thánh Mẫu Thánh Mẫu Tên gọi Mẫu Mẫu Thượng thiên Mẫu tắt Thượng Ngàn | (là sự hỗn dung của Mẫu Thoai phủ 19 Thiên, Mẫu Địa và Mẫu Liễu Hạnh) Miễn cai Cai quản Cai quản và sáng tạo ra Cai quản quản vùng rừng núi ‘| vũ trụ, trời và đất vùng sông nước Là ngôi cao nhất trong tam tòa. Ngôi Thiên thần Thiên than, Nhân than | Thiên than thần Mẫu Liễu nằm trong Tứ Bắt tử của người Việt Y phuc | Y phục quyên quí,|Y phục quyền quí, đội|Y phục quyên đội mũ thiên y, | mũ thiên y, sắc Đỏ.
qu, đội mũ sắc xanh cây thiên y, sac Trắng Ngũ Ngũ hành Ngũ hành Ngũ hành hành Mộc Hỏa — Thổ Thủy Nhận diện Ngũ Vị Tôn Quan Công Đồng Tứ phủ Thứ tự 3 2 1 4 5 vị trí Quan Đệ |Quan Đệ | Quan Đệ | Quan Đệ |Quan Đệ Tam Nhị Giám | Nhất Tứ Khâm|Ngũ Tuần Sát, thượng Sai, Tranh Thién, Thién than | Thién than | Thién than | Thién than | Thién than, Y phuc Y phục|Y phục|Y phục| Y phuc| Y phục 20 màu Xanh cây |màu Đỏ |màu vàng |màu Tim Trắng Mặc sắc Mặc sắc Mặc sắc Mặc sắc Mặc sắc |phục phán | phục phán | phục phán |phục phán phục phán | quan, thêu | quan, thêu | quan, thêu | quan, thêu quan, thêu | Lân. Khoác bào, | Khoác Khoác bào, đội mũ Khoác đội mũ Ô |bào, đội bảo, đội |Ô sa, thắt bào, đội | sa, that | mũ Ô sa, | mũ Ô sa, Ngọc đới, mũ Ô sa, Ngọc đới, thắt Ngọc thắt Ngọc | di hia, một thắt Ngọc | đi hia, một | đới, đi hia, | đới, đi hia, | tay cầm hốt đới, đi hia, | tay cầm | một tay | một tay |ngà, một một tay hốt ngà lcàm hốt|lcẦm hốt | tay giơ lên, cam hốt | một tay giơ |ngà, một ngà, một [dáng ngồi ngà, một | lên, dang | tay giơ lên, | tay gio | trên ngai. tay gio lên |ngồi trên | dang ngồi |lên, dáng dáng ngồi | ngai. |ngồi trên trên ngai.
Trừ ta sat| Cai quan | Diệt bon ta} Cai quản|Cai quan quy. Thuong quan lộng | Dia Phủ, Dia Phu, Ngan quyén Dac Gio 3 | Gio 2 ngón | Gio 1 | Gio 4|Giỡờ một điểm ngón tay tay ngón tay ngón tay bàn tay nhận diện tiêu biểu Cõi giới | Thoai Phủ |Nhạcphủ | Thiên phủ | Dia phủ Thoải phủ cai quản 21 Thánh mẫu tam tòa và Tứ phủ công đồng là hai thành phần uy lực nhất trong hệ thống tín ngưỡng Tam tòa. Tứ phủ Chau bà: có chức năng giúp việc cho Thánh mẫu Tam tòa và Tứ phủ công đồng, cai quản các hàng Tiên ở các cõi giới. Chau đệ Nhất: Hóa thân của thánh Mẫu Thượng thiên — Chau quản cai Thiên phủ Chau đệ Nhị: Hóa thân của thánh Mẫu Thượng ngàn — Chau quản cai Nhạc phủ với mười hai thần nữ cai quản mười hai cửa rừng.
Chau đệ Tam: Hóa thân của Mẫu Thoải — Chau quản cai Thoai phủ Chau đệ Tứ: Chức năng Kham sai quản cai Dia Phủ. Có Tứ phủ Chau bà đại diện cho Tứ phủ (bốn cõi Thiên phủ, Địa phủ, Nhạc phủ, Thoải phủ) nhưng đến nay thì số lượng chau bà được sáng tạo lên đến 12 Châu bà. Ngoài Tứ phủ chau bà trên thì còn một số vị chau bà được nhiều người biết đến như: Chau Bé Bắc Lệ (Lạng Sơn), Chau Lục Hữu Lũng (Lang Son), Chau Mười Đồng Mỏ (Lạng Sơn), chau Thất Tiên La (Thái Binh), Chau Ngũ Suối Lân (Lạng Son), Chau Cửu Sòng Sơn (Thanh Hóa) các chau bà có xuất xứ là người dân tộc thiểu số nên trên y phục trên tượng hay trên y phục hầu đồng đều thé hiện y phục của các dân tộc thiêu số. Xuất xứ của các Chau ba thuộc Nhạc phủ như một sự đối ứng với xuất xứ của Tứ phủ Quan Hoàng thuộc Thoải phủ.
Tứ phủ Quan Hoàng: Tứ phủ Quan Hoàng đều có xuất xứ thiên thần là thái tử con Vua cha Bát Hải Long vương. Nhưng tùy theo địa phương hay tính chất thời cuộc mà Tứ phủ Quan Hoàng được gán xuất xứ là các vị tướng tài.mang tính nhân thần hơn là thiên thần, vì thế nên không gọi là Tứ phủ Quan Hoàng nữa mà dân thường gọi theo lỗi gọi gần gũi là các ông Hoàng. 22 Có mười Ông Hoàng nhưng thường có ba ông Hoàng hay giao dịch với người trần gian là: Ông Bơ, Ông Bảy, Ông Mười. Đặc điểm các ông Hoàng thường là người văn võ toàn tài, thanh nhã, y phục là áo thanh cát, đóng khăn xếp, đi hài, tay cầm quạt, dang thư nhàn.
Ông Hoàng Bo, cai quan vùng sông nước, hầu cận bên Mẫu Thoải. Y phục mặc áo thanh cát, sắc trắng thêu chữ thọ triện, ngồi thế bán già phu tọa. Đền thờ ông Bo ở Lanh Giang (Nam Hà). Ông Hoàng Bảy, cai quản vùng biên ải, là tướng đánh trận giỏi cả thủy chiến và bộ binh, y phục mặc áo thanh cát, sắc tím thêu chữ thọ triện, ngồi thế bán già phu tọa.
Đền thờ Ông hoàng Bảy ở Bảo Hà (Yên Bái). Ông Hoàng Mười, cai quản vùng Bến thủy, xuất thân là văn quan có nhiều mưu lược, tính cách phong lưu, văn hay chữ tốt. Trang phục mặc áo thanh cát, sắc vàng, ngôi thế bán già phu tọa. Đền thờ Ông hoàng Mười ở Bến Thủy (Nghệ An) với hai ngôi đền, tương truyền một nơi là nơi ông làm việc khi còn tại thế, một nơi là tưởng nhớ ông tuẫn tiết.
Tứ phủ Thánh Cô: Có mười hai cô tiên nữ hầu cận Thánh Mẫu tam tòa và Tử phủ chau Ba, có một số cô được người trần gian biết đến vì hay giáng đồng, giao dịch với người trần gian. Cô Cả Thượng thiên là thị nữ của Mẫu Thượng thiên (ít giáng đồng) Các cô sau thường giáng đồng: Cô Đôi Thượng Ngàn là thị nữ của Mẫu Thượng ngàn. Cô thường giáng đồng, tay soi đuốc, đeo giỏ, điệu bộ như hái hoa, hái măng, mặc áo người Man, hai cài dau, tính vui tươi. Đền thờ ở Cam Đường (Lào Cai) .; Cô Bơ Thodi phủ là thị nữ của Mẫu Thoải.