Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài "Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội hiện nay" được thực hiện bởi sinh viên Đặng Thị Thảo dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Thị Minh Thảo (Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, năm 2019), thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian bản địa đặc trưng, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của cư dân nông nghiệp lúa nước Việt Nam thông qua việc tôn vinh người phụ nữ và các nhân vật lịch sử có công với đất nước. Huyện Ba Vì nằm cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 60 km về phía Tây Bắc, là vùng đất bán sơn địa có truyền thống văn hóa lâu đời, nơi quần cư sinh sống của 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao. Nơi đây sở hữu mật độ di tích tâm linh dày đặc gắn liền với không gian huyền thoại núi Tản - sông Đà.

Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, các công trình khoa học tại Ba Vì chủ yếu tiếp cận huyền tích, nhân vật thờ tự hoặc khảo cứu văn hóa nói chung, chưa có công trình chuyên biệt nào đi sâu phân tích toàn diện tín ngưỡng thờ Mẫu tại đền Đá Đen (xã Tản Lĩnh) trên các phương diện không gian thờ phụng, sinh hoạt nghi lễ, thực trạng quản lý và những tác động kinh tế - xã hội đối với cộng đồng bản huyện. Do đó, việc nghiên cứu đề tài mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận văn hóa - tôn giáo lẫn thực tiễn quản lý di sản tại địa phương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Làm rõ đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen (huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội), từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị tích cực của tín ngưỡng này trong đời sống hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan cơ sở lý luận về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam và khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, không gian tín ngưỡng của huyện Ba Vì.
    2. Khảo sát, phân tích hiện trạng tín ngưỡng thờ Mẫu tại đền Đá Đen: huyền tích Chúa Đá Đen - Mẫu Thượng Ngàn, hệ thống điện thần, nghi thức thờ cúng, phong tục lễ hội và đánh giá tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) của tín ngưỡng đối với đời sống nhân dân bản huyện.
    3. Xác định phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp cụ thể nhằm gìn giữ, phát huy các yếu tố tích cực, hạn chế tiêu cực của tín ngưỡng thờ Mẫu tại đền Đá Đen.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi không gian: Không gian di tích đền Đá Đen (Hắc Thạch Linh Từ), xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát và phân tích thực trạng sinh hoạt tín ngưỡng từ năm 1990 đến năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc, bản chất và chức năng xã hội của tôn giáo, tín ngưỡng; tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước" của F. Engels khi luận giải về nguồn gốc sùng bái tự nhiên thời nguyên thủy (tục thờ Mẹ Cây, Mẹ Rừng); tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.

Về mặt chuyên ngành văn hóa - tín ngưỡng, tác giả sử dụng hệ thống khái niệm chuẩn mực:

  • Phân biệt Nữ thần, Mẫu thần và Tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Tam phủ, Tứ phủ).
  • Khung cấu trúc Tứ Phủ đại diện cho bốn miền vũ trụ: Thiên phủ (miền Trời - màu đỏ), Địa phủ (miền Đất - màu vàng), Thoải phủ (miền Sông nước - màu trắng), Nhạc phủ (miền Rừng núi - màu xanh).
  • Cốt lõi triết lý thờ Mẫu xuất phát từ sự sùng bái 4 yếu tố tự nhiên nuôi sống con người (Cây, Đất, Nước, Trời) kết hợp với triết lý âm dương "âm sinh dương thành", truyền thống tôn trọng người phụ nữ và sự tiếp biến Đạo giáo, Phật giáo theo mô hình "tiền Phật hậu Thánh".

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu liên ngành:

  • Phương pháp khảo sát thực tế (điền dã): Quan sát trực tiếp kiến trúc đền, cách bài trí điện thần, quy trình diễn xướng hầu đồng, lễ vật và hoạt động tế lễ của cộng đồng tại đền Đá Đen.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý các nguồn tài liệu thứ cấp, văn bản địa chí, thần tích, văn khấn và báo cáo kinh tế - xã hội địa phương.
  • Phương pháp phân tích - so sánh: Đối sánh dạng thức thờ Mẫu tại Ba Vì với các trung tâm thờ Mẫu ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ.
  • Phương pháp tiếp cận văn hóa vùng: Đặt di tích trong không gian văn hóa xứ Đoài và mối quan hệ giao lưu giữa ba dân tộc Kinh - Mường - Dao.

Nguồn dữ liệu

Nguồn tư liệu của khóa luận gồm:

  • Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về Đạo Mẫu của Ngô Đức Thịnh, Vũ Ngọc Khánh, Vũ Thị Tú Anh, Lê Công Sự, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Kim Hiền.
  • Cuốn sách "Di tích lịch sử văn hóa Đền Đá Đen" của Phan Thị Bảo (NXB Văn hóa Dân tộc, 2016).
  • Hồ sơ di tích khoa học, tư liệu quy hoạch Vườn quốc gia Ba Vì và số liệu thống kê phát triển kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì (giai đoạn 2005–2010).
  • Tư liệu điền dã thực tế, thần tích bản đền, lời văn chầu và ghi chép phỏng vấn người dân bản địa tại xã Tản Lĩnh.

Nội dung chính theo từng chương

CẤU TRÚC KHÓA LUẬN (3 CHƯƠNG, 6 TIẾT)

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam và đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội ở huyện Ba Vì thành phố Hà Nội hiện nay

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về sự hình thành, phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu và phác thảo diện mạo tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu:

  • Lý luận về tín ngưỡng thờ Mẫu: Mẫu bắt nguồn từ việc tôn thờ các hiện tượng tự nhiên (nhiên thần) và các nhân vật lịch sử có công (nhân thần). Mẫu được tôn vinh ở 3 cung bậc: Thánh Mẫu, Quốc Mẫu, Vương Mẫu. Quá trình phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu gắn chặt với nền nông nghiệp lúa nước và bước vào giai đoạn định hình hoàn thiện vào thế kỷ XVI - XVII khi chế độ phong kiến lâm vào khủng hoảng (chiến tranh Trịnh - Mạc, Trịnh - Nguyễn), phản ánh khát vọng giải phóng thân phận của người phụ nữ. Khóa luận phân định 3 dạng thức không gian:
    • Bắc Bộ: Mô hình phát triển tuần tự từ Nữ thần $\rightarrow$ Mẫu thần $\rightarrow$ Tam phủ, Tứ phủ (thờ Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải).
    • Trung Bộ: Chủ yếu thờ Nữ thần và Mẫu thần (Thiên Y A Na, Po Nagar, Tứ vị Thánh nương, Bà Ngũ Hành), không có cấu trúc Tứ Phủ hoàn chỉnh.
    • Nam Bộ: Đan xen tiếp biến giữa lưu dân Việt với người Chăm, Khmer (thờ Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thủy Long).
Tiêu chí Bắc Bộ Trung Bộ Nam Bộ
Cấu trúc điện thần Hệ thống Tam phủ, Tứ phủ hoàn chỉnh Nữ thần, Mẫu thần bản địa (Thiên Y A Na, Po Nagar) Dung hợp đa dạng (Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Ngũ Hành)
Nhân vật trung tâm Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn Thiên Y A Na (Chăm hóa Việt) Bà Chúa Xứ Núi Sam, Linh Sơn Thánh Mẫu
Nghi thức điển hình Lên đồng 36 giá, hát chầu văn Lễ hội Tháp Bà, hát múa bóng Vía Bà Chúa Xứ, lễ hội Miếu Bà
  • Đặc điểm huyện Ba Vì: Huyện có diện tích $424\text{ km}^2$, dân số khoảng 265.000 người gồm 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao sinh sống tại 31 xã, thị trấn (tái nhập Hà Nội tháng 8/2008 theo Nghị quyết 15 của Quốc hội khóa XII). Khí hậu chia 2 mùa rõ rệt: mùa mưa (tháng 4–10, nhiệt độ trung bình $23^\circ\text{C}$, lượng mưa $1.832,2\text{ mm}$ chiếm $90,87%$ cả năm) và mùa khô (tháng 11–3, nhiệt độ trung bình $20^\circ\text{C}$, lượng mưa tháng 12 thấp nhất đạt $15\text{ mm}$). Tài nguyên rừng có $10.724,9\text{ ha}$ (rừng đặc dụng $6.246\text{ ha}$, rừng sản xuất $4.400,4\text{ ha}$, rừng phòng hộ $78,4\text{ ha}$) thuộc Vườn quốc gia Ba Vì với 812 loài thực vật bậc cao (có Bách xanh, Thông đỏ trong Sách đỏ Việt Nam) và 44 loài thú, 104 loài chim.
  • Kinh tế - xã hội Ba Vì (đến năm 2010): Tổng giá trị sản xuất đạt 9.116 tỷ đồng, giá trị tăng thêm 4.311 tỷ đồng (tăng trưởng 16%). Nông nghiệp đạt sản lượng chè 12.800 tấn/năm; công nghiệp có 2 cụm công nghiệp (Cam Thượng, Đồng Giai) và 12 làng nghề; du lịch đón 1,5 triệu lượt khách với doanh thu 70 tỷ đồng. Toàn huyện có 18 trường chuẩn quốc gia, 30/31 xã đạt chuẩn y tế.
  • Mạng lưới di tích thờ Mẫu tại Ba Vì: Phân bố tại hệ thống đền (Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ, Đình Tây Đằng, Đền Và, Đền Bố, Đền Đá Đen, Đền Chúa Thoải) và phối thờ trong các chùa (Chùa Thông, Chùa Mía, Chùa Tây Phương, Chùa Thầy, Chùa Tản Viên, Chùa Khai Nguyên). Đền Đá Đen (xã Tản Lĩnh) thờ Thánh Mẫu Ma Thị Cao Sơn (Bà Chúa Thượng Ngàn - Dưỡng Mẫu của Đức Thánh Tản Viên), được xếp hạng Di tích lịch sử cấp thành phố ngày 28/8/2015.

Chương 2: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen và những ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen đối với đời sống nhân dân bản huyện

Chương 2 là nội dung khảo cứu thực chứng trọng tâm của đề tài:

  • Huyền tích Chúa Đá Đen - Mẫu Thượng Ngàn: Thân mẫu sinh thành của Đức Thánh Tản Viên (Nguyễn Tuấn) là bà Đinh Thị Đen (Đinh Thị Duyên). Khi mang thai, bà ra giếng nước (sâu 3–4m không bao giờ cạn) gặp rồng vàng, mang thai 14 tháng mới sinh con. Lên 6 tuổi mồ côi cha, Nguyễn Tuấn cùng mẹ nương nhờ bà họ Ma (Ma Thị Cao Sơn - tù trưởng giàu có, nhân từ vùng núi Tản). Bà Ma Thị nhận chàng làm con nuôi. Năm 12 tuổi, Nguyễn Tuấn đốn củi gặp Tử Vi thần tướng Bạch Tuyết ban cho cây gậy thần "đầu sinh đầu tử", được mẹ nuôi căn dặn dùng gậy cứu người nghèo khó và giúp giang sơn xã tắc. Sau này, khi bà Ma Thị lâm bệnh nặng qua đời, vì thương xót con côi cút giữa non ngàn hiểm trở, giọt nước mắt của bà rơi xuống hóa thành khối đá đen lớn dần. Hiện nay, hòn Đá Đen nằm ở chân núi Ba Vì có kích thước dài $53\text{ cm}$, nơi rộng nhất $29\text{ cm}$. Đền được lập mang tên Hắc Thạch Linh Từ.
Thành phần điện thần Vị trí / Nhân vật thờ phụng Đặc điểm trang phục & Chức năng
Chính điện (Thượng ban) Tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn) Cai quản ba miền Trời, Nước, Rừng núi
Trung ban Đức Chúa Bà Bản Đền (Bà Chúa Đá Đen - Ma Thị Cao Sơn) Trang phục màu đen toàn bộ; ban phúc, trừ tà
Hậu cung Động Tiên thờ Tam tòa Chúa Tiên Không gian hang động thanh tịnh
Ban Ngũ vị Quan Lớn Quan Đệ Nhất đến Quan Đệ Ngũ Thực thi hiệu lệnh Tam Tứ Phủ (áo đỏ, xanh, trắng, vàng, lam)
Ngoại điện & Hạ ban Lầu Cô, Lầu Cậu (12 Cô, 12 Cậu), Năm dinh Quan lớn cửa rừng, Ngũ Hổ, Ông Lốt (Thanh Xà, Bạch Xà) Trấn giữ năm phương, quản lý cửa rừng, bảo vệ bờ cõi đền điện
  • Nét độc đáo trong nghi thức và lễ vật:
    • Trang phục giá hầu Chúa Bà Đá Đen: Toàn bộ trang phục mang sắc đen tuyền (áo dài đen, quần đen, khăn tấu hương, đai lưng, thẻ ngà, kiềng bạc, chuỗi hạt đá đen, quạt đen) tượng trưng cho giọt lệ hóa đá huyền tích.
    • Cơ cấu lễ vật Sơn Trang: Mâm quả rừng được xếp quanh búp măng tre luộc chín đặt chính giữa; cỗ mặn chia chuẩn xác thành 13 phần (1 phần lớn dâng Thánh Mẫu, 12 phần nhỏ dâng 12 cô Sơn Trang coi 12 cửa rừng); đĩa cá, tôm, cua, ốc suối luộc chín đều đủ 13 con mỗi đĩa; kèm bát cơm gạo cẩm, mướp đắng, bánh chưng không nhân và xôi nếp mùn.
    • Mâm lễ Tứ Phủ: Bày 4 mâm theo 4 màu (xanh, đỏ, trắng, vàng), mỗi mâm gồm 9 quả trứng, 1 lược, 1 quạt, 1 đôi guốc, 9 vuông vải màu tương ứng, 1 hình nhân và 4 lốt.
  • Lễ hội đền Đá Đen: Mỗi năm có 4 kỳ lễ hội: ngày 8 tháng Giêng (Lễ Thượng nguyên), ngày 8 tháng 4 (Lễ Vào hè), ngày 8 tháng 7 (Lễ Ra hè), và đại lễ 19 tháng 9 âm lịch (Tiệc Chúa Khánh Đản - ngày Thánh Mẫu về trời). Lễ hội có sự phối hợp thực hiện của đội tế nữ 3 dân tộc Kinh - Mường - Dao thuộc hai xã Tản Lĩnh và Vân Hòa. Quy trình chuẩn bị diễn ra từ ngày 18/9 (đồng bào Mường lấy nứa non, giã nếp nương đồ cơm lam; thủ nhang làm lễ cáo tế) đến ngày 19/9 (dâng lễ mặn, hòa tấu cồng chiêng Mường, kèn Dao, đàn nhị Kinh, tế lễ và tổ chức diễn xướng hầu đồng).
  • Đánh giá tác động đến đời sống bản huyện:
    • Ảnh hưởng tích cực: Thúc đẩy du lịch tâm linh liên kết chuỗi danh thắng Ba Vì (Ao Vua, Khoang Xanh, Suối Tiên, Hồ Tiên Sa), tạo việc làm, tiêu thụ nông lâm sản, mở rộng hạ tầng giao thông liên xã; củng cố khối đại đoàn kết 3 dân tộc Kinh - Mường - Dao, phát huy đạo lý hiếu nghĩa và giáo dục ý thức hướng thiện.
    • Ảnh hưởng tiêu cực: Tình trạng thương mại hóa dịch vụ, chèo kéo ép giá khách thập phương; đốt vàng mã quá mức gây ô nhiễm và nguy cơ cháy nổ; phát sinh các biểu hiện mê tín dị đoan (bói toán, xóc thẻ, xin xăm, khấn thuê, dâng sao giải hạn trục lợi) và tệ nạn cờ bạc, trộm cắp mùa lễ hội làm ảnh hưởng trật tự trị an.

Chương 3: Một số định hướng và giải pháp trong việc giữ gìn, phát huy những yếu tố tích cực của tín ngưỡng thờ Mẫu ở đền Đá Đen huyện Ba Vì hiện nay

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ đường lối quản lý văn hóa của Đảng và thực trạng tại địa bàn:

  • Hệ thống định hướng cơ bản:
    • Quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn liền với Luật Di sản văn hóa.
    • Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, gắn bảo tồn di tích với phát triển kinh tế - du lịch bền vững.
    • Kiên quyết loại bỏ các hủ tục, hành vi lợi dụng tín ngưỡng để hoạt động mê tín dị đoan, thương mại hóa, trục lợi bất chính.
  • Các nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Nâng cao nhận thức cộng đồng: Tuyên truyền sâu rộng cho nhân dân và du khách về giá trị lịch sử - văn hóa đích thực của đền Đá Đen và tín ngưỡng thờ Mẫu; phân biệt rõ nét đẹp thực hành di sản với các hành vi mê tín dị đoan.
    2. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước: Hoàn thiện quy chế quản lý di tích cấp thành phố; thành lập ban quản lý lễ hội liên ngành (văn hóa, công an, y tế); quản lý chặt chẽ nguồn tiền công đức và các khoản đóng góp xã hội hóa công khai, minh bạch.
    3. Quy hoạch không gian và bảo vệ môi trường: Bố trí khu vực dâng hương, hóa vàng mã riêng biệt, an toàn; quy hoạch khu vực kinh doanh dịch vụ hàng quán, bãi đỗ xe trật tự; ngăn chặn tình trạng xả rác bừa bãi và nguy cơ cháy rừng mùa khô.
    4. Quản lý thực hành nghi lễ: Chấn chỉnh việc thực hành nghi lễ lên đồng (hầu bóng), kiểm soát việc rải tiền lẻ, đốt đồ mã tràn lan; bảo tồn diễn xướng chầu văn chuẩn mực và nghi thức tế lễ truyền thống của đồng bào Kinh - Mường - Dao.
    5. Liên kết phát triển du lịch văn hóa sinh thái: Xây dựng tour tuyến kết nối đền Đá Đen với quần thể di tích đền Thượng, đền Trung, đền Hạ, chùa Mía và các khu du lịch sinh thái Ao Vua, Khoang Xanh - Suối Tiên nhằm nâng cao thu nhập cho cư dân địa phương.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu cụ thể:
    • Hệ thống hóa toàn bộ cứ liệu lịch sử và dân gian về đền Đá Đen: xác định rõ niên đại công nhận Di tích lịch sử cấp thành phố (ngày 28/8/2015), vị trí địa lý tại xã Tản Lĩnh và thông số thực tế của khối đá đen ($53\text{ cm}\times 29\text{ cm}$).
    • Khảo tả chi tiết cấu trúc điện thần đặc thù với vị trí trung tâm của Thánh Mẫu Ma Thị Cao Sơn cùng hệ thống đồ lễ Sơn Trang mang tính biểu trưng cao (cơ cấu số lượng 13 phần và 13 con thủy sản).
    • Ghi nhận và phân tích quy trình tổ chức 4 ngày hội trong năm, đặc biệt là đại lễ Tiệc Chúa (19/9 âm lịch) - mô hình liên kết văn hóa cộng đồng giữa 3 tộc người Kinh - Mường - Dao.
  • Đóng góp của đề tài:
    • Đây là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên về tín ngưỡng thờ Mẫu tại đền Đá Đen dưới góc độ Chủ nghĩa xã hội khoa học kết hợp văn hóa học.
    • Cung cấp nguồn tư liệu điền dã thực chứng phục vụ công tác quản lý di sản cho Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì và xã Tản Lĩnh trong việc xây dựng phương án bảo tồn di tích gắn với phát triển du lịch.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu khu biệt tại một điểm di tích cụ thể (đền Đá Đen, xã Tản Lĩnh) trong giai đoạn từ 1990 đến 2019; các số liệu thống kê kinh tế - xã hội tổng hợp dừng ở mốc năm 2010; chưa tiến hành điều tra xã hội học định lượng diện rộng về mức độ chi tiêu và thành phần xã hội của du khách hành hương.
  • Hướng mở tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh tín ngưỡng thờ Mẫu tại đền Đá Đen với các di tích thờ Mẫu Thượng Ngàn khác trong vùng văn hóa xứ Đoài (như đền Đông Cung, đền Nam Cung, đền Bố); nghiên cứu sâu hơn về sự biến đổi của nghi lễ lên đồng trong bối cảnh di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được UNESCO vinh danh.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Giảng viên, sinh viên, học viên cao học các chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, Triết học, Tôn giáo học, Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam và Quản lý văn hóa.
  • Phần nội dung giá trị nhất:
    • Tư liệu điền dã ở Tiết 2.1 về huyền tích Ma Thị Cao Sơn, cấu trúc bài trí điện thần, văn khấn Chúa Bà Đá Đen và quy chuẩn đồ lễ Sơn Trang 13 phần.
    • Bức tranh thực tế về sự cố kết văn hóa giữa người Kinh, Mường, Dao trong lễ hội ngày 19 tháng 9 âm lịch.

Câu hỏi thường gặp

1. Vị thần chủ được tôn thờ tại đền Đá Đen là ai và có mối quan hệ như thế nào với Đức Thánh Tản Viên?

Đền Đá Đen (xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì) tôn thờ vị thần chủ là Thánh Mẫu Ma Thị Cao Sơn (Bà Chúa Thượng Ngàn). Theo thần tích lưu truyền tại địa phương, bà là một tù trưởng giàu có, nhân từ vùng núi Tản, là mẹ nuôi (Dưỡng Mẫu) có công chăm sóc, nuôi dưỡng chàng thanh niên Nguyễn Tuấn (Tản Viên Sơn Thánh) thành tài và căn dặn chàng dùng gậy thần làm việc thiện giúp dân cứu nước.

2. Khối đá đen tại đền có nguồn gốc huyền tích và kích thước thực tế như thế nào?

Theo huyền tích, khi bà Ma Thị lâm bệnh nặng qua đời, vì xót thương người con nuôi côi cút giữa núi rừng hiểm trở, bà đã nhỏ lệ xuống cõi trần; giọt nước mắt rơi xuống đất hóa thành đá màu đen và lớn dần lên. Hiện nay, hòn Đá Đen nằm ở chân núi Ba Vì có kích thước dài $53\text{ cm}$ và nơi rộng nhất đạt $29\text{ cm}$.

3. Mâm lễ Sơn Trang dâng cúng tại đền Đá Đen có quy cách đặc thù nào?

Lễ Sơn Trang dâng Mẫu Ma Thị Cao Sơn và Cô Chín Thượng Ngàn gồm: mâm hoa quả rừng xếp quanh búp măng tre luộc chín đặt ở giữa; cỗ mặn chia làm 13 phần (1 phần lớn ở giữa dâng Mẫu, 12 phần nhỏ xung quanh dâng 12 cô Sơn Trang coi 12 cửa rừng); các đĩa cá, tôm, cua, ốc suối luộc chín đều có số lượng đúng 13 con mỗi đĩa; cùng với bát cơm gạo cẩm, mướp đắng, bánh chưng không nhân và xôi nếp mùn.

4. Điểm khác biệt nổi bật trong trang phục hầu đồng giá Chúa Bà Đá Đen là gì?

Khác với các giá đồng khác trong Tứ Phủ mang màu sắc theo phủ (đỏ, xanh, trắng, vàng), riêng giá Chúa Bà Bản Đền Đá Đen sử dụng toàn bộ trang phục màu đen: từ áo dài, quần dài, khăn tấu hương, thắt đai lưng, thẻ ngà, kiềng bạc, vòng tay, hoa tai đến chuỗi hạt đá đen và quạt tế lễ.

5. Lễ hội đền Đá Đen được tổ chức vào những thời điểm nào trong năm?

Hàng năm đền tổ chức 4 kỳ lễ hội chính: ngày 8 tháng Giêng (Lễ Thượng nguyên), ngày 8 tháng 4 (Lễ Vào hè), ngày 8 tháng 7 (Lễ Ra hè) và ngày 19 tháng 9 âm lịch (Tiệc Chúa Khánh Đản - ngày Thánh Mẫu về trời, ngày hội lớn nhất quy tụ các đội tế của 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Thảo đã làm sáng tỏ những giá trị lịch sử, văn hóa và thực hành nghi lễ đặc thù của tín ngưỡng thờ Mẫu tại đền Đá Đen (xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì) gắn với hình tượng Thánh Mẫu Ma Thị Cao Sơn. Công trình phân tích khách quan tác động hai chiều của hoạt động tín ngưỡng đối với đời sống kinh tế - xã hội địa phương, đồng thời chỉ ra không gian dung hợp văn hóa độc đáo giữa ba dân tộc Kinh - Mường - Dao dưới chân núi Ba Vì. Các định hướng và giải pháp do đề tài đề xuất cung cấp cơ sở tham khảo hữu ích cho công tác quản lý, bảo tồn di tích lịch sử cấp thành phố và định hướng phát triển du lịch văn hóa tâm linh bền vững tại Thủ đô Hà Nội.