phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương và 6 tiết. 7 c Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM VÀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI Ở HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 1. Một số vấn đề lý luận về tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Việt Nam “Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian, được hình thành khá sớm và tồn tại khá phổ biến ở việt nam, thể hiện sự ngưỡng mộ chân thành của con người về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình, ngoài xã hội, trong cuộc sống đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước” [14; 135]. “Danh xưng Mẫu có nghĩa là mẹ, Mẫu hay mẹ là người phụ nữ nói chung có công sinh thành, nuôi dưỡng lên con người.
Mẫu thường có nguồn gốc từ các vị thần tự nhiên (nhiên thần) như Mẫu thiên, Mẫu thoải, Mẫu địa, Mẫu thượng ngàn…và có nguồn gốc từ các nhân thần. Nhân thần có hai dạng, không có thực như mẹ Âu cơ, mẫu Liễu Hạnh và có thực như Nguyên Phi Ỷ Lan, Thái Hậu Dương Thanh Nga…Mẫu được tôn vinh ở ba cung bậc chính là: Thánh Mẫu, Quốc Mẫu, Vương Mẫu” [14; 135]. Tín ngưỡng thờ mẫu có quan hệ mật thiết với tín ngưỡng thờ nữ thần song không phải đồng nhất. Mọi Mẫu đều là nữ thần song không phải nữ thần nào cũng là Mẫu.
Tín ngưỡng thờ Mẫu được tập trung trong tín ngưỡng về Tam tòa thánh Mẫu (Mẫu tam phủ), chỉ có trong tín ngưỡng thờ Tam phủ, Tứ phủ Mẫu mới được tôn thờ làm thánh Mẫu như: Mẫu thiên, Mẫu địa, Mẫu thượng ngàn, mẫu thoải,… Việc thờ thánh Mẫu cùng với sự thăng hoa của Mẫu Liễu Hạnh đã trở thành tín ngưỡng thờ Mẫu, đó là niềm tin, sự ngưỡng mộ chân thành vào sự tồn tại và khả năng cứu giúp của Mẫu đối với con người. Quá trình hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam Cũng giống như các loại hình tín ngưỡng khác, tín ngưỡng thờ Mẫu là sự phản ánh đời sống xã hội của con người. Đời sống xã hội là yếu tố mang tính khách quan, có vai trò quyết định ảnh hưởng tới quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của tí ngưỡng thờ Mẫu. * Về điều kiện địa lí tự nhiên ảnh hưởng đến quá trình hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam: “Điều kiện tự nhiên (bao gồm các điều kiện về đất, nước, khí hậu, khoáng sản…) được hiểu là môi trường sinh thái để con người tồn tại và phát triển” [14; 8 c 136].
Điều kiện tự nhiên chính là không gian cho con người lao động và sinh sống. Con người luôn chịu những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực từ tự nhiên. Tự nhiên mang lại sự sống cho con người, song cũng chính tự nhiên lấy đi sự sống của con người, sẵn sàng lấy đi tất cả những gì đã mang lại cho họ. Tự nhiên không chỉ ảnh hưởng đến đời sống vật chất mà còn ảnh hưởng đến sự hình thành, tồn tại và phát triển của văn hóa, ảnh hưởng tới đời sống, cách ứng xử, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo.
“Việt nam là một quốc gia ở vùng Đông Nam Á, có địa hình đồng bằng, rừng núi, ven biển và hải đảo. Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nắng lắm và mưa nhiều với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông trong đó có hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa. Điều đó góp phần tạo nên sắc thái riêng biệt của nơi cư trú, các thiết chế xã hội, thói quen, tâm lí và các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo” [14; 136,137]. * Về điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng tới sự hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam: “Cơ sở kinh tế xã hội của xã hội Việt Nam dựa trên nền sản xuất nông nghiệp là chính.
Trong sản xuất nông nghiệp con người bị phụ thuộc khá nhiều vào tự nhiên” [14; 137]. Để sản xuất nông nghiệp con người phải: “Trông trời, trông đất, trông mây Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm” [14; 137]. Nhiều khi không hiểu được những thuận lợi và khó khăn do tự nhiên mang lại, con người thường thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên gắn cho chúng một sức mạnh siêu nhiên, điều đó làm xuất hiện tín ngưỡng thờ các vị thần, trong đó có việc thờ các nữ thần: Tín ngưỡng thờ thần mặt trời, mặt trăng, tín ngưỡng thờ tứ pháp: Pháp Vân, Pháp Điện, Pháp Lôi, Pháp Vũ. Trong cuộc sống của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, vai trò của người phụ nữ được đề cao.
Người phụ nữ tham gia hầu hết các công việc đồng áng, từ cấy lúa, chăm sóc, bón phân đến gặt, đập lúa, say lúa… trong gia đình lại là “Nội tướng” người tay hòm chìa khóa. Ông cha ta đã dạy rằng “Của chồng công vợ”. Trong dân gian cũng có những câu truyền tụng từ bao đời nay như “ Nhất vợ nhì giời”, “Lệnh ông không bằng cồng bà” hay “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng”… ý muốn tôn vinh vai trò của người phụ nữ. 9 c “Người phụ nữ còn có vai trò quan trong trong việc nuôi dạy con cái cho nên mới có câu “Phúc đức tại Mẫu”, “Con dại cái mang” [14; 137].
Như vậy, trong gia đình người phụ nữ luôn là người “Giữ lửa”, họ không chỉ đảm đang tháo vát trong công việc nhà mà còn giỏi giang trong công việc đồng áng và khéo léo trong việc nuôi dạy con cái. Không chỉ có thế, trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc có nhiều người phụ nữ có tài, có đức, anh hùng bất khuất, khi sống thì thông minh tuyệt đỉnh, khi thác xuống thì liêng thiêng ngàn đời được nhân dân khắp nơi tôn thờ như: Hai Bà Trưng, Thái Hậu Dương Vân Nga, Nguyên Phi Ỷ Lan… 1. Quá trình phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam Thờ Mẫu ở Việt Nam không phát triển theo các giai đoạn lịch sử nhất định, mà từ khi hình thành đến nay hầu như nội dung và hình thức thờ Mẫu không có quá nhiều biến đổi. “Ngay từ khi mới hình thành, tín ngưỡng thờ Mẫu đã chịu ảnh hưởng khá mạnh của đạo giáo.
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu ta thấy có nhiều yếu tố của đạo giáo, con người có xu hướng vô vi hòa đồng với tự nhiên, các vị thần của Đạo giáo được thờ cúng trong phủ như: Ngọc Hoàng, Thái Thượng lão quân, Nam Tào, Bắc Đẩu, cùng với vô số các vị thần tiên huyền ảo, các pháp thuật phù thủy, lên đồng” [14; 138]. Tín ngưỡng thờ Mẫu được hoàn thiện dưới ảnh hưởng trực tiếp của hoàn cảnh kinh tế xã hội và văn hóa Việt Nam thế kỉ XVI – XVII [ 14; 138]. Vào thời kì này xã hội phong kiến Việt Nam lâm vào khủng hoảng sâu sắc về mọi mặt. Các cuộc chiến tranh xung đột tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Trịnh - Mạc, Trịnh - Nguyễn và thiên tai mất mùa liên tiếp xảy ra đã làm cho nền kinh tế suy thoái, đời sống các tầng lớp nhân dân vô cùng khổ cực.
Đạo đức phong kiến không còn được như trước. Nhân nghĩa của Nho giáo bị coi thường. Ý thức hệ nho giáo tỏ ra bất lực trước thời cuộc. “Các nhà Nho có tâm, có tài như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ cũng tỏ ra mệt mỏi, buông xuôi, chủ trương xa lánh thời cuộc.
Nhân dân lao động có xu hướng tìm hướng giải thoát trong tín ngưỡng dân gian và các tôn giáo. Song Phật cũng không thể giúp được họ lên cõi niết bàn, thần tiên không thể giúp họ thoát khỏi nỗi khổ trần gian. Trong số các tầng lớp người trong xã hội phong kiến thời kì này thì người phụ nữ bị chà đạp, vùi dập nhiều nhất. Tâm lí chán chường bi quan và bế tắc của họ được phản ánh qua các nhân vật trong các nhân vật trong văn học như Thúy Vân, Thúy Kiều, Thị Kính, Ngọc Hoa” [14; 139].
10 c Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ ra đời, một mặt là biểu hiện sự phản kháng của các tầng lớp nhân dân nói chung và người phụ nữ nói riêng đối với chế độ phong kiến thối nát, bất công, mặt khác cũng là sự phát triến kế thừa truyền thống trọng nữ của người Việt Nam. “Sự ra đời của tín ngưỡng thờ Mẫu là tấm gương phản chiếu sự suy tàn của chế độ phong kiến và ý thức hệ tư tưởng phong kiến. Nó nói lên ý thức đấu tranh chống lại trật tự phong kiến - nguyên nhân làm cho con người nói chung và phụ nữ nói riêng phải sống cuộc đời đau khổ, bất hạnh, phản ánh khát vọng về tự do hướng thiện, về cuộc sống bình đẳng hạnh phúc của con người. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trước đó được thể hiện tập chung trong Mẫu Liễu Hạnh.
Trong hình tượng Mẫu Liễu Hạnh có đầy đủ các đức tính tốt đẹp của người phụ nữ: Yêu chồng, thương con, đảm việc nhà, việc nước, kính trọng cha mẹ” [14; 139] * Các dạng thức thờ Mẫu đang tồn tại ở Việt Nam: Về phương diện đồng đại, đạo Mẫu theo chân người Việt di cư vào phương nam trong quá trình nam tiến. Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã giao thoa, tiếp biến với các tục thờ Mẫu của người Chăm, người Khmer, người Lào từ đó tạo nên các dạng thức địa phương của Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam ở ba miền Bắc bộ, Trung bdộ và Nam bộ. Thứ nhất, là thờ Mẫu ở Bắc bộ Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Ỷ Lan, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương,. Đây là mô hình mang tính nội tại và có sự phát triển tuần tự đó là từ thờ Nữ thần, Mẫu thần đến Mẫu Tam phủ, Tứ phủ.
Từ khoảng thế kỷ 15 trở đi, hình thức thờ mẫu Tam phủ, Tứ phủ được định hình và phát triển mạnh, đây cũng là thời kỳ xuất hiện các nhân vật như Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Cô Đôi Thượng Ngàn,. với các nghi thức ảnh hưởng từ Đạo giáo.