CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Định hướng đổi mới chương trình môn Toán trung học phổ thông các quốc gia phải có một nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại thì mới tiếp cận nhanh vào cuộc cách mạng công nghiệp này. Vì thế, ngay từ trên giảng đường đại học, nhà trường, các thầy cô giáo phải giúp cho sinh viên tích lũy tri thức về công nghệ thông tin, cập nhật kịp thời và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất của thế giới vào cuộc sống, trang bị ngoại ngữ và các kỹ năng mềm thì các bạn sinh viên khi ra trường mới có cơ hội cạnh tranh việc làm, mở ra cánh cửa để bước vào sân chơi toàn cầu hóa. Giáo dục là một trong những lĩnh vực chịu sự tác động trực tiếp, chịu sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp nhanh hơn các lĩnh vực khác bởi chính giáo dục cũng sẽ tạo ra những phiên bản mới 12 z nghiệm hay phòng mô phỏng truyền thống, thì người học có thể tương tác trong điều kiện như thật, có thể trải nghiệm học tập bằng không gian ảo thông qua các phần mềm và hệ thống mạng.
Dữ liệu lớn (Big data) sẽ là nguồn dữ liệu vô tận để thu thập thông tin, phân tích, nhận dạng xu hướng hay dự báo kinh doanh ở mức chính xác cao và cũng để học tập trải nghiệm. Tài nguyên học tập số trong điều kiện kết nối không gian ảo và thực sẽ vô cùng phong phú, không gian thư viện không còn là địa điểm cụ thể nữa, mà thư viện có thể khai thác ở mọi thời điểm, mọi nơi chỉ cần có một thiết bị số và một vài thao tác đơn giản. Chương trình học cũng được thiết kế cụ thể, gần gũi, thực tiễn, đa dạng hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học. Theo định hướng về nội dung giáo dục [4], ở chương trình giáo dục phổ thông mới, môn Toán là môn học bắt buộc và được phân chia theo hai giai đoạn là giáo dục cơ bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp.
Bên cạnh nội dung giáo dục cốt lõi, trong mỗi năm, học sinh còn được chọn học một số chuyên đề về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội. Các chuyên đề này nhằm tăng cường kiến thức về các môn khoa học nói chung, về Toán học nói riêng, giúp cho học sinh có các kỹ năng vận dụng kiến thức khoa học 13 z vào thực tiễn, đáp ứng nhu cầu, sở thích và định hướng nghề nghiệp của học sinh. Chương trình môn Toán bảo đảm yêu cầu cụ thể, phân hoá được với tất cả các cấp học:Tăng cường dạy học theo định hướng cá thể hoá người học, đáp ứng yêu cầu cần đạt chung của chương trình, đồng thời cũng phải chú ý tới các đối tượng có nhu cầu đặc biệt (khuyết tật, năng khiếu. Đối với cấp trung học phổ thông: Thiết kế hệ thống các chuyên đề học tập có các nội dung cơ bản, chuyên sâu, gần gũi, thực tế giúp học sinh tăng cường kiến thức, kỹ năng thực hành, vận dụng để giải quyết các vấn đề gắn với thực tiễn của địa phương mình đang sinh sống.
Lí luận về dạy học tích hợp 1. Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp Tích hợp là một vấn đề đã và đang có sức thu hút, sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà giáo dục và nghiên cứu trong nước ta hiện nay. Tuy nhiên, khái niệm này đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, sử dụng rộng rãi và khái niệm này cũng vốn có từ lâu. + Theo Từ điển Tiếng Việt [15]: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng.
Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”. + Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [11]: “Tích hợp hệ thống là phối hợp các thiết bị và công cụ khác nhau để cùng làm một việc với nhau trong một hệ thống – Một chương trình nhằm giải quyết những nhiệm vụ chung nào đó”. + Theo Từ điển Giáo dục học [10]: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”. + Theo Xaviers Roegirs [22]: Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành 15 z ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động, phục vụ cho quá trình học tập trong tương lai.
Như vậy, DHTH là dạy cho học sinh cách sử dụng tổng hợp kiến thức và kỹ năng của mình để giải quyết các nhiệm vụ học tập và ứng dụng trong những tình huống cụ thể với mục đích phát triển năng lực người học. Mục tiêu của dạy học tích hợp Theo Xavier Rogiers [22] “Nếu nhà trường chỉ quan tâm dạy cho học sinh các khái niệm một cách rời rạc, thì nguy cơ sẽ hình thành ở học sinh các suy luận theo kiểu khép kín, sẽ hình thành những con người “mù chức năng”, nghĩa là những người đã lĩnh hội kiến thức nhưng không có khả năng sử dụng các kiến thức đó hàng ngày”. DHTH có các mục tiêu cơ bản sau [1]: - Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa và gần gũi với học sinh bằng cách hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống, gắn học tập với các tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp sau này, gắn học tập với thực tiễn cuộc sống hàng ngày. 16 z tin càng phong phú, đa dạng thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy học sinh mới thực sự làm chủ được kiến thức đã được lĩnh hội và sẽ vận dụng được kiến thức đã học khi gặp một tình huống bất ngờ, chưa từng gặp trong cuộc sống hàng ngày hoặc là một tri thức mới.
Các đặc trưng cơ bản của dạy học tích hợp DHTH có những đặc điểm sau đây [1]: 17 z 1. Các nguyên tắc lựa chọn nội dung tích hợp Lựa chọn nội dung tích hợp ở phổ thông cần theo các nguyên tắc sau [3]: 18 z 19 z Như vậy, có thể thấy rằng nguyên tắc của DHTH là tất cả các chủ đề đều phải có mặt từ hai môn học trở lên mà trong đó có ít nhất một nội dung nào đó liên quan đến nhau, để giải quyết một vấn đề phức hợp mà nó không thể giải quyết bởi duy nhất một môn học. Nội dung của các chủ đề tích hợp cần tiếp cận với các thành tựu khoa học kĩ thuật nhưng ở mức độ phù hợp với người học, tinh giản tri thức khoa học hàn lâm, tăng cường tri thức thực tế, tính thực hành, ứng dụng vào giải quyết các tình huống trong thực tiễn. DHTH cần đảm bảo mục tiêu hướng đến sự phát triển năng lực cho người học.
Các mức độ trong dạy học tích hợp Các mức độ tích hợp trong DHTH [21]: 20 z Trong các mức độ tích hợp nêu trên, hiện nay các giáo viên vận dụng phổ biến nhất là hình thức tích hợp liên môn. Đây là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong bài học với các kiến thức của các bộ môn khác và các kiến thức của đời sống hàng ngày mà học sinh tích lũy được, qua đó làm giúp cho học sinh phát triển nhân cách và một số năng lực được hình thành. So sánh giữa dạy học tích hợp và dạy học đơn môn 22 z sung thêm các chủ đề DHTH vừa đảm bảo được mục tiêu giáo dục mà không gây xáo trộn của việc dạy đơn môn. Vì vậy, việc DH theo chủ đề DHTH ở trường phổ thông vào một số thời điểm là thực sự cần thiết.
Dạy học theo chủ đề 1. Khái niệm về dạy học theo chủ đề Mô hình DH theo chủ đề có khả năng đáp ứng được mục tiêu giáo dục của thời kì đổi mới. Mô hình DH mới này chú trọng những nội dung học tập có tính chất tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực, lấy học sinh làm trung tâm và nội dung được tích hợp thành những chủ đề có tính thực tiễn, vì thế mô hình này đang dần thay thế cho mô hình DH truyền thống. So sánh dạy học truyền thống và dạy học theo chủ đề Bảng 1.
So sánh giữa dạy học truyền thống và dạy học theo chủ đề [8], [12]. Dạy học theo chủ đề 24 z Qua sự so sánh giữa DH theo chủ đề và DH truyền thống ta có thể thấy rằng việc DH theo chủ đề phát huy được tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh (học sinh là trung tâm của quá trình dạy học) phù hợp với xã hội hiện đại. Dạy học theo chủ đề được thực hiện rất linh hoạt, chủ động để phù hợp với trình độ của học sinh, cơ sở vật chất của nhà trường và đặc thù của từng địa phương. Khi thực hiện DH theo chủ đề học sinh lĩnh hội được kiến thức tổng hợp, đa chiều.
Kiến thức trong DH theo chủ đề gần gũi với đời sống hàng ngày, thực tiễn giúp cho học sinh có hứng thú học tập hơn và cũng thấy được ý nghĩa của việc học. Những nét đặc trưng cơ bản của dạy học theo chủ đề Các đặc trưng cơ bản của DH theo chủ đề [12] là: 1. Phân tích mối liên hệ giữa toán học và sinh học Do tính trừu tượng cao độ mà toán học có tính thực tiễn phổ dụng, có thể ứng dụng vào rất nhiều ngành khoa học: Chẳng hạn những tri thức về tương quan tỉ lệ S/V có thể được ứng dụng vào hình học, vật lí, sinh học…vì mối tương quan này phản ánh những mối liên hệ trên các lĩnh vực đó, ví dụ: tương 26 z quan tỉ lệ diện tích (S)/thể tích (V) của cơ thể sinh vật phản ánh mức độ trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản của sinh vật. Sinh học là môn khoa học tự nhiên, Sinh học trong trường phổ thông là học tập lí thuyết gắn liền với thực tiễn.
Thông qua các hiện tượng trong thực tế giúp học sinh hiểu biết các quy luật sinh trưởng, phát triển của sinh vật; từ đó giải quyết vấn đề trong thực tiễn. Toán học cung cấp nhiều công cụ đắc lực để nghiên cứu và phát triển Sinh học.