CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ TÍNH TÍCH CỰC TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Tính tích cực, tính tích cực trong hoạt động học tập từ lâu đã trở thành đề tài nghiên cứu khá hấp dẫn đối với nhiều nhà khoa học giáo dục - tâm lý trên thế giới. Các nhà khoa học đã tiếp cận nhiều phương diện khác nhau về tính tích cực, và chính vì vậy tạo ra cách nhìn sự đa dạng trong vấn đề này. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Thứ nhất, là nhóm tác giả nghiên cứu về tính tích cực, tính tích cực học tập và các thành phần của tính tích cực học tập, đó là: - Khi nghiên cứu về tính tích cực học tập - nhận thức các tác giả L.Piaget cho rằng: Dựa trên quan điểm cá nhân luôn hoạt động, không có hoạt động thì cá nhân không tồn tại trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh mình.
Chỉ có trong hoạt động thì tính tích cực cũng như tâm lý, ý thức của con người mới bộc lộ, nảy sinh, hình thành và phát triển.Rubinxtein khẳng định “bất kỳ hoạt động nào của con người cũng xuất phát từ chỗ nó là như một cá nhân, như một chủ thể của hoạt động đó” (Ruđich. Học là một hoạt động, một hành vi tích cực chứ không chỉ là tiếp nhận, có động cơ cá nhân chứ không phải không có sự khác biệt cá nhân, do xã hội quy định chứ không phải nội sinh và phụ thuộc cao độ vào phương pháp. Hoạt động học tập là một hoạt động tích cực. Bởi “sự khác biệt cơ bản giữa các quá trình thích nghi theo đúng nghĩa của nó và các quá trình tiếp thu, lĩnh hội là ở chỗ quá trình thích nghi sinh vật là quá trình “thay đổi” các thuộc tính của loài và năng lực của cơ thể và hành vi loài của cơ thể.
Quá trình tiếp thu hay lĩnh hội thì khác. Đó là quá trình mang lại kết quả là cá thể “tái tạo” lại được những năng lực và chức năng người đã hình thành trong quá trình lịch sử.” Muốn học sinh, sinh viên chuyển tri thức nhân loại thành kiến thức của bản thân thì người thầy phải tổ chức cho sinh viên tích cực tham gia vào hoạt động (Phạm Minh Hạc, 1978&Lêonchiev. Luan van 6 - Dựa vào các tư tưởng trên các nhà Tâm lý học, Giáo dục học G.Rodak … (Liên xô) đã nghiên cứu bản chất tính tích cực nhận thức, mối quan hệ giữa tính tích cực và tính độc lập nhận thức, phân loại tính tích cực nhận thức…(Aristôva.I, 1973) - Các nhà Tâm lý học, Giáo dục học phương tây tiếp thu thành tựu nghiên cứu sinh lý học, triết học, tâm lý học macxit đã coi học là một hoạt động. Trong tác phẩm “Dạy trẻ học” của mình, Robert Fisher đã giới thiệu công trình nghiên cứu 10 chiến lược dạy học.
Xuất phát từ quan điểm “những người học thành công không chỉ giàu kiến thức mà họ còn biết phải học thế nào”; mục đích của công trình là làm cho người học có tư duy để học tập có hiệu quả. Tác giả đã trình bày khung hình cho một chính sách học tập tích cực cho học sinh, sinh viên. Đặt câu hỏi; 3. Lập kế hoạch; 4.
Vẽ sơ đồ nhận thức; 6. Học tập hợp tác; 8. Tạo nên một cộng đồng học tập”. Tác giả đã nêu lên các cách thức học tập hiệu quả và một hệ thống bài tập để học sinh, sinh viên bộc lộ, hình thành, phát triển các cách thức học tập đó, một thành phần của hoạt động học tập, đó là hành động tích cực lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của nhân loại chuyển thành tâm lý, ý thức của bản thân (Robert Fisher, 2003).Jzard trong tác phẩm “Những cảm xúc của người” đã công bố công trình nghiên cứu về hệ thống thái độ của con người - thành phần không thể thiếu của tính tích cực của con người, bởi “có thể phán đoán vị trí xã hội trên bậc thang văn minh theo mức độ phổ biến tính tò mò trong các thành viên của nó, rằng sự phát triển và sự sụp đổ của các nền văn minh có liên quan ở mức độ nào đó, đến những bộ óc vĩ đại của những nền văn minh này theo đuổi khát vọng khái quát lý luận và tìm kiếm cái mới, chứ không phải là suy ngẫm những thành tựu của quá khứ” (Carroll E.
Tác giả đã trình bày ảnh hưởng chi phối của cảm xúc với ý thức, mức độ phát triển cao của tính tích cực. Tác giả còn nghiên cứu sâu sắc thành phần tâm lý quan trọng của tính tích cực của con người mà biểu hiện từ mức độ thấp là “tính tò mò” và ở mức độ cao là “khao khát nghiên cứu”, khao khát khám phá Luan van 7 cũng như tính lựa chọn trong tri giác và chú ý …Trong tác phẩm này tác giả đã tiếp thu thành tựu của các tác giả nghiên cứu về các hiện tượng trên một cách có chọn lọc, có phê phán như Freud, Tomkins, Murphy, Mc Dougall, Berlyne, Shand…(Carroll E.Jzard, 1992) - Các nhà Tâm lý học ở Đức như H. Franz… cũng đã nghiên cứu về thái độ, thái độ học tập và các biểu hiện của nó một cách công phu, cụ thể. Đặc biệt nghiên cứu của S.Franz về những biểu hiện thái độ học tập tích cực đã được công nhận và sử dụng rộng rãi đó là: 1/ trên lớp chú ý nghe giảng; 2/ học bài và làm bài đầy đủ; 3/ cố gắng vươn lên học được nhiều; 4/ không vội vàng phản ứng tiêu cực nếu có chỗ nào chưa hiểu hoặc không nhất trí với bài giảng; 5/ đảm bảo kỷ luật để học tốt; 6/ cố gắng đạt thành tích học tập tốt và nâng cao thành tích học tập của mình một cách trung thực; 7/ thích độc lập thực hiện nhiệm vụ học tập; 8/ hăng hái nhiệt tình trong giờ thảo luận và chữa bài tập; 9/ hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nghiêm túc; 10/ giữ gìn tài liệu học tập cẩn thận (Trần Hiệp, 1997 & Trần Hiệp và Đỗ Long, 1991 & Đào Lan Hương, 1999).
Thứ hai, các tác giả nghiên cứu về vấn đề hình thành tính tích cực và tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên: - V.Kôminxkaia cùng các đồng nghiệp đã tìm hiểu mối quan hệ giữa tính tích cực nhận thức và dạy học. Tính tích cực của trẻ phụ thuộc vào mức độ kiến thức. Càng hiểu biết về thế giới xung quanh và càng nắm vững các kỹ năng, kỹ xảo bao nhiêu thì trẻ càng tích cực và chủ động sáng tạo bấy nhiêu. Do đó nhà sư phạm phải biết kích thích lòng say mê hoạt động, ham hiểu biết, tính tích cực, tính sáng tạo của trẻ.Ôcôn trong cuốn “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề” cho rằng tính tích cực là lòng mong muốn hành động được nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động.
Chủ thể đã ý thức được mục đích hành động (Ôkôn V, 1976).Usinxki, nhà giáo dục Nga đề cập tới tính tích cực độc lập trong quá trình dạy học như là “Cơ sở vững chắc cho mọi sự học tập có hiệu quả” (Phạm Khắc Chương, 1997).Pôlia, trong cuốn “Sáng tạo toán học” 1977, Iu.Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào” đã cho rằng tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể (Babanxki Iu. - Geoffrey Petty (1988), “Dạy và học ngày nay”, NXB Stanley Thornes Anh Quốc. Cuốn sách có 4 phần, trong đó, tác giả dành riêng phần đầu tiên để nói về nhu cầu thực tế và tình cảm của người học. Ở phần này, tác giả đi sâu vào phân tích các cách học, các trường phái về học: 1.
Học là một quá trình tích cực và xây dựng ý nghĩa; 2. Trường phái hành vi: Khen thưởng và tạo động cơ; 3. Học tập có tính xã hội: có cái học mà không phải dạy. Dù theo trường phái nào, muốn nâng cao chất lượng dạy và học, cần phải nghiên cứu, tìm hiểu về động cơ học tập, từ đó có những biện pháp khen ngợi hay phê bình đúng mức và đúng lúc, tạo ra mối quan hệ thầy trò tích cực, có các cơ hội bình đẳng giữa giáo viên và sinh viên.Lasley II (University of Dayton), “Các chiến lược để dạy học có hiệu quả”, tài liệu tham khảo nội bộ.
Cuốn sách là một sự đúc kết tỉ mỉ, công phu và sinh động về khoa học dạy học và các kỹ năng kỹ thuật của dạy học. Tuy nhiên, dạy và học là hai mặt của một vấn đề. Khi tác giả phân tích về việc dạy, qua các ví dụ cụ thể, chúng ta còn thấy đằng sau nó là thái độ và hành vi tiếp nhận bài giảng của sinh viên. Một giáo viên có kỹ năng, kỹ thuật dạy học tốt sẽ làm cho sinh viên trở nên tích cực.
Các hoạt động giảng dạy cũng như kiến thức chuyên môn của giáo viên do đó sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới tính tích cực trong học tập của sinh viên. Như vậy, các nhà Giáo dục học và Tâm lý học đều cho rằng tính tích cực của học sinh là sự huy động các chức năng tâm lý ở mức độ cao nhằm nhận thức và cải tạo thế giới đồng thời cũng nhận thức và cải tạo chính bản thân mình. Tính tích cực học tập của học sinh chỉ có thể được nảy sinh, hình thành và phát triển trong hoạt động, và bằng hoạt động. Chính vì vậy, người học cần phải tự chiếm lĩnh và khám phá ra tri thức, từ đó tự rèn luyện, hoàn thiện bản thân dưới sự dẫn dắt, hướng dẫn của giáo viên.
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Thứ nhất, những tác giả nghiên cứu về tính tích cực, tính tích cực học tập và các thành phần của tính tích cực: - Các nhà Tâm lý học Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thuỷ, Hồ Ngọc Đại, Trần Hữu Luyến, Nguyễn Kế Hào, Bùi Văn Huệ, Ngô Công Hoàn… tiếp cận quan điểm duy vật biện chứng và hoạt động đều coi nhân cách là chủ thể có ý thức. Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách. Tính tích cực của nhân cách bao gồm các thành tố tâm lý như nhu cầu, động cơ, hứng thú, niềm tin, lý tưởng. Các thành tố tâm lý này của tính tích cực luôn tác động qua lại lẫn nhau, được thể hiện ở những hoạt động muôn màu, muôn vẻ và đa dạng nhằm biến đổi, cải tạo, thế giới xung quanh, cải tạo bản thân con người, cải tạo những đặc trưng tâm lý của mình (Phạm Minh Hạc,1996 & Nguyễn Kế Hào, 1994 & Bùi Văn Huệ, 1997 & Vũ Trọng Rỹ, 1978 & Nguyễn Quang Uẩn, et al.