Mở đầu. Lý do chọn đề tài .Tình hình nghiên cứu đề tài. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn. Mục đích nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu.
Phương pháp nghiên cứu. Nguồn tài liệu. Đóng góp của luận văn. Giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm 2001- 2005.
Yếu tố tác động đến hoạt động giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm 1986-2000. Khái quát về tỉnh Quảng Ninh. Thực trạng giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm 1986-2000. Định hướng phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng, Nhà nước và chủ trương của tỉnh Quảng Ninh.
Hoạt động của hệ thống giáo dục phổ thông giai đoạn 2001-2005. Xây dựng mạng lưới giáo dục, đảm bảo hiệu quả đào tạo. Xây dựng mạng lưới giáo dục. Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Đảm bảo các điều kiện dạy và học. Về cơ sở vật chất. Về đội ngũ giáo viên. Công tác quản lý Nhà nước về giáo dục.
Công tác xã hội hóa giáo dục. Giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm 2006- 2010. Định hướng tiếp tục phát triển giáo dục – đào tạo của Đảng và Nhà nước và nhiệm vụ của hệ thống về giáo dục phổ thông Quảng Ninh. Định hướng tiếp tục phát triển giáo dục – đào tạo của Đảng và Nhà nước.
Nhiệm vụ, mục tiêu của hệ thống giáo dục phổ thông Quảng Ninh. Hoạt động của hệ thống giáo dục phổ thông Quảng Ninh. Tiếp tục mở rộng quy mô giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo. Mở rộng quy mô giáo dục.
Nâng cao chất lượng đào tạo. Đẩy mạnh hoạt động phổ cập giáo dục. Tăng cường điều kiện dạy học, đổi mới công tác quản lý giáo dục. Tăng cường cơ sở vật chất cho giáo dục.
Chăm lo đầu tư phát triển đội ngũ giáo viên. Tích cực thực hiện đổi mới công tác quản lý Nhà nước về giáo dục84 2. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục. Một số nhận xét, đánh giá.
Giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục trong điều kiện có những thuận lợi - khó khăn mang tính đặc thù. Trong 10 năm phát triển giáo dục (2001-2010), giáo dục Quảng Ninh đã đạt được một số thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, hoạt động giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh còn có những hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đào tạo. Thách thức lớn nhất đối với giáo dục phổ thông Quảng Ninh là mức độ chênh lệch về giáo dục giữa các vùng miền.
114 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lý do chọn đề tài Quảng Ninh là một tỉnh miền núi có biên giới quốc gia trên đất liền và trên biển giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Tỉnh có nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng trong nước và thế giới với nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú. Địa mạo Quảng Ninh rất đa dạng: 2/3 là diện tích đồi núi, rừng và đất rừng, dải đồng bằng nhỏ hẹp, tỉnh có vùng biển rộng nhất trong phần Vịnh Bắc Bộ.
Tính đa dạng và đặc biệt của địa hình, địa mạo là điều kiện cho phát triển một nền kinh tế năng động, đa dạng nhiều ngành. Trong những năm đổi mới, thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, tỉnh đã chủ động hợp tác trên nhiều lĩnh vực với các địa phương, doanh nghiệp của nước láng giềng Trung Quốc, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế của tỉnh phát triển trên tất cả các lĩnh vực: công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ. Quảng Ninh lại là tỉnh nằm trong tam giác phát triển kinh tế trọng điểm phía bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh nên có vị trí đầu mối hết sức quan trọng, góp phần thúc đẩy kinh tế cho các tỉnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, muốn phát huy tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội, Quảng Ninh đặc biệt phải chú ý đến yếu tố con người, chú ý phát triển nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo một cách toàn diện để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH, HĐH).
Với sự nỗ lực, quyết tâm cao trong những năm vừa qua, ngành giáo dục và đào tạo Quảng Ninh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, quy mô trường, lớp, số người đi học ở các cấp học, ngành học đều tăng, đội ngũ giáo viên được tăng cường, công tác xã hội hóa giáo dục (XHHGD) phát triển, chất lượng đào tạo đã có những bước tiến đáng kể và ổn định. Song ngành cũng đang gặp nhiều khó khăn, nổi bật là: sự chênh lệch về nhu cầu cũng như điều kiện phát triển giáo dục và đào tạo giữa các vùng miền, sự mất cân đối cơ cấu đội ngũ giáo viên cho từng môn học, kinh phí chi cho mua sắm thiết bị dạy học hạn chế không đáp ứng nhu cầu dạy và học…. Do vậy, 1 z trước cơ hội và thách thức trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, nếu giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh không có những bước đột phá về quy mô phát triển, hiệu quả đào tạo và chất lượng giáo dục thì sẽ không thể tạo động lực cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển ổn định trong thời gian sắp tới. Năm 2001, tại Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng khẳng định: Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Ngày 28 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 201/2001/QĐ về việc phê duyệt "Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010" đã đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử phát triển giáo dục, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, tiếp tục khẳng định sự nghiệp giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là phục vụ đắc lực cho sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước. Việc nghiên cứu giáo dục tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần tổng kết thực tiễn, đúc kết kinh nghiệm, đưa ra những kiến nghị giải pháp để tiếp tục phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo ở Quảng Ninh đặc biệt là giáo dục phổ thông. Đó là chiếc cầu nối cơ bản, là cấp học mang tính nền tảng trong hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia.
Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn đó, tôi đã chọn đề tài: “Giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh 2001-2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ lịch sử. Tình hình nghiên cứu đề tài Xuất phát từ vai trò đặc biệt quan trọng của nền giáo dục trong sự nghiệp phát triển của đất nước nên đề tài về giáo dục là đề tài nhận được sự quan tâm, chú ý của nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Các công trình đề cập đến vấn đề giáo dục nói chung như: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Giáo dục thẩm mỹ cho thế hệ trẻ” của Nguyễn Chương Nhiếp, 2 z Nguyễn Ngọc Thu, Trần Thuý (Nxb Khoa học xã hội, 1996). “Những vấn đề về chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá giáo dục trung học phổ thông” của Đặng Bá Lãm, Vũ Quốc Anh, Lê Khanh.
Suy nghĩ về văn hoá giáo dục Việt Nam” của Dương Thiệu Tống (Nxb Trẻ, 2000). “Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục” của Lê Văn Giang (Nxb Chính trị Quốc gia, 2001). “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI” của Phạm Minh Hạc (Nxb Chính trị Quốc gia, 2002). “Giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển hiện đại hoá” của Vũ Ngọc Hải, Đặng Bá Lâm, Trần Khánh Đức.
“Giáo dục Việt Nam 1945 – 2010” của Đặng Bá Lãm, Bùi Đức Thiệp. Đối với giáo dục phổ thông cũng đã có một số công trình: “Mối quan hệ đặc trưng giữa sự gia tăng dân số và quy mô phát triển giáo dục phổ thông ở Việt Nam” của Đinh Thị Minh Tuyết (Luận án tiến sỹ Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2001). “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với Giáo dục phổ thông ở Hà Nội” của Nguyễn Duy Phong (Luận án tiến sỹ Kinh tế năm 2003). “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin quản lý Giáo dục phổ thông” của Vương Thanh Hương (Luận án tiến sỹ giáo dục học năm 2003).
“Một số biện pháp sử dụng nguồn lực tài chính nhằm phát triển Giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay” của Lê Xuân Trường (Luận án tiến sỹ Giáo dục học năm 2004). Các công trình trên nghiên cứu về giáo dục và đào tạo trong phạm vi cả nước, đã cung cấp cho chúng tôi những hiểu biết chung về đặc điểm, tình hình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay. Riêng về giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Ninh, thời gian gần đây đã được đề cập tới trong một số luận văn thạc sĩ như: “Những biện pháp quản lí giáo dục nhằm nâng cao trình độ học vấn cho người hưởng lợi trong dự án phát triển cộng đồng: Nghiên cứu trường hợp của dự án tỉnh Quảng Ninh” (Luận văn thạc sỹ giáo dục học, năm 2005) của Vũ thị cẩm Tú. “Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý trường THCS Huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay” (Luận văn thạc sỹ Giáo dục học năm 2009) của Hà thị thanh Thủy.
3 z “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 1996 – 2006” (Luận văn thạc sỹ năm 2009) của Ngô Thị Thu Hà…. Các công trình nghiên cứu trực tiếp về giáo dục tỉnh Quảng Ninh cũng đã giúp chúng tôi tìm hiểu một cách khái quát về tình hình giáo dục Quảng Ninh, nhưng các công trình này lại chủ yếu thuộc mã ngành giáo dục học. Công trình của Ngô Thị Thu Hà lại thuộc mã ngành lịch sử Đảng và mốc thời gian nghiên cứu cũng chỉ dừng lại đến năm 2006. Cho đến nay chưa có công trình nào thuộc mã ngành lịch sử Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống về giáo dục phổ thông ở tỉnh Quảng Ninh từ 2001 đến 2010.
Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.