CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA KHẢ NĂNG NGÔN NGỮ LÊN VIỆC GIẢI TOÁN LỜI VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 4 1. Lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ và việc học toán nói chung, việc giải toán có lời văn nói riêng 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy đã được nghiên cứu từ lâu và nhiều ngành khoa học khác nhau đã nghiên cứu mối quan hệ này như: triết học, logic học, ký hiệu học, thần kinh học, tâm lý học và ngôn ngữ học. Về mặt logic học và nhận thức luận, những nhà nghiên cứu đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác đã xem xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy là một sự thống nhất biện chứng.
Các phạm trù của tư duy và ngôn ngữ là sản phẩm của quá trình lịch sử lâu dài. Còn những người theo trường phái ký hiệu học thì đề cao quá mức vai trò của ngôn ngữ, coi ngôn ngữ như là mô hình của thế giới quy định sự nhận thức của con người và khẳng định rằng các lý thuyết khoa học và tri thức của con người chỉ là một hệ thống ký hiệu. Các nhà tâm lý học và ngôn ngữ học đã có những đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Các công trình nghiên cứu tâm lý học thần kinh đã đi sâu tìm hiểu hoạt động của các dạng ngôn ngữ trong cấu trúc não bộ.
Năm 1861, Broca cho rằng ngôn ngữ vận động được khu trú ở các phần sau của hồi trán thứ ba của bán cầu não trái. Đến năm 1873, Vecnike đã gắn một phần ba hồi thái dương phía trên của bán cầu não trái với chức năng của ngôn ngữ giác quan. Những phát hiện này đã kéo theo một số lượng đáng kể các thử nghiệm nghiên cứu tiếp thử xem những vùng nào của vỏ não tham gia vào tổ chức của ngôn ngữ và những rối loạn nào của hoạt động ngôn ngữ sẽ nảy sinh khi có những tổn thương khác nhau về khu trú của não.[43, tr 429] Các nhà tâm lý theo học thuyết học tập xã hội, lý thuyết hành vi chủ nghĩa (B.Skinner, Bandura, Whitehurst, Vasta) đã nhấn mạnh vai trò của quá trình bắt chước và củng cố trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em. Bandura phát biểu rằng trẻ em thu nhận phần lớn kiến thức ngôn ngữ là do chúng học theo ngôn ngữ của người lớn.Skinner cho rằng trẻ em học được cách nói đúng vì chúng được củng cố khi nói đúng ngữ pháp.
Có thể 10 nói, các lý thuyết này chưa đề cập đến mối liên hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, không thấy sự trưởng thành của ngôn ngữ chính là sự trưởng thành của tư duy [29]. Đại diện lý thuyết tự nhiên chủ nghĩa, trong cuốn Cấu trúc ngữ nghĩa, Noam Chomsky (1957) đã phân tích có phê phán lý thuyết hành vi chủ nghĩa. Ông nêu lên quan điểm, ngôn ngữ chỉ có ở con người do cơ quan sản sinh ngôn ngữ ở não bộ điều hành. Và ông cũng cho rằng, sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em mang tính di truyền, không cần sự dạy dỗ có chủ định của cha mẹ; suy nghĩ dường như có sẵn, được tập hợp theo mô hình tách biệt, sẽ bùng nổ khi có kích thích phù hợp.
Kiến thức ngữ pháp của trẻ có tử lúc trẻ mới sinh ra, trẻ có kho ngữ pháp toàn cầu, chỉ cần sử dụng đúng lúc là trẻ có thể giải mã được tiếng mẹ đẻ của chúng [37]. Lý thuyết này không có tính thuyết phục bởi vì các quy luật ngữ pháp là do con người đặt ra không thể tự nhiên mà có kho ngữ pháp toàn cầu. Jean Piaget – nhà tâm lý học thực nghiệm nổi tiếng của Thụy Sỹ - đã quan tâm nghiên cứu vấn để tư duy và ngôn ngữ trong sự phát triển nhận thức của trẻ. Trong tác phẩm “Ngôn ngữ và tư duy của trẻ” (1923), ông cho rằng tư duy phát triển là nhờ trẻ được hành động trực tiếp với vật thể vật chất còn ngôn ngữ không quan trọng lắm đối với sự phát triển của tư duy [18].
Trong công trình “Ngôn ngữ và tư duy theo quan điểm nguồn cội”, ông đã phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy trong các giai đoạn phát triển khác nhau của đứa trẻ, J. Piaget đã khẳng định ngôn ngữ cần thiết cho sự rèn luyện của tư duy, “thuật ngữ này cần thiết dựa vào thuật ngữ kia trong sự hình thành phối hợp và không ngừng tác động lẫn nhau, nhưng cả hai cùng phụ thuộc chặt chẽ vào trí năng là cái có trước ngôn ngữ và không phụ thuộc vào ngôn ngữ. Như vậy, giữa ngôn ngữ và tư duy có cùng phạm vi nguồn gốc với nhau. Quan điểm này của J.
Piaget trái ngược với các luồn ý kiến trước đó đã cho rằng: tư duy là nguồn gốc sinh ra ngôn ngữ hoặc tư duy và ngôn ngữ không cùng một nguồn gốc, tư duy và ngôn ngữ có nguồn gốc phát sinh khác nhau. Sở dĩ khi bàn về mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ xét về mặt nguồn gốc lại có những tranh luận trái chiều như vậy là do mối liên hệ quá chặt chẽ, khó có thể tách rời nhau giữa tư duy và ngôn ngữ. Các nhà tâm lý ngôn ngữ học Xô Viết như L. Leonchep, Luria… đã xem xét sự hình thành và phát triển của tư duy và ngôn ngữ trên cơ sở giao tiếp xã hội.
Trong công trình nghiên cứu năm 1929 “Nguồn gốc phát sinh của tư duy và ngôn ngữ”; cuốn sách “Tư duy và ngôn ngữ” (1933 – 1934), Vưigotxki cho rằng ngôn ngữ là kết quả của sự chuyển dịch vào bình diện bên trong những hành động của cá thể mà thoạt đầu được thực hiện với các vật của thế giới bên ngoài; tư duy và ngôn ngữ có quan hệ qua lại, tác 11 động lẫn nhau, nhưng chúng không đồng nhất và chúng có tính độc lập tương đối, “một phần nhất định của quá trình lời nói và tư duy là không trùng hợp nhau”[48]. Ngôn ngữ như nền tảng của quá trình tâm lý bậc cao như tri giác, chú ý, ghi nhớ, tưởng tượng… và đặc biệt là tư duy. Mỗi trẻ em đều có khả năng sử dụng ngôn ngữ cá nhân (ngôn ngữ trẻ tự nói với chính mình) mỗi khi gặp các nhiệm vụ khó. Ngôn ngữ cá nhân giúp trẻ giải quyết vấn đề tốt hơn những đứa trẻ ít nói.
Như vậy, ngôn ngữ cá nhân có ảnh hưởng lớn đến nhận thức của trẻ. Khẳng định này của Vưgotxky đã được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình. Bên cạnh các tác giả L. Piage, một số tác giả khác như E.
Mulkhina đều có hướng nghiên cứu chung là ngôn ngữ là công cụ nhận thức thế giới xung quanh, là phương tiện giao tiếp, phương tiện giúp trẻ tiếp nhận giá trị đạo đức chuẩn mực xã hội. Các tác giả này nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tư duy của trẻ. Ngôn ngữ là cần thiết cho sự phát triển trí tuệ, không thể có sự phát triển tư duy thoát ly hoàn toàn, tách rời khỏi công cụ ngôn ngữ. [18] Đến thế kỷ 20, các nhà tâm lý ứng dụng đã bắt đầu nghiên cứu chuyên sâu về mối liên hệ của ngôn ngữ đến các quá trình tâm lý khác nhau.
Đối với việc học tập toán, tác giả Fayol, Michel (1990) khi nghiên cứu khả năng ngôn ngữ nói và việc đọc các chuỗi số của trẻ em đã cho thấy khả năng ngôn ngữ nói có liên quan mạnh mẽ đến thành tích học toán. Các tác giả trên đã chứng minh rằng những trẻ kém hiểu biết về từ vựng và cú pháp, sẽ gặp khó khăn trong việc giải quyết vấn đề số học bằng lời nói. Tiếp theo, trong nghiên cứu của Marcee Steele các em gặp khó khăn trong học toán có nhiều trường hợp, trong đó có nguyên nhân do khả năng nói hay ngôn ngữ bộc phát trở ngại [49, tr 231]. Theo số liệu thống kê của Riley, Greeno&Hellen (1983) cho rằng cấu trúc ngữ nghĩa của các câu trong bài toán đố ảnh hưởng đến tỉ lệ thành công trong việc giải toán của học sinh tiểu học [51].
Có thể nói, các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và mối quan hệ của nó với tư duy đã có những đóng góp giá trị, phát huy được vai trò ngôn ngữ như là một công cụ của tư duy vào việc dạy học cho học sinh nói chung và dạy học toán cho học sinh nói riêng 1. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, các nhà giáo dục, nhà ngôn ngữ học, tâm lý ngôn ngữ học và tâm lý học (Nguyễn Xuân Khoa, Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Huy Cẩn, Nguyễn Ánh Tuyết…) quan tâm nghiên cứu vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ em mầm non ở các khía cạnh: phát triển vốn từ, đặc điểm phát âm, đặc điểm lĩnh hội ngữ pháp, sự tích cực hóa vốn từ ở trẻ… Tiêu biểu 12 là đề tài nghiên cứu về quá trình hình thành khả năng nói đúng ngữ pháp của trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi của tác giả Nguyễn Huy Cẩn [4] và đề tài “Biện pháp nâng cao khả năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi” [18]. Các công trình này cho thấy trẻ không thể diễn đạt được mạch lạc, rõ ràng suy nghĩ, điều trẻ muốn thể hiện nếu cấu trúc câu nói của trẻ không đúng quy tắc ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ. Điều này làm ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ- là công cụ giao tiếp và kết nối trẻ với thế giới xung quanh.
Một hướng nghiên cứu chuyên sâu hơn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy việc học tập toán ở trường học, năm 2007, PGS.TS Nguyễn Văn Lộc đã chỉ ra học sinh gặp khó khăn trong việc học toán cũng có liên quan đến ngôn ngữ khi iểu sai đề toán, không nắm vững ngôn ngữ toán…[22, tr 256]. Và trong kết luận về kết quả nghiên cứu một số khó khăn trong việc học môn toán của học sinh lớp 5 của TS Trương Công Thanh đã cho thấy những khó khăn trong việc học toán của học sinh là khó khăn trong việc định hướng trong các quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán, khó nhận biết các điều kiện và các cách giải được áp dụng cho điều liện của bài toán, cho thấy khả năng phân tích tài liệu toán ở học sinh lớp 5 còn nhiều hạn chế [33,tr 275].