Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN. Một số khái niệm cơ bản. Các lý thuyết nghiên cứu .20 Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY. Tổng quan địa bàn nghiên cứu.
Công việc làm thêm của sinh viên hai trường. Số công việc và thời gian dành cho công việc làm thêm. Ảnh hưởng của việc làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên. Những yêu cầu của xã hội đối với việc làm thêm hiện nay.
Nguồn thông tin và khó khăn tìm công việc làm thêm. Những phúc lợi từ việc làm thêm của sinh viên hai trường .46 Chương 3 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN. Yêu cầu của xã hội đối với năng lực thực hành của sinh viên. Điều kiện kinh tế của sinh viên.
Ý thức của sinh viên về vai trò của việc làm thêm. Các tiêu chí chọn công việc làm thêm. Quan điểm của gia đình về việc đi làm thêm của sinh viên. Những mong đợi và giải pháp từ công việc làm thêm .69 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .78 PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Viết tắt Diễn giải 1.
ĐH – CĐ Đại học – Cao đẳng 3. ĐHQG Đại học Quốc gia 4. GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo 5. KHXH&NV Khoa học xã hội và Nhân văn 7.
TĐT Tôn Đức Thắng 8. PV Phỏng vấn 9. SV Sinh viên 10. HCM Thành phố Hồ Chí Minh 11.
VH Văn Hiến DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Công việc làm thêm theo nhóm năm học .2: Công việc làm thêm theo ngành học .3: Số ngày làm thêm/tuần của sinh viên hai trường .4: Kết quả học tập khi sinh viên đang đi làm thêm .5: Nguồn tìm thông tin công viêc làm thêm .6: Khó khăn khi tìm công việc làm thêm theo nhóm năm học .7: Kỹ năng đối với công việc làm thêm theo nhóm năm học .8: Phúc lợi từ công việc làm thêm .9: Phúc lợi từ công việc làm thêm theo thời gian làm việc .1: Lý do đi làm thêm của sinh viên hai trường .2: Lý do đi làm thêm theo giới tính, thời gian đi làm và nhóm ngành .3: Chu cấp của gia đình cho sinh viên phân theo trường, thời gian làm thêm và nhóm ngành .4: Sự tương quan giữa mức chu cấp của gia đình đối với việc làm thêm của sinh viên .5: Chi tiêu từ công việc làm thêm .6: Thuận lợi từ công việc làm thêm theo nhóm năm học .7: Lý do đi làm thêm của sinh viên theo số công việc đang làm và theo nhóm ngành .8: Quan điểm của gia đình khi SV làm thêm theo nhóm năm học .9: Mong đợi từ công việc làm thêm theo nhóm năm học .10: Giải pháp cân bằng giữa việc học và công việc làm thêm .70 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Số công việc làm thêm của sinh viên hai trường .2: Thời gian làm thêm của sinh viên hai trường. 3: Số giờ/ngày làm thêm của sinh viên hai trường .4: Kết quả học tập giữa nam và nữ của SV hai trường .5: Yêu cầu kinh nghiệm khi đi làm thêm .6: Yêu cầu kinh nghiệm khi đi làm thêm theo nhóm ngành .7: Khó khăn tìm công việc làm thêm đúng ngành học .8: Chế độ phúc lợi từ công việc làm thêm .1: Thu nhập từ công việc làm thêm của sinh viên hai trường .2: Thu nhập theo nhóm ngành .3: Mức độ chi tiêu từ công việc làm thêm .4: Quan niệm khi đi làm thêm của sinh viên hai trường .5: Tích lũy từ công việc làm thêm của sinh viên hai trường .6: Quan điểm của gia đình khi sinh viên làm thêm. Tính cấp thiết của đề tài Thất nghiệp trong giới trẻ tăng cao đang trở thành một vấn đề nan giải trên toàn cầu, đến nỗi Bộ trưởng Việc làm của Anh Quốc, ông Chris Graling mới đây đã phải gọi đó là “những quả bom nổ chậm” [34]. Ở Việt Nam vấn đề việc làm cho sinh viên cũng luôn thu hút sự quan tâm của nhiều người, nhất là các bạn trẻ vừa rời ghế giảng đường.
Hiện nay, cả nước có khoảng 2,2 triệu sinh viên, chỉ tính riêng Thành phố Hồ Chí Minh có 56 trường Đại học và Học viện [37]. Sinh viên đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, văn hóa và chính trị của cả nước. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh viên thất nghiệp hiện nay có thể được xem như một báo động đáng quan tâm. Trong quý II/2016, cả nước có 1,0887 triệu người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, so với quý I/2016 tăng 16.
Lao động có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp, đại học trở lên có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất, tương ứng là 6,6% và 4% [38]. Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Thanh niên, 70% sinh viên Việt Nam cho biết lo lắng hàng đầu hiện nay là việc làm. Điều tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cả nước có tới 63% SV tốt nghiệp ĐH - CĐ ra trường không có việc làm, 37% SV có việc làm nhưng đa số làm trái nghề hoặc phải qua đào tạo lại. Mới đây, một cuộc khảo sát được Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích chính sách thuộc trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội) thực hiện, với quy mô gần 3.000 người gồm cựu SV thuộc 5 khóa khác nhau (ra trường từ năm 2006 đến 2010) của 3 trường ĐH lớn: ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP.HCM và ĐH Huế thì có đến 26,2% cử nhân cho biết chưa tìm được việc làm, cho dù khái niệm việc làm ở đây được hiểu rất rộng là bất cứ công việc gì tạo ra thu nhập, không nhất thiết phải đúng với trình độ, chuyên ngành đào tạo.
Trong số này, 46,5% cho biết đã từng xin việc nhưng không thành công, 42,9% lựa chọn một giải pháp an toàn là tiếp tục học lên hoặc học thêm một chuyên ngành khác [29]. 1 Lý do gì khiến đa số sinh viên ra trường bị thất nghiệp như hiện nay? Phải chăng là sinh viên còn thiếu những kỹ năng cần thiết? Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng sinh viên thất nghiệp như hiện nay, nhưng theo nhiều doanh nghiệp lớn cho biết: “Kỹ năng của sinh viên mới ra trường là chưa hình thành nếu không muốn nói là không có” [29]. Các doanh nghiệp và các công ty nước ngoài luôn chú trọng đến các kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, ứng xử, kỹ năng làm việc theo nhóm, khả năng lập kế hoạch mục tiêu, xử lý nhanh những khó khăn trong tình huống bất ngờ. Một trong những điều kiện của các nhà tuyển dụng thường yêu cầu đối với các ứng cử viên là kinh nghiệm và có nhiều nhà tuyển dụng cho rằng một cách để nổi bật sơ yếu lý lịch nghề nghiệp của người xin việc, đó là trình bày những công việc bạn đã từng làm trong quãng thời gian còn là sinh viên [28], nên khi sinh viên ra trường, phải cạnh tranh với rất nhiều ứng cử viên giàu kinh nghiệm khác.
Chính vì vậy, để có một công việc tốt sau khi ra trường, ngoài những kiến thức đã học thì phần lớn sinh viên cần phải tích lũy cho mình những kỹ năng khác như giao tiếp, kinh nghiệm thực tế, các hoạt động lao động khác và hầu hết sinh viên đã chọn một công việc làm thêm. Thông qua viêc làm thêm, sinh viên tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm sẽ tạo điều kiện có một công việc sau khi tốt nghiệp. Nhiều năm trở lại đây, việc làm thêm đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của mỗi sinh viên và đã trở thành mối quan tâm lớn thứ hai sau việc duy trì học tập tại trường. Vì vậy, hiện tượng các sinh viên đi làm thêm trở nên phổ biến trong giai đoạn hiện nay, làm thêm gần như đã trở thành một nhu cầu tất yếu, vì có rất nhiều công việc phù hợp với sinh viên như: tiếp thị, bán hàng, gia sư.
Lý do sinh viên đi làm thêm cũng hết sức đa dạng như: tìm một công việc phù hợp với ngành đang theo học, thực tập được bài học trên lớp, tích lũy những kinh nghiệm sống hay tạo các mối quan hệ xã hội. Điều gì đã thúc đẩy sinh viên đi làm thêm nhiều và luôn coi việc đi làm thêm là phải song song cùng việc học? Để tìm hiểu rõ hơn về những lý do, những yếu tố tác động đến việc làm thêm của sinh viên trường Đại học Công lập và Tư thục tại 2 Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và các yếu tố tác động đến việc làm thêm của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”. Tình hình nghiên cứu đề tài Liên quan đến vấn đề việc làm thêm, đã có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết về mọi khía cạnh xoay quanh đời sống và việc làm của nhiều nhà khoa học, chuyên gia trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Qua quá trình tìm hiểu và tham khảo các nguồn tài liệu, sau đây chúng tôi xin trình bày một số công trình nghiên cứu và bài viết có liên quan đến chủ đề lao động; việc làm và việc làm thêm của sinh viên.
Thị trường lao động Lao động - việc làm đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Đinh Đăng Định (2004) đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của lao động hiện nay bằng cách nêu ra tầm quan trọng của lao động - việc làm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, tác động đến chất lượng nguồn lao động và việc làm ở Việt Nam. Tác giả đã nêu lên những chính sách về lao động - việc làm trong sự nghiệp đổi mới và đưa ra một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề lao động và việc làm ở một số quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở đó, tác giả cũng đã đưa ra những phương hướng và giải pháp căn bản nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay.
Việt Nam có quy mô nguồn lao động lớn và tốc độ gia tăng cao, tuy nhiên cơ cấu lao động chuyển dịch còn chậm, chất lượng lao động còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị còn cao, tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn còn thấp và tỷ lệ lao động làm công ăn lương so với tổng lao động không cân đối. Việc đề xuất các giải pháp cần tập trung vào các hoạt động dựa trên tính quy luật vận động các quan hệ lao động - việc làm [5, tr.