BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN THỊ LAN THU THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN ĐIỀU KIỆN AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA BẾP ĂN TẬP THỂ KHU CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH QUẢNG NINH NĂM 2022 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701 HÀ NỘI, 2022 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN THỊ LAN THU THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN ĐIỀU KIỆN AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA BẾP ĂN TẬP THỂ KHU CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH QUẢNG NINH NĂM 2022 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC TS. ĐỖ THỊ HẠNH TRANG HÀ NỘI, 2022 i LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, các thầy cô, Trường Đại học Y tế công cộng đã có nhiều công sức đào tạo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến TS. Đỗ Thị Hạnh Trang, cô giáo đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới lãnh đạo Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Quảng Ninh cùng các bạn đồng nghiệp nơi tôi đang công tác, các doanh nghiệp có bếp ăn tập thể trong khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu làm luận văn. Sau cùng tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các bạn trong lớp Thạc sỹ Y tế Công cộng khóa 24 và người thân trong gia đình đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn và dành cho tôi những tình cảm, động viên quý báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này. Hà Nội, tháng 07 năm 2022. ii MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN . ii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .iv DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU . v TÓM TẮT NGHIÊN CỨU .vi ĐẶT VẤN ĐỀ. 1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU . 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU . Một số khái niệm về an toàn thực phẩm. Các quy định về điều kiện an toàn thực phẩm của bếp ăn tập thể. Tình hình điều kiện an toàn thực phẩm tại bếp ăn tập thể khu công nghiệp trên thế giới và Việt Nam . Các yếu tố ảnh hƣởng đến điều kiện an toàn thực phẩm tại bếp ăn tập thể khu công nghiệp . Một số nét về địa bàn nghiên cứu. 26 Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . Đối tƣợng nghiên cứu. Đối tƣợng cho nghiên cứu định lƣợng: . Đối tƣợng cho nghiên cứu định tính: .Thiết kế nghiên cứu: .Cỡ mẫu và phƣơng pháp chọn mẫu: . Phƣơng pháp thu thập số liệu: .Nhóm biến số chính/chủ đề nghiên cứu chính: . Nhóm nhóm biến số chính cho nghiên cứu định lƣợng . Chủ đề nghiên cứu định tính . Tiêu chuẩn đánh giá và cách tính điểm . Tiêu chuẩn đánh giá điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở . Tiêu chuẩn đánh giá độ sạch tinh bột, dầu mỡ trên bát đĩa, khay chứa đựng iii thực phẩm . Phƣơng pháp phân tích số liệu:. Đối với số liệu định lƣợng: . Đối với dữ liệu định tính: . Vấn đề đạo đức của nghiên cứu . 37 Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU . Thực trạng điều kiện an toàn thực phẩm của bếp ăn tập thể khu công nghiệp . Một số yếu tố ảnh hƣởng đến điều kiện an toàn thực phẩm của bếp ăn tập thể . Các yếu tố ảnh hƣởng thuộc về bếp ăn tập thể: . Các yếu tố ảnh hƣởng thuộc về môi trƣờng và cơ quan quản lý nhà nƣớc về an toàn thực phẩm đối với bếp ăn tập thể: .49 Chƣơng 4: BÀN LUẬN . Thực trạng điều kiện an toàn thực phẩm của bếp ăn tập thể khu công nghiệp . Điều kiện cơ sở vật chất . Điều kiện trang thiết bị, dụng cụ . Điều kiện về con ngƣời . Hồ sơ hành chính. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến điều kiện an toàn thực phẩm của bếp ăn tập thể . Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu . 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 76 iv DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ATTP An toàn thực phẩm BATT Bếp ăn tập thể CCS Chủ cơ sở ĐTNC Đối tƣợng nghiên cứu ĐTV Điều tra viên KCN Khu công nghiệp NCBC Ngƣời chế biến chính NĐTP Ngộ độc thực phẩm ÔNTP Ô nhiễm thực phẩm PVS Phỏng vấn sâu v DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2. 1: Tiêu chí lựa chọn và tiêu chí loại trừ . 2: Tổng hợp mẫu nghiên cứu định tính nhƣ sau . 1: Thông tin chung về cơ sở . 2: Điều kiện cơ sở vật chất . 3: Điều kiện nguyên liệu thực phẩm .4: Điều kiện trang thiết bị, dụng cụ của cơ sở .5: Tỷ lệ cơ sở test nhanh bát đĩa sạch tinh bột và dầu mỡ .6: Điều kiện con ngƣời của cơ sở .7: Điều kiện hồ sơ hành chính .44 vi TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Quảng Ninh là tỉnh miền núi phía bắc, tính đến năm 2021, tỉnh có 05 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Các bếp ăn tập thể (BATT) của doanh nghiệp trong khu công nghiệp (KCN) của tỉnh có nhiệm vụ phục vụ hàng trăm, hàng ngàn suất ăn cho công nhân viên lao động. Việc bảo đảm an toàn thực (ATTP) tại các BATT này vẫn còn nhiều khó khăn. Vì thế, nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hƣởng đến điều kiện an toàn thực phẩm của bếp ăn tập thể khu công nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh năm 2022” đƣợc thực hiện nhằm mô tả thực trạng điều kiện ATTP và phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến điều kiện ATTP tại các BATT KCN tại tỉnh Quảng Ninh năm 2022. Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phƣơng pháp định lƣợng và định tính. Số liệu đƣợc thu thập trên toàn bộ 25 BATT KCN đang hoạt động trên địa bàn tỉnh sử dụng bảng kiểm quan sát và xét nghiệm vi sinh dụng cụ và số liệu đƣợc thu thập qua phỏng vấn sâu 03 cán bộ làm công tác quản lý ATTP tại tỉnh Quảng Ninh, 04 chủ doanh nghiệp và 06 ngƣời chế biến chính. Kết quả nghiên cứu định lƣợng cho thấy, tỷ lệ BATT đạt các tiêu chí về điều kiện cơ sở vật chất; trang thiết bị, dụng cụ; con ngƣời và hồ sơ hành chính lần lƣợt là 64%, 80%, 80% và 88%. Tỷ lệ BATT đạt điều kiện ATTP chung là 19/25 đạt 76%. Nhƣ vậy, tỷ lệ BATT KCN tại tỉnh Quảng Ninh đạt điều kiện ATTP còn thấp. Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy: Yếu tố ảnh hƣởng tích cực đến điều kiện ATTP của BATT KCN là yếu tố điều kiện kinh tế và nhận thức, thái độ của chủ doanh nghiệp; hoạt động tự kiểm tra, giám sát về thực hiện các điều kiện ATTP của doanh nghiệp; mong muốn về thực đơn đa dạng, chất lƣợng tốt của khách hàng; nhận thức, thái độ của ngƣời chế biến chính; công tác giám sát và công tác xử lý vi phạm của cơ quan quản lý nhà nƣớc; công tác thông tin truyền thông của cơ quan quản lý; sự phối hợp giữa chi cục và Ban quản lý KCN. Yếu tố thực hiện các biện pháp về phòng chống dịch bệnh COVID-19 tại BATT có ảnh hƣởng tích cực đến điều kiện ATTP của BATT. Tuy nhiên, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 kéo dài, kinh phí giành cho hoạt động sửa chữa, nâng cấp các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị của BATT chuyển thành chi cho việc thực hiện các biện pháp phòng vii chống dịch gây đến ảnh hƣởng tiêu cực đến điều kiện ATTP của BATT. Từ những kết quả nghiên cứu, học viên đƣa ra một số kiến nghị: Cơ quan quản lý nhà nƣớc cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát công tác bảo đảm ATTP và đổi mới, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền kiến thức về ATTP. Các doanh nghiệp tập trung nâng cấp cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị và thực hành nghiêm các quy định về thực hành bảo đảm ATTP. 1 ĐẶT VẤN ĐỀ An toàn thực phẩm là vấn đề luôn đƣợc các cấp, các ngành và toàn xã hội đặc biệt quan tâm. ATTP không chỉ tác động trực tiếp, thƣờng xuyên đến sức khỏe của mọi ngƣời, mọi nhà, mà còn ảnh hƣởng không nhỏ đến kinh tế, thƣơng mại, du lịch và an sinh xã hội, về lâu dài còn ảnh hƣởng đến sự phát triển giống nòi của dân tộc (1). Tình hình ATTP hiện đang là vấn đề đặc biệt quan trọng, nhất là tại các KCN. Số vụ NĐTP ngày càng nhiều chủ yếu là do thực phẩm bẩn nhiễm hóa chất, các cơ sở nấu ăn không bảo đảm ATTP. Điều này ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe của ngƣời dân (2). BATT là một trong những loại hình của cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống (3). BATT là cơ sở chế biến, nấu nƣớng phục vụ cho một tập thể nhiều ngƣời cùng ăn tại chỗ hoặc ở nơi khác. Cơ sở cung cấp dịch vụ suất ăn sẵn là một hình thức của BATT, chuyên sản xuất chế biến thức ăn theo khẩu phần nhất định và chia trong một bao bì nhất định nhằm sẵn sàng cung cấp cho khách hàng hoặc dùng cho mục đích sử dụng trực tiếp (4). Trong giai đoạn 2016-2021 (tính đến hết tháng 6/ 2021), toàn quốc ghi nhận 722 vụ NĐTP với 18.553 ngƣời mắc và 106 ngƣời tử vong (5),(6); trong đó có 65 vụ NĐTP tại BATT làm 2.801 ngƣời mắc, 2.709 ngƣời đi viện và không ghi nhận trƣờng hợp tử vong. NĐTP tại BATT KCN/khu chế xuất là 39 vụ làm 1.966 ngƣời mắc và 1.908 ngƣời đi viện điều trị, không có tử vong (5). Nhu cầu đối với BATT và các cơ sở cung cấp suất ăn sẵn hiện nay là rất lớn, không ngừng gia tăng. Nguy cơ NĐTP tại BATT trong các KCN/khu chế xuất vẫn xảy ra tuy đang đƣợc kiểm soát (số vụ, số mắc, số chết) do thức ăn bị ô nhiễm chủ yếu từ các cơ sở cung cấp suất ăn sẵn; Nguy cơ ô nhiễm thực phẩm (ÔNTP) từ nguyên liệu chế biến thức ăn, phụ gia chế biến thức ăn; Nguồn nƣớc sử dụng cho ăn uống (7); Dụng cụ sơ chế, chế biến thức ăn, dụng cụ ăn uống; Địa điểm, môi trƣờng bị ô nhiễm bởi bụi bẩn, ruồi, côn trùng; Do bảo quản và vận chuyển thức ăn.
Tổng quan nghiên cứu
Tỉnh Quảng Ninh, với 05 khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động và hơn 32 doanh nghiệp có bếp ăn tập thể (BATT), phục vụ hàng ngàn suất ăn mỗi ngày cho công nhân viên, đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc đảm bảo an toàn thực phẩm (ATTP). Theo thống kê giai đoạn 2016-2021, toàn quốc ghi nhận 722 vụ ngộ độc thực phẩm (NĐTP) với hơn 18.000 người mắc, trong đó 65 vụ xảy ra tại BATT, làm hơn 2.800 người mắc. Tại Quảng Ninh, mặc dù chưa có vụ NĐTP nghiêm trọng tại BATT KCN, nhưng tỷ lệ doanh nghiệp vi phạm quy định ATTP vẫn chiếm khoảng 5%. Nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện an toàn thực phẩm của bếp ăn tập thể khu công nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh năm 2022” nhằm mục tiêu mô tả thực trạng điều kiện ATTP và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tại 25 BATT đang hoạt động trên địa bàn tỉnh. Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 11/2021 đến tháng 6/2022, sử dụng thiết kế cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng và định tính. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng bữa ăn tập thể, giảm thiểu nguy cơ NĐTP, đồng thời hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng chính sách và biện pháp kiểm soát ATTP hiệu quả tại các BATT KCN.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu dựa trên các quy định pháp luật về ATTP như Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12, Nghị định 67/2016/NĐ-CP, Nghị định 155/2018/NĐ-CP, Thông tư 48/2015/TT-BYT và các văn bản hướng dẫn liên quan. Khung lý thuyết tập trung vào bốn nhóm điều kiện bảo đảm ATTP tại BATT: (1) điều kiện cơ sở vật chất, (2) điều kiện trang thiết bị, dụng cụ, (3) điều kiện con người và (4) hồ sơ pháp lý. Các yếu tố ảnh hưởng được phân loại thành yếu tố thuộc về BATT (như điều kiện kinh tế, nhận thức chủ doanh nghiệp, hoạt động tự kiểm tra, đặc điểm BATT, nhận thức người chế biến) và yếu tố thuộc về môi trường, cơ quan quản lý nhà nước (công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, tuyên truyền, phối hợp quản lý). Ngoài ra, nghiên cứu còn xem xét tác động của dịch bệnh COVID-19 đến điều kiện ATTP tại BATT.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính. Toàn bộ 25 BATT đang hoạt động tại các KCN tỉnh Quảng Ninh được khảo sát. Đối với nghiên cứu định lượng, dữ liệu thu thập qua bảng kiểm quan sát 46 tiêu chí ATTP và xét nghiệm nhanh 150 mẫu bát, đĩa về độ sạch tinh bột và dầu mỡ. Đối tượng định tính gồm 13 người: 3 cán bộ quản lý ATTP, 4 chủ doanh nghiệp (2 đạt và 2 không đạt điều kiện ATTP), 6 người chế biến chính (3 đạt, 3 không đạt). Phương pháp chọn mẫu toàn bộ cho BATT và chọn mẫu ngẫu nhiên cho dụng cụ chứa đựng thức ăn. Phân tích số liệu định lượng bằng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ) trên phần mềm Excel, dữ liệu định tính được mã hóa và phân tích theo chủ đề. Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt, đảm bảo tính bảo mật và tự nguyện của người tham gia.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Thực trạng điều kiện cơ sở vật chất: Tỷ lệ BATT đạt các tiêu chí về cơ sở vật chất là 64%. Các tiêu chí đạt 100% gồm địa điểm, môi trường, khu vực sơ chế, kho bảo quản, hệ thống cung cấp nước, phòng thay đồ bảo hộ. Tiêu chí đạt thấp nhất là tường và sàn khu vực chế biến (92%). Điều này cho thấy cơ sở vật chất cơ bản được đảm bảo nhưng vẫn còn tồn tại những điểm cần cải thiện để ngăn ngừa ô nhiễm chéo.
-
Điều kiện trang thiết bị, dụng cụ: Tỷ lệ BATT đạt tiêu chuẩn trang thiết bị dụng cụ là 80%. 100% BATT có dụng cụ riêng biệt cho thực phẩm sống và chín, 88% có thiết bị phòng chống côn trùng. Tuy nhiên, vẫn còn 12% chưa đảm bảo thiết bị phòng chống côn trùng, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm thực phẩm.
-
Điều kiện con người: Tỷ lệ BATT đạt điều kiện về con người là 80%. 100% nhân viên được tập huấn kiến thức ATTP, mặc đồ bảo hộ, rửa tay đúng quy định. Tuy nhiên, một số nhân viên chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp vệ sinh cá nhân như cắt móng tay, đeo găng tay khi chế biến.
-
Hồ sơ pháp lý: Tỷ lệ BATT đạt điều kiện hồ sơ pháp lý là 88%. 100% có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP hoặc bản cam kết, hợp đồng cung cấp thực phẩm đầy đủ. Việc lưu trữ sổ kiểm thực ba bước và lưu mẫu thực phẩm được thực hiện nghiêm túc.
-
Tỷ lệ BATT đạt điều kiện ATTP chung: 19/25 BATT (76%) đạt yêu cầu về điều kiện ATTP tổng thể. Kết quả xét nghiệm nhanh cho thấy 90% mẫu bát, đĩa đạt độ sạch tinh bột và dầu mỡ, phản ánh thực hành vệ sinh dụng cụ tương đối tốt.
Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù phần lớn BATT tại Quảng Ninh đã đầu tư cải thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị, tỷ lệ đạt chuẩn vẫn chưa cao, đặc biệt ở các tiêu chí liên quan đến thiết kế khu vực chế biến và phòng chống côn trùng. Điều này tương đồng với các nghiên cứu trong nước và quốc tế, nơi mà cơ sở vật chất và trang thiết bị luôn là yếu tố then chốt nhưng khó đạt chuẩn hoàn toàn do chi phí và nhận thức. Điều kiện con người được cải thiện rõ rệt nhờ công tác tập huấn và kiểm tra, tuy nhiên vẫn cần nâng cao ý thức thực hành vệ sinh cá nhân. Hồ sơ pháp lý được thực hiện tốt, góp phần minh bạch nguồn gốc thực phẩm và trách nhiệm của doanh nghiệp. Công tác thanh tra, kiểm tra và tuyên truyền của cơ quan quản lý nhà nước được đánh giá tích cực, tuy nhiên vẫn còn hạn chế về nhân lực và thiết bị hỗ trợ. Dịch COVID-19 đã thúc đẩy các biện pháp phòng chống dịch nhưng cũng làm giảm nguồn lực đầu tư cho cơ sở vật chất, ảnh hưởng tiêu cực đến một số điều kiện ATTP. Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ cột thể hiện tỷ lệ đạt từng nhóm điều kiện và bảng so sánh kết quả xét nghiệm mẫu dụng cụ.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị: Doanh nghiệp cần ưu tiên nâng cấp thiết kế khu vực chế biến theo nguyên tắc một chiều, bổ sung thiết bị phòng chống côn trùng, đảm bảo sàn và tường dễ vệ sinh. Mục tiêu nâng tỷ lệ đạt chuẩn cơ sở vật chất lên trên 85% trong vòng 2 năm.
-
Nâng cao năng lực và ý thức con người: Tổ chức tập huấn định kỳ cho nhân viên chế biến về kiến thức và thực hành ATTP, kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất 6 tháng/lần. Đặt mục tiêu 100% nhân viên tuân thủ quy định vệ sinh cá nhân trong 1 năm tới.
-
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Cơ quan quản lý nhà nước cần tăng tần suất kiểm tra định kỳ và đột xuất, áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với vi phạm để nâng cao tính răn đe. Thực hiện hậu kiểm thường xuyên để đảm bảo khắc phục triệt để các tồn tại.
-
Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, truyền thông: Phát triển các chương trình truyền thông chuyên biệt cho từng nhóm đối tượng (chủ doanh nghiệp, người chế biến, công nhân), sử dụng đa phương tiện và công nghệ số để nâng cao nhận thức về ATTP.
-
Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý: Tăng cường phối hợp giữa Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm và Ban Quản lý KCN nhằm đồng bộ công tác quản lý, giám sát và hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định ATTP. Mục tiêu xây dựng mô hình quản lý hiệu quả trong 3 năm tới.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Cơ quan quản lý nhà nước về ATTP: Sử dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng chính sách, kế hoạch thanh tra, kiểm tra và tuyên truyền phù hợp với thực trạng tại các BATT KCN.
-
Doanh nghiệp có BATT trong KCN: Áp dụng các giải pháp nâng cao điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và đào tạo nhân viên nhằm đảm bảo ATTP, giảm thiểu rủi ro NĐTP.
-
Nhà nghiên cứu và sinh viên ngành Y tế công cộng, An toàn thực phẩm: Tham khảo phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính, cũng như các phân tích về yếu tố ảnh hưởng đến ATTP trong môi trường công nghiệp.
-
Tổ chức cung cấp dịch vụ suất ăn sẵn: Căn cứ vào các tiêu chí và thực trạng để cải tiến quy trình chế biến, bảo quản và phục vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ và an toàn thực phẩm.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao tỷ lệ BATT đạt điều kiện ATTP chưa cao mặc dù đã có nhiều đầu tư?
Nguyên nhân chính là do một số tiêu chí về thiết kế khu vực chế biến và phòng chống côn trùng chưa được thực hiện đầy đủ, cùng với hạn chế về nguồn lực tài chính và nhận thức của một số doanh nghiệp. -
Các yếu tố nào ảnh hưởng tích cực nhất đến điều kiện ATTP tại BATT?
Điều kiện kinh tế và nhận thức của chủ doanh nghiệp, hoạt động tự kiểm tra, giám sát của doanh nghiệp, nhận thức và thái độ của người chế biến, cùng với công tác thanh tra, kiểm tra và tuyên truyền của cơ quan quản lý nhà nước. -
Dịch COVID-19 ảnh hưởng thế nào đến điều kiện ATTP tại BATT?
Dịch bệnh thúc đẩy các biện pháp phòng chống dịch nghiêm ngặt, tuy nhiên cũng làm giảm nguồn kinh phí đầu tư cho sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất, gây ảnh hưởng tiêu cực đến một số điều kiện ATTP. -
Làm thế nào để nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra ATTP?
Cần tăng cường nhân lực, trang thiết bị hỗ trợ, áp dụng chế tài nghiêm khắc, thực hiện hậu kiểm thường xuyên và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý để đảm bảo tính liên tục và hiệu quả. -
Tại sao việc kiểm tra độ sạch tinh bột và dầu mỡ trên dụng cụ chứa đựng thực phẩm quan trọng?
Đây là chỉ số phản ánh trực tiếp thực hành vệ sinh dụng cụ, giúp phát hiện nguy cơ ô nhiễm thực phẩm, từ đó kịp thời điều chỉnh quy trình vệ sinh, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.
Kết luận
- Tỷ lệ BATT tại Quảng Ninh đạt điều kiện ATTP chung là 76%, trong đó điều kiện cơ sở vật chất đạt thấp nhất (64%), trang thiết bị dụng cụ và con người đạt khoảng 80%, hồ sơ pháp lý đạt 88%.
- Các yếu tố ảnh hưởng tích cực gồm điều kiện kinh tế, nhận thức chủ doanh nghiệp, hoạt động tự kiểm tra, công tác quản lý nhà nước và nhận thức người chế biến.
- Dịch COVID-19 có tác động kép, vừa thúc đẩy phòng chống dịch vừa làm giảm nguồn lực đầu tư cho ATTP.
- Cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao năng lực con người, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và đa dạng hóa truyền thông.
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao điều kiện ATTP tại BATT KCN trong vòng 2-3 năm tới, góp phần bảo vệ sức khỏe công nhân và phát triển kinh tế bền vững.
Các doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần phối hợp triển khai các khuyến nghị, đồng thời tiếp tục nghiên cứu mở rộng để cập nhật thực trạng và giải pháp phù hợp trong bối cảnh mới.