MỞ ĐẦU Các loại trái cây, rau quả từ xưa đến nay đã là nguồn thực phẩm mang lại nhiều giá trị về mặt dinh dưỡng. Cùng với sự phát triển của xã hội, chất lượng cuộc sống của con người càng được nâng cao thì mối quan tâm về sức khỏe càng ngày càng được chú trọng hơn. Vì vậy nhu cầu về việc gia tăng sản lượng đang được chú trọng hàng đầu, tuy nhiên việc gia tăng sản lượng trồng trọt sẽ kéo đến việc phụ phẩm của quá trình thu hoạch, sản xuất càng tăng lên. Thanh long được đánh giá là loại trái có tiềm năng lớn trong ngành công nghiệp sản xuất rau quả bởi điều kiện trồng tương đối dễ chịu, có thể chịu được điều kiện khí hậu khô hạn.
Loại trái này có hình dạng bắt mắt và màu sắc đặc trưng tạo cảm giác sảng khoái và dễ chịu khi ăn. Không những vậy thanh long còn chứa các thành phần dinh dưỡng quan trọng như carotene, calcium, xơ, vitamin B, vitamin C. cũng như các hợp chất có hoạt tính sinh học có lợi cho sức khoẻ như phenolic, betacyanin. tập trung ở cả phần thịt, vỏ, hạt, đài hoa, rễ.
Việc tận dụng phụ phẩm từ trái thanh long – hạt và vỏ đang dần được quan tâm bởi những giá trị tiềm năng của chúng về mặt giá trị dinh dưỡng, cảm quan, đặc tính công nghệ, hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao. Hạt thanh long được đánh giá chứa hàm lượng lipid chủ yếu của ruột trái đặc biệt là hàm lượng acid béo không bão hoà thiết yếu và vitamin E. Vỏ thanh long được quan tâm về hàm lượng pectin và sắc tố betacyanin chứa trong mô bào [1]. Cá và các sản phẩm chế biến từ cá là một trong những loại thực phẩm phổ biến và thường được lựa chọn làm món ăn chính trong những bữa ăn hằng ngày.
Tuy nhiên trong quá trình chế biến cũng như bảo quản, các sản phẩm đều có khả năng bị hư hỏng do sự phát triển của vi sinh vật và sự tự oxy hóa của bản thân nguyên liệu đặc biệt là sự tự oxy hóa chất béo. Sự biến đổi này làm cho độ an toàn cũng như giá trị của sản phẩm giảm. Vì vậy các sản phẩm này thường được bổ sung các chất chống oxy hóa tổng hợp như BHA, BHT, TBHQ,…Mặc dù những chất chống oxy hóa tổng hợp này thường mang lại hiệu quả chống oxy hóa tốt, tuy nhiên đằng sau chúng cũng thường có những mối nguy hiểm về an toàn sức khỏe cho người sử dụng. 1 Như đã đề cập ở trên, hạt thanh long và vỏ thanh long là những nguồn nguyên liệu tiềm năng về khả năng chống oxy hóa cũng như hiện đang là nguồn phụ phẩm cần được xử lý.
Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Ứng dụng bổ sung bột hạt thanh long sấy và dịch trích từ vỏ quả thanh long trắng vào sản phẩm thịt xay để hạn chế quá trình oxy hóa lipid”. Mục đích của nghiên cứu là đánh giá khả năng kháng oxy hóa của dịch trích vỏ và bột hạt thanh long thông qua các giá trị thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa và một số chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm patties cá trong quá trình bảo quản lạnh. 2 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan về quá trình oxy hóa chất béo 2.1 Quá trình oxy hóa chất béo trong thực phẩm Khi chất béo bị oxy hóa sẽ hình thành những hydroperoxide, chất dễ bị tiếp tục oxy hóa hoặc bị phân hủy hình thành những sản phẩm oxy hóa thứ cấp như những aldehyde, ketone, acid và alcohol [2]. Trong nhiều trường hợp, những hợp chất này gây ra những ảnh hưởng xấu đến mùi vị, hương, giá trị dinh dưỡng và chất lượng nói chung [3].
Dựa vào cơ chế phản ứng, người ta chia quá trình oxi hóa chất béo thành: oxy hóa hóa học (oxy hóa không có enzyme tham gia) và oxy hóa sinh học (oxy hóa có enzyme tham gia). Quá trình tự oxy hóa chất béo sẽ xảy ra ở nối đôi của các axit béo không no. Yếu tố ảnh hưởng đến sự tự oxy hoá axit béo không no là nhiệt độ, oxy không khí, ion kim loại đa hoá trị. Khi chất nền lipid (RH) tiếp xúc với nhiệt độ, ánh sáng hoặc ion kim loại, nguyên tử hydro của liên kết đôi của chúng bị tách ra và gốc alkyl tự do (R) được hình thành và năng lượng hoạt hoá cần thiết để phản ứng này xảy ra phụ thuộc vào số lượng và vị trí các nối đôi có trong axit béo.
Các gốc tự do này phản ứng với oxy và gốc peroxyl (ROO) được hình thành bằng cách khử nguyên tử hydro khỏi các axit béo không bão hòa khác. Nó dẫn đến sự hình thành các sản phẩm oxy hóa sơ cấp được gọi là hydroperoxide (ROOH). Độ dài của giai đoạn phát triển tỷ lệ thuận với mức độ không bão hòa lipid. Các sản phẩm oxy hóa chính này không ổn định và tiếp tục bị phân hủy thành các hợp chất cacbonyl như aldehyde, cetone và rượu.
Ở giai đoạn cuối, các gốc peroxyl được tích tụ và ở mức độ tương đối cao các gốc peroxyl tương tác với nhau tạo thành các sản phẩm bền. 3 • Giai đoạn khởi đầu: phát sinh gốc tự do RH R + H (1) RH + O2 R + HOO (2R + H2O2) (2) • Giai đoạn phát triển: phản ứng dây chuyền tạo peroxide , hydroperoxide, acoxyl R + O2 ROO (3) ROO + RH RCOOH + R (4) ROOH + RH RO + R + H2O (5) 2ROOH ROO + R + H2O (6) • Phản ứng tiếp tạo rượu, cetone, aldehyde RO + RH ROH + R (7) R1HCOR2 R1HC=O + R2 (8) R1HCOR2 + RO R1C(O)R2 + ROH (9) • Giai đoạn kết thúc: polymer hóa R + R R–R (10) R + ROO RCOOR (11) R + RO ROR (12) ROO + ROO ROOR + O2 (13) 2.2 Các chất chống oxy hóa Sử dụng các chất chống oxy hoá bằng cơ chế bẻ gãy mạch (AH) thông qua sơ đồ phản ứng sau: RH R (1) R + O2 ROO (2) ROO + RH ROOH + R (3) ROO + AH ROOH + A (4) 4 R + AH RH +A (5) A + ROO ROOA (6) A + A A-A (7) Chất chống oxy hóa phá vỡ chuỗi tạo ra gốc A tương đối ổn định để phản ứng chậm với cơ chất lipid RH bằng phản ứng (3) và phản ứng trực tiếp ngay với gốc peroxyl ROO bằng phản ứng (4). Tuy nhiên, phản ứng (5) trở nên đáng kể ở áp suất oxy thấp và nhiệt độ cao. Gốc chống oxy hóa A sẽ phản ứng lại với các gốc peroxyl để tạo thành peroxide ROOA ổn định bằng phản ứng (6) hoặc dimer hóa với một gốc chống oxy hóa khác để tạo ra A-A bằng phản ứng (7).
Để phá vỡ chuỗi gốc tự do một cách hiệu quả, cấu trúc của chất chống oxy hóa hoạt động được thiết kế để tạo ra các gốc phenoxyl trong đó điện tử chưa ghép đôi được phân chia xung quanh cấu trúc thơm và được ổn định bằng năng lượng cộng hưởng cao. Do đó, các gốc chống oxy hóa được ổn định bằng cách phân chia điện tử trong cấu trúc phenoxyl của chúng. Hiệu quả chống oxy hóa liên quan trực tiếp đến sự ổn định cộng hưởng của các gốc phenoxyl. Ngoài ra chất chống oxy hoá còn giúp hạn chế đáng kể sự phân huỷ hydroperoxide thành các sản phẩm thứ cấp khác.
Chất chống oxy hoá tự nhiên như Acid ascorbic ( Vitamin C), Tocopherol (Vitamin E), Carctenoids, Flavanone và flavonol, Vanilin. Vitamin C có hoạt chất chống oxi hóa khi nó làm giảm oxi hóa chất như hydrogenperoxide. Ngoài ra, nó cũng sẽ làm giảm các ion kim loại tạo ra các gốc tự do thông qua các phản ứng Fenton. 2Fe3+ + ascorbate 2Fe2+ + Dehidroascorbate 2Fe2 + + 2H2O2 2Fe3+ + 2OH + 2OH- 5 Vitamin E là vitamin tan trong chất béo có tính chất chống oxi hóa.
Trong đó, hình thức α – tocopherol là các chất chống oxi hóa quan trọng nhất hòa tan trong chất béo, nó có khả năng bảo vệ màng tế bào khỏi quá trình oxi hóa bằng các phản ứng với các gốc lipid được sản sinh trong phản ứng dây truyền. Từ đó loại bỏ các gốc tự do trung gian và ngăn ngừa các phản ứng lan truyền liên tục diễn ra. Carctenoids: cũng thể hiện hoạt tính chống oxy hóa. Trong đó, caroten thể hiện hoạt tính chống oxy hóa mạnh nhất.
Flavanone và flavonol là các chất có hoạt tính chống oxy hóa cao có thể tìm thấy trong thực vật như trong lá trà xanh, dược thảo, gỗ. Vanilin: ngoài có vai trò tạo mùi, nó cũng đóng vai trò là chất chống oxi hóa tốt. Ngoài ra, các phản ứng tạo thành trong phản ứng Maillard cũng là các chất chống oxi hóa hình thành trong thực phẩm. Chất chống oxy hoá tổng hợp phù hợp cho hệ nhũ tương dầu/ nước như BHA, BHT, Tocopherol tổng hợp.
Chất chống oxy hoá phân cực như TBHQ hay propyl gallate có hoạt tính mạnh trong sản phẩm dầu mỡ bởi vì nó có khả năng tập trung trên bề mặt chất béo và tiếp xúc với không khí.2 Tổng quan về thanh long Thanh long có tên khoa học là Hylocereus spp., thuộc họ Xương rồng (Cactaceae), là loại thực vật bản địa có nguồn gốc ở các vùng sa mạc thuộc Mexico và Colombia. Thanh long có tên gọi là Pitahaya (Pitaya) hay Dragon Fruit (Strawberry Pear) (tiếng Anh), Pitayaroja (tiếng Tây Ban Nha) và La pitahaya rouge (tiếng Pháp) [1]. Thanh long là cây có nguồn gốc nhiệt đới, chịu hạn tốt nên thường được trồng ở những vùng có khí khắc nhiệt. Đây là loại cây màu cho trái, sản lượng trái trung bình thu hoạch được khoảng 20 – 30 tấn/ha chính vụ và 20 tấn/ha trái vụ [4].
Hiện nay Việt Nam là nước có diện tích và sản lượng thanh long lớn nhất châu Á và cũng là nước xuất khẩu thanh long hàng đầu thế giới. Sản phẩm thanh long lưu thông trên thị trường chủ yếu ở dạng trái tươi, trong đó thị trường nội địa chiếm khoảng 15 – 6 20% sản lượng, 80 – 85% sản lượng còn lại được xuất khẩu. Thanh long hiện đang được trồng ở nhiều tỉnh thành trên cả nước, song phát triển mạnh thành các vùng chuyên canh quy mô lớn tập trung ở các tỉnh Bình Thuận (29000 ha), Long An (11000 ha) và Tiền Giang (8000 ha) chiếm 93.6% diện tích và 95.5% sản lượng cả nước.1 Hạt thanh long Là những hạt có kích thước nhỏ hình oval, chiếm phần lớn số lượng trong thịt. Trong công nghệ sản xuất các sản phẩm từ thanh long, đa phần hạt sẽ được loại bỏ nhằm mục đích tăng giá trị cảm quan cho sản phẩm.