Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nước tương và các loại nước chấm lên men là gia vị truyền thống giữ vai trò thiết yếu trong văn hóa ẩm thực của người Việt Nam. Trong sản xuất công nghiệp và thủ công, hai phương pháp chủ yếu được áp dụng là lên men vi sinh vật truyền thống bằng chủng nấm mốc Aspergillus oryzae và phương pháp hóa giải bằng acid vô cơ mạnh (thường là acid clohydric - HCl). Phương pháp lên men vi sinh tạo sản phẩm có hương vị tự nhiên và đảm bảo an toàn thực phẩm, nhưng nhược điểm lớn là thời gian sản xuất kéo dài, chi phí cao, hiệu suất thủy phân protein và độ đạm chưa đạt mức tối ưu. Ngược lại, phương pháp hóa giải acid có tốc độ phân giải nhanh, hiệu suất chuyển hóa đạm cao và chi phí thấp, nhưng tiềm ẩn nguy cơ cao hình thành hợp chất độc hại 3-MCPD (3-monochloropropane-1,2-diol) vượt ngưỡng cho phép, gây lo ngại về sức khỏe cho người tiêu dùng.
Bên cạnh vấn đề công nghệ sản xuất, nguồn nguyên liệu truyền thống là đậu nành nguyên hạt có giá thành tương đối cao. Trong khi đó, các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm tại Việt Nam thải ra một lượng lớn phụ phẩm giàu dinh dưỡng chưa được khai thác hiệu quả, tiêu biểu là bã đại mạch nảy mầm (bã malt bia) từ các nhà máy sản xuất bia và khô dầu đậu phộng (bánh dầu phộng) từ công nghiệp ép dầu thực vật. Việc kết hợp hai nguồn phụ phẩm này làm cơ chất cho quá trình lên men và thủy phân bán hóa giải nhẹ nhằm tạo ra sản phẩm nước chấm đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, có độ đạm cao và giá thành hạ là lý do chính để tác giả thực hiện đề tài.
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu tận dụng phụ phẩm bã malt bia và bánh dầu đậu phộng để xây dựng quy trình công nghệ sản xuất nước tương sạch theo phương pháp bán hóa giải nhẹ. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định bao gồm:
- Xây dựng kế hoạch làm việc và thu thập các tài liệu có liên quan.
- Tìm hiểu tổng quan về thành phần các nguyên liệu sử dụng để sản xuất nước chấm.
- Tiến hành khảo sát các chỉ tiêu ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm nước chấm trong quá trình sản xuất.
- Tìm hiểu các phương pháp sản xuất nước chấm và lựa chọn phương pháp có hiệu quả thủy phân cao nhất mà vẫn đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng.
- Xây dựng nội dung báo cáo và tổng hợp kết quả nghiên cứu.
- Thảo luận với giảng viên hướng dẫn để chỉnh sửa và hoàn thiện đồ án.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm nấm mốc Aspergillus oryzae, bã malt bia thu nhận từ Công ty Bia Vinaken và bánh dầu đậu phộng thu mua tại khu vực chợ Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở quy mô phòng thí nghiệm, thực hiện trong thời gian 14 tuần (từ ngày 01/04/2009 đến ngày 30/06/2009) tại Phòng thí nghiệm Vi sinh thuộc Khoa Môi trường và Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP. Hồ Chí Minh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về sinh hóa học lên men và công nghệ vi sinh thực phẩm:
- Đặc tính sinh học của nấm mốc Aspergillus oryzae: Chủng nấm sợi hiếu khí thuộc họ Trichocomaceae, bộ Eurotiales, có hệ enzyme phong phú với hai enzyme chủ đạo là protease (thủy phân protein thành peptide và acid amin tự do) và amylase (alpha-amylase hoạt động tối ưu ở pH 5,5–5,9, nhiệt độ 50–57°C; glucoamylase ở pH 4,8, nhiệt độ 50°C). Điều kiện môi trường tối ưu cho nấm mốc phát triển sinh enzyme là nhiệt độ 27–30°C, độ ẩm cơ chất 55–58%, độ ẩm không khí 85–95% và pH môi trường xung quanh mức 5.
- Giá trị dinh dưỡng của phụ phẩm: Khô dầu đậu phộng sau khi ép dầu chứa hàm lượng lớn protein, lipid, glucid và khoáng chất; bã malt đại mạch ở trạng thái khô chứa 28% protein, 8,2% chất béo, 41% chất chiết không chứa nitơ, 17,5% cellulose và 5,3% chất vô cơ (đối với bã sấy chứa 25,5% protein, bã thô chứa 6,63% protein và độ ẩm 76,3%).
- Nguyên lý thủy phân bán hóa giải nhẹ: Kết hợp giai đoạn nuôi cấy nấm mốc và lên men enzyme ban đầu để tạo hương vị đặc trưng cùng lượng acid amin tự nhiên, sau đó xử lý bổ sung bằng acid HCl ở nồng độ thích hợp nhằm thúc đẩy quá trình cắt đứt các chuỗi polypeptide bền vững, giúp tăng độ đạm tổng số và đạm formol mà không cần dùng acid nồng độ quá cao, giảm thiểu nguy cơ sinh độc tố 3-MCPD.
Các phương pháp phân tích và đánh giá thực nghiệm được áp dụng:
- Phương pháp vi sinh: Nhân giống và thu nhận bào tử nấm mốc Aspergillus oryzae trên môi trường cơ chất thích hợp, theo dõi mức độ phát triển của hệ sợi nấm (khuẩn ty) theo thang điểm 6 mức (từ 0 đến 5 điểm).
- Phương pháp hóa nghiệm: Xác định hàm lượng đạm formol (đại diện cho hàm lượng acid amin tự do) bằng phương pháp chuẩn độ Sørensen; xác định đạm tổng số bằng phương pháp Kendahl (Kjeldahl); phương pháp trung hòa dịch thủy phân bằng dung dịch NaOH/Na2CO3.
- Phương pháp đánh giá cảm quan: Đánh giá chất lượng cảm quan của sản phẩm nước chấm theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3215-79 dựa trên 4 chỉ tiêu chất lượng: Màu sắc (hệ số quan trọng 0,8), Mùi (hệ số quan trọng 1,2), Vị (hệ số quan trọng 1,2) và Độ trong (hệ số quan trọng 0,8), thực hiện bởi hội đồng gồm 7 kiểm nghiệm viên (A, B, C, D, E, F, G) theo thang điểm 5 cho từng chỉ tiêu và tính điểm chung có trọng số.
- Phương pháp phân tích thống kê: Xử lý và phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA) kết hợp kiểm định khoảng khác biệt nhỏ nhất có ý nghĩa (Least Significant Difference - LSD) ở độ tin cậy 95,0% (p < 0,05) để đánh giá mức độ tin cậy của các nghiệm thức thí nghiệm lặp lại 3 lần.
Nội dung chính theo từng chương
Chương một: Giới thiệu
Chương một trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh thị trường nước tương đòi hỏi nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, tránh nguy cơ nhiễm độc tố 3-MCPD. Tác giả xác lập mục tiêu nghiên cứu quy trình sản xuất nước tương sạch bằng phương pháp bán hóa giải nhẹ từ nguồn phụ phẩm dồi dào, giá rẻ là bã malt bia và bánh dầu đậu phộng. Chương này cũng phân định rõ ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa khoa học, 6 nội dung nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi thực hiện tại phòng thí nghiệm trong 14 tuần.
Chương hai: Tổng quan tài liệu
Chương hai hệ thống hóa các kiến thức khoa học chuyên ngành:
- Khái quát về vai trò, đặc điểm hóa sinh của nước chấm lên men và tình hình sản xuất nước chấm tại Việt Nam cũng như các nước Đông Á.
- Phân tích ưu nhược điểm của công nghệ sản xuất nước chấm vi sinh vật truyền thống so với phương pháp hóa giải acid mạnh; mô tả chi tiết quy trình công nghệ gồm các khâu: chuẩn bị nguyên liệu, nghiền mịn (kích thước tối ưu 1 mm), phối liệu bổ sung tinh bột ẩm (55–58%), hấp chín vô trùng tiệt trùng, nuôi mốc trong 36–42 giờ ở 28–34°C, lên men/thủy phân, trích ly nước muối (15–18°Bé), phối chế và thanh trùng ở 60–70°C trong 1,5–2 giờ.
- Mô tả phân loại sinh học, cấu tạo cơ quan dinh dưỡng (khuẩn ty cơ chất và khuẩn ty khí sinh), đặc tính sinh hóa và hệ enzyme amylase, protease của Aspergillus oryzae.
- Phân tích thành phần hóa học của bánh dầu đậu phộng, các biện pháp bảo quản chống tự bốc nóng và kiểm soát nguy cơ nấm mốc độc sinh Aflatoxin; tổng hợp bảng thành phần dinh dưỡng và giá trị nhiệt lượng của bã malt đại mạch thô và sấy.
Chương ba: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương ba mô tả chi tiết điều kiện thực nghiệm, bao gồm danh mục thiết bị (máy cất đạm Kjeldahl, máy đo pH, nồi hấp microwave, bếp điện/gas), hóa chất (Formol, CH3COOH, Acid citric, Phenolphthalein, NaOH 0,1N và khan, HCl đậm đặc) và nguồn gốc nguyên liệu bã malt (Vinaken), bánh dầu (Thủ Đức). Tác giả thiết lập sơ đồ và quy trình bố trí 4 thí nghiệm chính, đồng thời chuẩn hóa các thao tác đo đạc nồng độ đạm formol theo Sørensen, đo đạm tổng số, quy trình đánh giá cảm quan theo TCVN 3215-79 và quy trình xử lý dữ liệu thống kê ANOVA trên phần mềm chuyên dụng.
Chương bốn: Kết quả và thảo luận
Chương bốn công bố toàn bộ dữ liệu thực nghiệm và diễn giải khoa học qua 4 nội dung thí nghiệm:
- Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ mốc giống: Đánh giá 3 tỷ lệ mốc giống (3%, 4%, 5%) tác động lên sự hình thành đạm formol qua 20 ngày theo dõi.
- Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn bã malt bia: Thử nghiệm 5 tỷ lệ bã malt bia (10%, 20%, 30%, 40%, 50%) phối trộn cùng bánh dầu đậu phộng (tương ứng 90%, 80%, 70%, 60%, 50%) để theo dõi biến thiên đạm formol và chấm điểm cảm quan so sánh với mẫu đối chứng thương phẩm.
- Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ HCl trong quy trình bán hóa giải: Khảo sát 3 nồng độ HCl (6%, 7%, 8%) bổ sung ở giai đoạn sau của quá trình lên men mốc, phân tích động thái gia tăng đạm formol từ ngày 0 đến ngày 10 và đánh giá chất lượng cảm quan của từng mẫu.
- So sánh hiệu suất thủy phân giữa hai phương pháp: Đo đạc đối chứng hàm lượng đạm formol và đạm tổng số giữa quy trình lên men vi sinh vật thuần túy và quy trình bán hóa giải nhẹ.
Chương năm: Kết luận và kiến nghị
Chương năm tổng hợp lại toàn bộ các thông số kỹ thuật tối ưu đã xác lập từ nghiên cứu thực nghiệm và đề xuất các khuyến nghị về việc kiểm nghiệm hàm lượng 3-MCPD, Aflatoxin cũng như định hướng mở rộng quy mô sản xuất thử nghiệm.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã thu thập và xử lý các chuỗi số liệu thực nghiệm định lượng về hàm lượng đạm formol (tính bằng g/l hoặc thể tích chuẩn độ quy ước) và điểm cảm quan chất lượng sản phẩm:
| Nghiệm thức / Thông số khảo sát |
Đạm formol trung bình (g/l) |
Điểm cảm quan chung (thang 20) |
Ý nghĩa thống kê (ANOVA) |
| Thí nghiệm 1: Tỷ lệ mốc giống (ngày thứ 20) |
|
|
F = 81,45; P = 0,000 |
| - Nghiệm thức 1 (Tỷ lệ mốc 3%) |
7,63 (7,62667) |
- |
Nhóm khác biệt có ý nghĩa |
| - Nghiệm thức 2 (Tỷ lệ mốc 4%) |
7,18 (7,18000) |
- |
Nhóm khác biệt có ý nghĩa |
| - Nghiệm thức 3 (Tỷ lệ mốc 5%) |
6,75 (6,75000) |
- |
Nhóm khác biệt có ý nghĩa |
| Thí nghiệm 2: Tỷ lệ bã malt bia (ngày thứ 16) |
|
|
F = 120,67; P = 0,000 |
| - Mẫu 1 (10% bã malt + 90% bánh dầu) |
6,55 |
14,62 |
Khác biệt mức 95% LSD |
| - Mẫu 2 (20% bã malt + 80% bánh dầu) |
7,25 |
14,76 |
Khác biệt mức 95% LSD |
| - Mẫu 3 (30% bã malt + 70% bánh dầu) |
7,73 |
16,61 |
Điểm cảm quan cao nhất |
| - Mẫu 4 (40% bã malt + 60% bánh dầu) |
7,91 |
15,07 |
Khác biệt mức 95% LSD |
| - Mẫu 5 (50% bã malt + 50% bánh dầu) |
8,13 |
14,87 |
Khác biệt mức 95% LSD |
| - Mẫu 6 (Mẫu đối chứng nước tương thị trường) |
- |
16,76 |
Đối chứng thương phẩm |
| Thí nghiệm 3: Nồng độ acid HCl (ngày thứ 10) |
|
|
F = 260,79; P = 0,000 |
| - Mẫu 1 (Bổ sung HCl 6%) |
11,55 |
16,56 |
Cảm quan tối ưu, vị hài hòa |
| - Mẫu 2 (Bổ sung HCl 7%) |
12,43 |
14,70 |
Vị gắt hơn |
| - Mẫu 3 (Bổ sung HCl 8%) |
13,18 |
15,27 |
Vị gắt hơn |
| - Mẫu 4 (Mẫu đối chứng thị trường) |
- |
16,89 |
Đối chứng thương phẩm |
| Thí nghiệm 4: So sánh phương pháp (ngày thứ 10) |
|
|
|
| - Phương pháp vi sinh thuần túy (NT I) |
7,56 |
- |
Tăng chậm từ 5,21 lên 7,56 |
| - Phương pháp bán hóa giải nhẹ (NT II) |
11,47 |
- |
Tăng vọt từ ngày 7 sau acid |
Từ các kết quả trên, tác giả đã đề xuất bộ thông số công nghệ thích hợp cho quy trình sản xuất nước chấm bán hóa giải nhẹ từ bã malt bia và bánh dầu đậu phộng:
- Tỷ lệ nấm mốc giống cấy ban đầu: 3% khối lượng cơ chất (giúp tơ nấm phát triển đều, sinh hương thơm dễ chịu và tích lũy hoạt lực enzyme tối đa, cho đạm formol cao hơn mức 4% và 5%).
- Tỷ lệ phối trộn nguyên liệu tối ưu: 30% bã malt bia và 70% bánh dầu đậu phộng (cho chất lượng cảm quan hài hòa nhất với 16,61 điểm, tương đương nước tương thương phẩm 16,76 điểm, đồng thời đạt hàm lượng đạm formol 7,73 g/l ở giai đoạn lên men vi sinh).
- Nồng độ acid bổ sung tối ưu: HCl 6% (đạt điểm chất lượng cảm quan cao nhất 16,56 điểm, duy trì màu sắc cánh gián đẹp, mùi thơm đặc trưng, không bị gắt hoặc chát như ở nồng độ 7% và 8%).
Đóng góp của đồ án thể hiện ở việc chứng minh tính khả thi của việc tận dụng hai nguồn phế phụ phẩm công nghiệp dồi dào, giá rẻ để thay thế một phần hoặc toàn bộ đậu nành nguyên hạt; đồng thời thiết lập được phương thức kết hợp giữa enzyme vi sinh vật và acid loãng giúp rút ngắn thời gian thủy phân (tăng đạm formol từ 7,56 g/l lên 11,47 g/l ở ngày thứ 10), giảm chi phí sản xuất và hạn chế nguy cơ hình thành độc tố 3-MCPD.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Đề tài chỉ dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm và tiến hành trong thời gian tương đối ngắn (14 tuần) do hạn chế về điều kiện kinh phí.
- Nghiên cứu chưa tiến hành phân tích định lượng trực tiếp hàm lượng độc tố 3-MCPD tồn dư trong sản phẩm bán hóa giải và độc tố Aflatoxin từ nguồn bánh dầu đậu phộng bằng các phương pháp sắc ký hiện đại (như GC-MS hay HPLC) mà mới dựa trên các chỉ tiêu hóa lý thông thường và điểm cảm quan.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:
- Mở rộng quy mô thử nghiệm từ phòng thí nghiệm lên quy mô pilot (bán công nghiệp) để đánh giá độ ổn định của quy trình công nghệ và tính toán hiệu quả kinh tế kỹ thuật.
- Phân tích chuyên sâu các chỉ tiêu vệ sinh an toàn thực phẩm, định lượng chính xác nồng độ 3-MCPD, Aflatoxin B1 và các chỉ tiêu vi sinh vật gây hại theo quy chuẩn hiện hành trước khi đưa sản phẩm ra lưu thông thực tế.
Giá trị tham khảo
Đồ án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Công nghệ Sinh học, Công nghệ Thực phẩm và Kỹ thuật Môi trường đang làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp về lĩnh vực chế biến phế phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm hoặc công nghệ sản xuất nước chấm lên men.
- Giảng viên và các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm cần tài liệu tham khảo về phương pháp bố trí thí nghiệm thủy phân protein, phương pháp chuẩn độ đạm formol Sørensen, phân tích đạm Kjeldahl và kỹ thuật xử lý thống kê ANOVA cho thực phẩm lên men.
- Nội dung đáng giá nhất để tham khảo bao gồm bảng số liệu động thái tích lũy đạm formol theo thời gian, tỷ lệ phối trộn bã malt/bánh dầu và phương pháp đánh giá cảm quan theo TCVN 3215-79 có trọng số.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tỷ lệ mốc giống 3% lại cho kết quả đạm formol cao hơn tỷ lệ mốc 4% và 5%?
Trong thí nghiệm 1, nồng độ mốc 3% đạt đạm formol trung bình 7,63 g/l ở ngày thứ 20, cao hơn mức 7,18 g/l (ở tỷ lệ 4%) và 6,75 g/l (ở tỷ lệ 5%) với sai khác có ý nghĩa thống kê (F = 81,45; P = 0,000). Nguyên nhân là do ở tỷ lệ giống vừa phải (3%), nấm mốc phát triển cân đối với mật độ cơ chất, không bị cạnh tranh dinh dưỡng và dưỡng khí quá mức, tạo điều kiện tích lũy hoạt lực enzyme protease tối đa để phân giải protein triệt để hơn.
2. Tại sao tỷ lệ phối trộn 30% bã malt và 70% bánh dầu đậu phộng được lựa chọn dù tỷ lệ 50% bã malt cho đạm formol cao hơn?
Mặc dù mẫu 50% bã malt đạt đạm formol 8,13 g/l ở ngày 16, nhưng xét về tổng thể chất lượng cảm quan theo TCVN 3215-79, Mẫu 3 (30% bã malt + 70% bánh dầu) đạt điểm chung cao nhất là 16,61 điểm (trong đó điểm mùi đạt 5,33 và điểm vị đạt 4,97), gần tương đương với mẫu nước tương đối chứng trên thị trường (16,76 điểm). Tỷ lệ này tạo sự cân bằng hài hòa giữa hàm lượng đạm từ bánh dầu và các hợp chất đường, mùi thơm mạch nha từ bã malt bia.
3. Phương pháp bán hóa giải nhẹ giúp cải thiện hàm lượng đạm formol như thế nào so với lên men vi sinh đơn thuần?
Trong thí nghiệm 4, ở cùng mốc 10 ngày theo dõi, phương pháp vi sinh thuần túy chỉ tăng đạm formol từ 5,21 g/l lên 7,56 g/l. Trong khi đó, ở phương pháp bán hóa giải nhẹ, sau khi bổ sung HCl ở giai đoạn sau (ngày thứ 6), hàm lượng đạm formol tăng vọt từ 6,41 g/l lên 8,33 g/l (ngày 7) và đạt 11,47 g/l ở ngày 10, chứng minh hiệu suất bẻ gãy liên kết peptide diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng hơn.
4. Nồng độ acid HCl nào được kết luận là tối ưu cho quá trình bán hóa giải nhẹ trong đề tài?
Nồng độ HCl 6% được kết luận là tối ưu. Ở nồng độ này, sản phẩm đạt đạm formol 11,55 g/l ở ngày 10 và đạt điểm cảm quan cao nhất là 16,56 điểm (màu sắc đẹp, vị ngọt hậu của đạm, mùi thơm đặc trưng), trong khi các nồng độ HCl 7% (14,70 điểm) và HCl 8% (15,27 điểm) làm cho sản phẩm có vị mặn gắt, chua chát và kém hài hòa.
Kết luận
Đồ án tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Phương Hà đã nghiên cứu thành công quy trình công nghệ sản xuất nước chấm sạch bằng phương pháp bán hóa giải nhẹ, kết hợp giữa nuôi cấy nấm mốc Aspergillus oryzae và xử lý bổ sung acid HCl 6%. Công trình đã tận dụng hiệu quả hai nguồn phụ phẩm công nghiệp dồi dào là bã malt bia (30%) và bánh dầu đậu phộng (70%), tạo ra sản phẩm có hàm lượng đạm formol đạt 11,47–11,55 g/l cùng điểm cảm quan 16,56/20 điểm tiệm cận sản phẩm thương phẩm trên thị trường. Đây là tài liệu thực nghiệm có giá trị tham khảo tốt cho hướng nghiên cứu gia tăng giá trị phụ phẩm nông - công nghiệp và cải tiến công nghệ lên men thực phẩm truyền thống.