Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục đại học, đặc biệt tại các trường đào tạo sư phạm như Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả học tập của sinh viên là minh chứng phản ánh năng lực, ý chí và quá trình rèn luyện chuyên môn để trở thành đội ngũ nhà giáo tương lai. Kiểm tra và đánh giá kết quả học tập (KT, ĐG KQHT) giữ vị trí then chốt, là mắt xích điều chỉnh toàn bộ nội dung, hình thức và phương pháp dạy học của giảng viên, đồng thời cung cấp thông tin quản lí thiết yếu cho các cấp lãnh đạo.

Bối cảnh thực tiễn của công tác này gắn liền với chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục của Việt Nam, trong đó trọng tâm chuyển dịch từ kiểm tra khả năng ghi nhớ kiến thức sang đánh giá năng lực người học. Tuy nhiên, theo ghi nhận thực tế của tác giả tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh ở thời điểm nghiên cứu, hoạt động kiểm tra, đánh giá giữa các khoa chuyên ngành còn thiếu tính đồng bộ; nhiều trường hợp đánh giá chưa đảm bảo tính khách quan và công bằng. Công tác quản lí hoạt động này ở một số khâu còn thiếu sự quán triệt chặt chẽ từ cán bộ quản lí tới giảng viên, dẫn đến tình trạng điểm số chưa phản ánh sát năng lực thực tế. Hệ quả thực tiễn là một bộ phận cử nhân tốt nghiệp loại khá, giỏi vẫn gặp khó khăn khi tìm kiếm việc làm hoặc bị đơn vị tuyển dụng phản ánh về sự thiếu hụt kĩ năng nghề nghiệp.

Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Trương Nguyễn Hoài Ân đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Quản lí giáo dục với các mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi xác định:

  • Mục đích nghiên cứu: Xác định thực trạng công tác quản lí kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất hệ thống biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, đánh giá cũng như năng lực quản lí của nhà trường.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (được văn bản xác định gồm 3 nhiệm vụ):
    1. Phân tích và hệ thống hóa cơ sở lí luận về công tác quản lí kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
    2. Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lí kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
    3. Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lí kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại đơn vị khảo sát.
  • Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
    • Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lí đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lí việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Phạm vi không gian: Tiến hành khảo sát thực địa tại 06 khoa chuyên ngành của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm: Khoa Tiếng Anh, Khoa Giáo dục tiểu học, Khoa Giáo dục chính trị, Khoa Vật lí, Khoa Hóa học và Khoa Sinh học.
    • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu thực tiễn và tiến hành điều tra trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 02 năm 2015 (giai đoạn chuẩn bị và triển khai thi kết thúc học kỳ).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm và cơ sở phương pháp luận dựa trên các tài liệu chuyên ngành khoa học giáo dục và khoa học quản lí:

  • Khung lý thuyết và khái niệm công cụ:

    • Kiểm tra: Được tiếp cận theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Thanh niên, 2002) và quan điểm của Trần Thị Tuyết Oanh (2012), là quá trình thu thập thông tin, dữ liệu về số lượng và chất lượng các mục tiêu học tập (kiến thức, kĩ năng, thái độ) mà sinh viên đạt được, làm căn cứ cho đánh giá. Phân loại kiểm tra gồm 03 hình thức có mối quan hệ ràng buộc: kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ và kiểm tra tổng kết.
    • Đánh giá: Dẫn chiếu theo Hồ Sỹ Anh (2013), Đoàn Văn Điều (2004), Phó Đức Hòa (2007) và tài liệu của Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN (2013). Đánh giá được xác định là quá trình đưa ra nhận định về năng lực và phẩm chất của sản phẩm giáo dục căn cứ vào thông tin định tính và định lượng từ các phép đo.
    • Kết quả học tập: Phản ánh mức độ đạt được so với mục tiêu học tập xác định (theo tiêu chí) hoặc so sánh với người học khác (theo chuẩn), biểu hiện qua 03 lĩnh vực mục tiêu giáo dục theo thang phân loại nhận thức của B. Bloom (1956): kiến thức (biết, thông hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá), kĩ năng và thái độ.
    • Quản lí và quản lí kiểm tra, đánh giá: Dựa trên quan điểm của Trần Kiểm (2004), Hồ Văn Vĩnh (2006), Hồ Văn Liên (2012) và Cấn Thị Thanh Hương (2011). Quản lí KT, ĐG KQHT là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới hoạt động kiểm tra, đánh giá nhằm đạt được các mục tiêu đào tạo. Hệ thống quản lí này bao gồm 03 cấp chủ thể (Bộ môn/Khoa, Trường, Quản lí nhà nước), vận hành qua 04 chức năng quản lí cơ bản (lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra - giám sát) tác động lên 05 nội dung quản lí (mục tiêu, phương pháp, soạn thảo công cụ, tổ chức thực hiện, lưu trữ kết quả).
  • Cơ sở phương pháp luận:

    • Quan điểm hệ thống - cấu trúc: Vận dụng luận điểm của Ngô Đình Qua (2008), xem công tác quản lí kiểm tra, đánh giá là một hệ thống toàn diện gồm các yếu tố cấu thành hữu cơ: chủ thể, mục tiêu, nội dung, chức năng, phương pháp, công cụ, đối tượng và kết quả quản lí.
    • Quan điểm thực tiễn: Lấy thực tế hoạt động đào tạo và yêu cầu đổi mới giáo dục làm xuất phát điểm và tiêu chuẩn kiểm chứng.
    • Quan điểm lịch sử: Vận dụng quan điểm của Ngô Đình Qua và Trần Kiểm để xem xét sự biến đổi của các mô hình đánh giá và quản lí đánh giá qua các giai đoạn lịch sử.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:

    • Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các nguồn tài liệu trong và ngoài nước về kiểm tra, đánh giá và quản lí giáo dục.
    • Phương pháp quan sát: Tiến hành từ tháng 12/2014 đến tháng 02/2015, sử dụng máy ảnh, biên bản ghi chép để theo dõi hoạt động của chủ thể quản lí và giảng viên trong các đợt thi học kỳ.
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng hệ thống phiếu khảo sát cấu trúc hóa dành cho cán bộ quản lí (Trưởng/Phó khoa, Trưởng/Phó bộ môn) và giảng viên trực tiếp giảng dạy tại 06 khoa khảo sát.
    • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn sâu lãnh đạo khoa, bộ môn và giảng viên theo hệ thống câu hỏi soạn sẵn nhằm làm rõ các khía cạnh định tính của thực trạng quản lí.
    • Phương pháp thống kê toán học: Xử lí dữ liệu định lượng thu được từ phiếu điều tra thông qua phần mềm SPSS for Windows, sử dụng các đại lượng thống kê mô tả (tỉ lệ phần trăm, điểm trung bình) và các phép kiểm nghiệm thống kê cần thiết.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ đội ngũ cán bộ quản lí khoa/bộ môn và giảng viên thuộc 06 khoa đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong năm học 2014–2015; dữ liệu thứ cấp gồm các văn bản chỉ đạo, báo cáo chuyên môn và biểu mẫu theo dõi học tập của nhà trường.

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Tác giả trình bày lí do lựa chọn đề tài xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực và những bất cập nảy sinh trong khâu kiểm tra, đánh giá tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Phần này xác định mục đích nghiên cứu, khách thể, đối tượng, 03 nhiệm vụ nghiên cứu, 03 quan điểm phương pháp luận chỉ đạo và hệ thống các phương pháp nghiên cứu lí thuyết, thực tiễn cùng phương pháp thống kê qua SPSS for Windows. Giả thuyết khoa học của đề tài nhận định: công tác quản lí việc kiểm tra, đánh giá của trường đã đạt được kết quả nhất định ở khâu lập kế hoạch và tổ chức thực hiện, song vẫn còn hạn chế trong công tác chỉ đạo và kiểm tra, giám sát.

Chương 1: Cơ sở lí luận của công tác quản lí KT, ĐG KQHT của SV

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lí luận thông qua tổng thuật lịch sử nghiên cứu và chuẩn hóa hệ thống khái niệm. Tác giả điểm lại sự chuyển dịch triết lí kiểm tra, đánh giá trên thế giới từ giữa thập niên 80 của thế kỉ 20 với mô hình "Đánh giá vì sự thành công của người học", cùng các công trình nghiên cứu tiêu biểu tại Việt Nam như luận án của Cấn Thị Thanh Hương (2011) về mô hình quản lí tại Đại học Oxford và giáo dục đại học Hoa Kỳ; đề tài của Nguyễn Thị Hạnh (2008) tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương; nghiên cứu của Hồ Sỹ Anh (2013) về tiếp cận năng lực; và tài liệu của Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN (2013).

Về mặt lí luận chuyên môn, chương này phân tích sâu 04 chức năng của kiểm tra, đánh giá (định hướng; thúc đẩy, kích thích, tạo động lực; sàng lọc, lựa chọn; cải tiến, dự báo) và 11 nguyên tắc thực hiện (xác định rõ mục tiêu theo Bloom, viết mục tiêu đo lường được, nắm vững công cụ, coi kiểm tra là phương tiện thay vì mục đích, kết hợp đánh giá kiến thức - kĩ năng - thái độ...).

Đặc biệt, tác giả làm rõ bản chất, ưu điểm và nhược điểm của 04 phương pháp kiểm tra đánh giá phổ biến trong giáo dục đại học (được tổng hợp từ các bảng 1.2, 1.3, 1.4, 1.5 trong văn bản):

Phương pháp kiểm tra, đánh giá Ưu điểm cốt lõi Nhược điểm và hạn chế
Quan sát Kết quả thu được trung thực, khách quan; cung cấp dữ kiện sống động về kĩ năng thực hành và thái độ; kinh phí thực hiện thấp. Tính bị động cao do phải chờ hành vi xuất hiện; khó bao quát nhiều đối tượng trong cùng một thời điểm; dễ bị ảnh hưởng bởi hiện tượng bề ngoài.
Vấn đáp Cho kết quả và điểm số ngay; thu thập thông tin phản hồi hai chiều nhanh chóng; rèn luyện kĩ năng diễn đạt ngôn ngữ nói và thúc đẩy tự học. Tốn nhiều thời gian khi lớp đông; dễ gây căng thẳng tâm lí cho sinh viên; độ tin cậy của điểm số phụ thuộc lớn vào kĩ năng đặt câu hỏi và sự mệt mỏi của người chấm.
Viết dạng tự luận Đánh giá được chiều sâu tư duy, khả năng lập luận logic, năng lực tổng hợp và tính sáng tạo của người học; dễ chuẩn bị đề kiểm tra. Khó bao quát toàn bộ chương trình (thường chỉ có 2-3 câu); độ giá trị nội dung thấp; chấm bài tốn nhiều thời gian và dễ chịu tác động bởi tính chủ quan của người chấm.
Trắc nghiệm khách quan Độ tin cậy và độ giá trị cao; phạm vi phủ kiến thức rộng; chấm nhanh, chính xác; tránh được hiện tượng học tủ; giảm tải áp lực coi thi. Không đánh giá được quy trình tư duy dẫn đến kết quả; hạn chế trong việc đo lường tính sáng tạo; việc biên soạn ngân hàng câu hỏi chuẩn tốn nhiều công sức và chi phí.

Về công tác quản lí, tác giả phân định rõ 03 cấp quản lí trong trường đại học, trong đó cấp Khoa/Bộ môn là đơn vị quản lí trực tiếp; đồng thời thiết lập khung lí thuyết về 04 chức năng quản lí (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra - giám sát) và các tiêu chuẩn biên soạn công cụ đánh giá (câu hỏi tự luận và câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn).

Chương 2: Thực trạng quản lí KT, ĐG KQHT của SV Trường ĐHSP TPHCM

Chương 2 trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành tại 06 khoa của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên dữ liệu điều tra từ cán bộ quản lí và giảng viên, nội dung chương được phân tích theo hai trục chính:

  • Thực trạng theo 04 chức năng quản lí:
    • Khâu lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá được các khoa và bộ môn triển khai tương đối nền nếp, bài bản và đúng tiến độ khung của nhà trường (thể hiện qua dữ liệu Bảng 2.3, 2.4, 2.5).
    • Khâu chỉ đạo và khâu kiểm tra, giám sát bộc lộ nhiều điểm yếu (Bảng 2.6). Hoạt động giám sát quy trình ra đề, tổ chức thi và chấm thi tại một số đơn vị còn mang tính hình thức, chưa có cơ chế kiểm soát chéo chặt chẽ, tạo ra kẽ hở dẫn đến việc chấm thi thiếu đồng đều giữa các giảng viên.
  • Thực trạng theo các nội dung quản lí:
    • Quản lí mục tiêu và phương pháp: Giảng viên vẫn có xu hướng sử dụng thiên lệch phương pháp tự luận truyền thống, chưa phối hợp đa dạng các phương pháp trắc nghiệm hoặc quan sát thực hành (Bảng 2.7).
    • Quản lí soạn thảo công cụ: Công tác xây dựng ma trận đề và ngân hàng đề thi chưa được chuẩn hóa đồng bộ; nhiều câu hỏi kiểm tra còn nặng về tái hiện kiến thức, chưa đo lường được các cấp độ tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá) theo thang Bloom (Bảng 2.8, Hình 2.6).
    • Quản lí khâu tổ chức và lưu trữ kết quả: Các bước nhập điểm, lưu giữ bài thi được duy trì nhưng việc phản hồi nhận xét chi tiết cho sinh viên sau khi kiểm tra còn bị xem nhẹ (Bảng 2.9).
  • Nguyên nhân và hệ thống biện pháp đề xuất:
    • Phân tích nguyên nhân của ưu điểm (sự quan tâm của lãnh đạo trường, truyền thống sư phạm) và nguyên nhân của hạn chế (đội ngũ cán bộ quản lí kiêm nhiệm, thiếu ngân hàng đề chuẩn, năng lực đo lường giáo dục của một bộ phận giảng viên chưa đồng đều).
    • Tác giả xây dựng hệ thống các biện pháp nâng cao chất lượng quản lí kiểm tra, đánh giá, tập trung vào việc chuẩn hóa quy trình biên soạn công cụ, tăng cường hiệu lực của công tác kiểm tra - giám sát tại cấp bộ môn, và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí kết quả.

Kết luận và kiến nghị

Tác giả tóm kết các phát hiện nghiên cứu, đối chiếu với giả thuyết khoa học ban đầu và đưa ra các kiến nghị cụ thể chia theo hai nhóm đối tượng:

  • Đối với cán bộ quản lí cấp khoa: Cần tăng cường quản lí việc xây dựng ngân hàng đề thi; chỉ đạo chặt chẽ việc đa dạng hóa phương pháp đánh giá; duy trì nền nếp kiểm tra, thanh tra định kì các khâu ra đề, coi thi và chấm thi; xây dựng tiêu chí chấm điểm minh bạch.
  • Đối với giảng viên: Cần chủ động bồi dưỡng chuyên môn về đo lường và đánh giá giáo dục; tuân thủ nghiêm ngặt ma trận mục tiêu khi ra đề; chú trọng đánh giá kĩ năng và thái độ bên cạnh kiến thức; trả bài và cung cấp thông tin phản hồi kịp thời để giúp sinh viên điều chỉnh phương pháp học tập.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính:

    • Khóa luận đã kiểm chứng thành công giả thuyết khoa học: Công tác quản lí KT, ĐG KQHT của sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã vận hành tốt ở chức năng lập kế hoạch và tổ chức thực hiện, song các chức năng chỉ đạo và kiểm tra, giám sát vẫn còn nhiều khâu lỏng lẻo.
    • Phản ánh trung thực bức tranh sử dụng công cụ kiểm tra tại 06 khoa khảo sát: giảng viên vẫn phụ thuộc lớn vào phương pháp kiểm tra viết tự luận, tỷ lệ áp dụng trắc nghiệm khách quan chuẩn hóa còn hạn chế; việc kiểm tra, đánh giá nhìn chung còn thiên về đo lường trí nhớ và mức độ tích lũy tri thức thay vì tiếp cận phát triển năng lực nghề nghiệp.
    • Chỉ ra sự thiếu nhất quán trong quy trình quản lí lưu trữ kết quả và cung cấp thông tin phản hồi: sinh viên thường chỉ nhận được điểm số tổng kết mà thiếu các chỉ dẫn phản hồi sư phạm để sửa chữa lỗi sai.
  • Giải pháp và kiến nghị đề xuất:

    • Thiết lập quy trình quản lí chất lượng đồng bộ từ cấp Khoa đến Bộ môn đối với tất cả các khâu: biên soạn đề thi, duyệt đề, coi thi, làm phách, chấm bài và công bố điểm.
    • Kiến nghị cấp khoa tổ chức tập huấn chuyên sâu cho giảng viên về kĩ thuật viết câu hỏi tự luận mở và câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn theo chuẩn kiểm định chất lượng.
    • Đề xuất tăng cường công tác thanh tra, giám sát đột xuất và định kì hoạt động chấm thi, yêu cầu bắt buộc giảng viên phải có biểu điểm và đáp án chi tiết khi duyệt đề.
  • Đóng góp của khóa luận:

    • Về mặt lí luận: Khóa luận đã hệ thống hóa tường minh mô hình quản lí kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở bậc đại học dựa trên quan điểm hệ thống - cấu trúc, tích hợp giữa 04 chức năng quản lí (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, giám sát) với 05 nội dung quản lí chuyên môn.
    • Về mặt thực tiễn: Cung cấp tập dữ liệu khảo sát thực nghiệm cụ thể tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong năm học 2014–2015, đóng vai trò tài liệu tham khảo thực chứng cho các nhà quản lí giáo dục tại trường trong quá trình xây dựng chính sách đổi mới đánh giá theo học chế tín chỉ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Phạm vi khảo sát thực nghiệm mới dừng lại ở 06 khoa đào tạo (Tiếng Anh, Giáo dục tiểu học, Giáo dục chính trị, Vật lí, Hóa học, Sinh học) trong tổng số các khoa chuyên ngành của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, do đó mức độ khái quát hóa cho toàn trường còn có giới hạn nhất định.
    • Thời gian điều tra thực tế diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (từ tháng 12/2014 đến tháng 02/2015), chủ yếu tập trung vào đợt thi học kỳ nên chưa theo dõi được biến động của công tác quản lí qua trọn vẹn một năm học.
    • Mẫu nghiên cứu chủ yếu tập trung vào chủ thể quản lí (Trưởng/Phó khoa, Trưởng/Phó bộ môn) và giảng viên, chưa mở rộng điều tra quy mô lớn trên sinh viên để đối sánh dữ liệu phản hồi đa chiều.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng phạm vi điều tra khảo sát ra toàn bộ các khoa chuyên ngành và các bậc đào tạo khác nhau trong nhà trường.
    • Thiết kế nghiên cứu đa chiều kết hợp lấy mẫu diện rộng từ phía sinh viên để đối chiếu mức độ hài lòng và tính khách quan của công tác đánh giá.
    • Triển khai thử nghiệm thực tế (nghiên cứu can thiệp/thực nghiệm sư phạm) hệ thống các giải pháp quản lí đã đề xuất nhằm định lượng chính xác hiệu quả nâng cao chất lượng đào tạo.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Cán bộ quản lí giáo dục cấp khoa, bộ môn và phòng đào tạo: Tham khảo khung tiêu chí quản lí 04 chức năng (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) và các bảng chỉ báo giám sát quy trình kiểm tra đánh giá để hoàn thiện quy chế thi nội bộ.
  • Giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm: Tham khảo trực tiếp mục 1.3 và 1.4 của Chương 1 về các nguyên tắc sư phạm, kĩ thuật biên soạn câu hỏi tự luận mở, câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn và cách thức khắc phục nhược điểm của từng phương pháp kiểm tra.
  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lí giáo dục và Tâm lí - Giáo dục học: Vận dụng khung lí thuyết hệ thống - cấu trúc, hệ thống phiếu hỏi khảo sát và quy trình xử lí dữ liệu thống kê bằng SPSS for Windows khi thực hiện các đề tài nghiên cứu thực trạng quản lí dạy học tương tự.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tiếp cận chủ thể quản lí công tác kiểm tra, đánh giá ở bậc đại học gồm những cấp nào?
Theo khung lí luận tại Chương 1 (Hình 1.5), chủ thể quản lí gồm 03 cấp: Cấp 1 là Khoa/Bộ môn (quản lí trực tiếp và hỗ trợ chuyên môn trực tiếp); Cấp 2 là Nhà trường (cấp quản lí cao nhất trong cơ sở đào tạo, đóng vai trò quyết định thể chế nội bộ); Cấp 3 là Quản lí nhà nước (thực hiện chức năng ban hành chính sách và giám sát vĩ mô).

2. Tác giả đã phân tích ưu và nhược điểm của những phương pháp kiểm tra, đánh giá nào?
Khóa luận phân tích chi tiết 04 phương pháp phổ biến trong giáo dục đại học thông qua các bảng đối sánh chuyên biệt: phương pháp quan sát (Bảng 1.2), phương pháp vấn đáp (Bảng 1.3), phương pháp kiểm tra viết dạng tự luận (Bảng 1.4) và phương pháp kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan (Bảng 1.5).

3. Khảo sát thực trạng của đề tài được triển khai tại những khoa nào và vào thời gian nào?
Nghiên cứu thực địa được tiến hành từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 02 năm 2015, thu thập dữ liệu từ cán bộ quản lí và giảng viên thuộc 06 khoa của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, gồm: Tiếng Anh, Giáo dục tiểu học, Giáo dục chính trị, Vật lí, Hóa học và Sinh học.

4. Giả thuyết khoa học của khóa luận nhận định như thế nào về thực trạng quản lí tại trường?
Giả thuyết khoa học xác định: Công tác quản lí kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được kết quả nhất định trong việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch một cách nghiêm túc, khoa học; tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong công tác chỉ đạo và giám sát việc thực hiện kế hoạch.

5. Tác giả đề xuất những yêu cầu cụ thể nào đối với việc biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn?
Các yêu cầu cốt lõi bao gồm: câu hỏi phải đánh giá nội dung quan trọng; câu dẫn phải đặt ra vấn đề trực tiếp, rõ ràng, không trích nguyên văn sách giáo khoa; mỗi phương án nhiễu phải hợp lí đối với người chưa nắm vững bài và dựa trên các lỗi sai phổ biến của sinh viên; mỗi câu chỉ có một đáp án đúng nhất; tuyệt đối không dùng các phương án "Tất cả các đáp án trên đều đúng" hoặc "Không có phương án nào đúng".

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trương Nguyễn Hoài Ân đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề quản lí kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trên cả hai bình diện lí luận và thực tiễn. Tác giả đã vận dụng nhất quán quan điểm hệ thống - cấu trúc để phân tích 04 chức năng và 05 nội dung quản lí, đồng thời kiểm chứng thực nghiệm thành công giả thuyết khoa học về sự chênh lệch hiệu quả giữa khâu lập kế hoạch, tổ chức với khâu chỉ đạo, kiểm tra giám sát. Các giải pháp và kiến nghị được xây dựng sát hợp với đặc thù đào tạo sư phạm, mang lại giá trị tham khảo chuyên môn thiết thực cho công tác nâng cao chất lượng đào tạo theo định hướng tiếp cận năng lực.