Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của thế kỷ XXI, giáo dục giữ vai trò then chốt trong việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức. Để thực hiện mục tiêu này, công tác kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định là công cụ quản lý thiết yếu nhằm duy trì, cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục tại các cơ sở giáo dục quốc dân. Trong quy trình kiểm định, tự đánh giá là khâu mở đầu mang ý nghĩa nền tảng, giúp các nhà trường rà soát toàn diện hiện trạng, nhận diện điểm mạnh, điểm yếu và xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng nội bộ trước khi thực hiện đánh giá ngoài.
Tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện Chỉ thị số 46/2008/CT-BGDĐT ngày 05/8/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và định hướng từ năm học 2009–2010 về đổi mới quản lý giáo dục, công tác KĐCLGD đã được triển khai sâu rộng. Hội nghị sơ kết công tác KĐCLGD giai đoạn 2009–2015 do Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 11/11/2015 từng đặt chỉ tiêu phấn đấu đến hết năm học 2015–2016 có 100% các cơ sở giáo dục phổ thông hoàn thành tự đánh giá. Tuy nhiên, tính đến thời điểm nghiên cứu (năm 2017), mục tiêu này vẫn chưa hoàn thành. Mặt khác, các công trình nghiên cứu trước đây về KĐCLGD chủ yếu tập trung vào bậc giáo dục đại học hoặc trung học phổ thông, còn thiếu các khảo sát chuyên sâu tại bậc trung học cơ sở (THCS) vùng ngoại thành.
Khóa luận xác định mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Xác định thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá tại một số trường THCS huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này tại địa phương.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích và hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động tự đánh giá và quản lý hoạt động tự đánh giá của trường THCS.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá tại một số trường THCS huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá phù hợp với điều kiện thực tiễn của các trường THCS trên địa bàn khảo sát.
- Giả thuyết khoa học: Công tác quản lý hoạt động tự đánh giá của một số trường THCS huyện Bình Chánh được thực hiện khá thường xuyên và đạt được kết quả nhất định, song vẫn tồn tại hạn chế ở các chức năng: xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá. Đồng thời, tồn tại mối tương quan thuận ở mức thấp giữa mức độ thực hiện và kết quả thực hiện của từng chức năng quản lý hoạt động tự đánh giá.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động tự đánh giá của trường THCS.
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá của một số trường THCS huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nội dung: Khảo sát các chức năng quản lý bao gồm xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện; chỉ đạo thực hiện; kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch tự đánh giá.
- Phạm vi không gian: Tiến hành khảo sát thực tế tại 03 trường THCS trên địa bàn huyện Bình Chánh: Trường THCS Nguyễn Thái Bình, Trường THCS Nguyễn Văn Linh và Trường THCS Bình Chánh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận đề tài dựa trên hệ thống cơ sở lý luận quản lý giáo dục và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Nhà nước và ngành Giáo dục:
- Cơ sở pháp lý:
- Điều 17 Luật Giáo dục năm 2005 về kiểm định chất lượng giáo dục.
- Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003 của Chính phủ về việc thành lập Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục.
- Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục.
- Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên”.
- Khung khái niệm và tiêu chuẩn: Tác giả làm rõ các khái niệm cốt lõi gồm: Đánh giá, Chất lượng giáo dục, Kiểm định chất lượng giáo dục, Tự đánh giá và Quản lý hoạt động tự đánh giá. Hoạt động tự đánh giá trường THCS được phân tích dựa trên Bộ tiêu chuẩn ban hành kèm Thông tư 42/2012/TT-BGDĐT, bao gồm 05 tiêu chuẩn, 36 tiêu chí và 108 chỉ số, thực hiện qua quy trình 06 bước. Về mặt quản lý, tác giả vận dụng lý thuyết các chức năng quản lý trường học (Kế hoạch hóa – Tổ chức – Chỉ đạo – Kiểm tra, đánh giá).
| Tiêu chuẩn KĐCLGD theo Thông tư 42/2012/TT-BGDĐT |
Số lượng tiêu chí |
Nội dung trọng tâm |
| Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý nhà trường |
10 tiêu chí |
Cơ cấu bộ máy, tổ chuyên môn, tổ chức Đảng/đoàn thể, chiến lược phát triển, quản lý hành chính, an ninh trật tự. |
| Tiêu chuẩn 2: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh |
05 tiêu chí |
Năng lực hiệu trưởng/phó hiệu trưởng, trình độ chuyên môn đội ngũ, chế độ chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ học sinh. |
| Tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học |
06 tiêu chí |
Khuôn viên, phòng học, khối phòng phục vụ học tập, công trình vệ sinh, hệ thống cấp thoát nước, thư viện và thiết bị dạy học. |
| Tiêu chuẩn 4: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội |
03 tiêu chí |
Ban đại diện cha mẹ học sinh, công tác tham mưu cấp ủy chính quyền, phối hợp cộng đồng và đoàn thể địa phương. |
| Tiêu chuẩn 5: Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục |
12 tiêu chí |
Chương trình dạy học, đổi mới phương pháp giảng dạy, phổ cập giáo dục, bồi dưỡng học sinh, rèn luyện kỹ năng sống, tỷ lệ học lực, hạnh kiểm. |
- Quan điểm phương pháp luận: Đề tài quán triệt 03 quan điểm phương pháp luận khoa học: quan điểm hệ thống – cấu trúc (nghiên cứu tự đánh giá như một bộ phận hữu cơ của hệ thống quản lý chất lượng nhà trường); quan điểm thực tiễn (gắn các kết luận và giải pháp với thực tế kinh tế – giáo dục huyện Bình Chánh); và quan điểm lịch sử – logic (xem xét tiến trình triển khai KĐCLGD qua các giai đoạn).
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp và phân loại các tài liệu khoa học, văn bản quy phạm pháp luật để định hình khung lý thuyết.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến gửi đến cán bộ quản lý (CBQL) và giáo viên (GV) tham gia Hội đồng tự đánh giá, ban thư ký, các nhóm công tác tại 03 trường THCS chọn mẫu. Thang đo Likert 4 mức độ (từ mức 1: Thấp nhất đến mức 4: Cao nhất) được sử dụng để định lượng mức độ thực hiện và kết quả thực hiện.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Trực tiếp phỏng vấn Hiệu trưởng các trường THCS nhằm đối chiếu, làm rõ các dữ liệu định lượng thu được từ bảng hỏi.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0; tính Điểm trung bình (ĐTB), Độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định t-test cho hai mẫu độc lập (Independent Samples t-test) ở mức ý nghĩa $p \le 0{,}05$ để kiểm tra sự khác biệt ý kiến giữa CBQL và GV, đồng thời tính hệ số tương quan Pearson ($r$) để kiểm tra mối quan hệ giữa mức độ thực hiện và kết quả thực hiện của các chức năng quản lý.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự đánh giá của trường trung học cơ sở
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về tự đánh giá trường học trên thế giới và tại Việt Nam. Về mặt quốc tế, tác giả lược khảo các công trình của Christopher Bezzina, Alexander Bilšík, Jaap Scheerens, Gerry McNamara, Joe O’Hara và MacGilchrist Barbara, khẳng định tự đánh giá là công cụ xây dựng văn hóa chất lượng nội bộ và nâng cao trách nhiệm giải trình. Tác giả cũng tổng hợp mô hình tự đánh giá tại Hoa Kỳ (quy trình kéo dài 18 tháng), Tanzania, Vương quốc Anh, Áo, Bỉ, Croatia, Ireland, Scotland và Slovakia. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Phạm Thành Nghị, Nguyễn Đức Chính, Trần Khánh Đức cùng các luận văn, luận án của Đặng Thị Thủy Linh (2011), Lê Công Lợi (2011), Vũ Dương Uyên (2011), Phạm Anh Đức (2014), Huỳnh Thị Thanh Tú (2014) và Phạm Anh Tuấn (2015) được điểm luận nhằm khẳng định khoảng trống nghiên cứu ở bậc THCS tại vùng phụ cận TP.HCM.
Về nội dung lý luận quản lý, chương này tập trung phân tích 4 chức năng quản trị then chốt áp dụng vào hoạt động tự đánh giá:
- Xây dựng kế hoạch hoạt động tự đánh giá: Bao gồm việc nghiên cứu chủ trương, phân tích thực trạng, xác định mục đích, phạm vi, dự kiến nguồn lực, thời điểm huy động, danh mục minh chứng và lộ trình triển khai chi tiết theo năm học hoặc theo chu kỳ.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch: Thiết lập bộ máy Hội đồng tự đánh giá (tối thiểu 5 thành viên do Hiệu trưởng làm Chủ tịch theo Điều 24 Thông tư 42/2012/TT-BGDĐT), phân công nhiệm vụ cho các nhóm chuyên trách và nhóm thư ký phù hợp với năng lực chuyên môn.
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch: Tác động hành chính và điều hành của Ban Giám hiệu nhằm duy trì kỷ luật, đôn đốc, tập huấn nghiệp vụ, khích lệ đội ngũ vượt qua khó khăn trong việc thu thập và mã hóa minh chứng.
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện: Thiết lập tiêu chí kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch của các nhóm công tác, rà soát tính hợp thức của thông tin và điều chỉnh báo cáo tự đánh giá.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá của một số trường trung học cơ sở huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 2 trình bày bối cảnh thực tiễn của huyện Bình Chánh — địa bàn cửa ngõ phía Tây Nam Thành phố Hồ Chí Minh gồm 15 xã và 01 thị trấn Tân Túc, dân số trên 98% là người Kinh. Về giáo dục, năm học 2015–2016 toàn huyện có 17 trường THCS công lập; công tác phân luồng ghi nhận 622/3.830 học sinh sau tốt nghiệp THCS tham gia học Trung cấp chuyên nghiệp hoặc Giáo dục thường xuyên (chiếm tỷ lệ 17,3%). Đến tháng 4/2017, toàn huyện có 10/18 trường THCS đã thực hiện KĐCLGD. Tác giả chọn khảo sát điển hình tại 03 trường: THCS Nguyễn Thái Bình, THCS Nguyễn Văn Linh và THCS Bình Chánh.
Dữ liệu khảo sát CBQL và GV tại 03 trường được xử lý qua phần mềm SPSS 20.0 cho thấy các khía cạnh thực trạng sau:
- Nhận thức của CBQL và GV: Đa số CBQL và GV nhận thức rõ tầm quan trọng của tự đánh giá trong việc xác định điểm mạnh, điểm yếu và phục vụ mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, nhận thức về vai trò của tự đánh giá như một công cụ xây dựng văn hóa chất lượng thường xuyên vẫn còn hạn chế; một bộ phận giáo viên vẫn xem đây là công việc mang tính đối phó hành chính để chuẩn bị đón đoàn đánh giá ngoài.
- Khả năng thực hiện các bước trong quy trình tự đánh giá: Trong 06 bước tự đánh giá, bước "Thành lập Hội đồng tự đánh giá" và "Xây dựng kế hoạch" đạt điểm đánh giá cao và thực hiện thuận lợi nhất. Ngược lại, khâu "Thu thập, xử lý và phân tích các minh chứng" và "Viết báo cáo tự đánh giá" gặp nhiều khó khăn nhất do thiếu kỹ năng lưu trữ hồ sơ khoa học, minh chứng các năm học trước bị thất lạc hoặc không đầy đủ thông số định lượng.
- Thực hiện các nội dung theo tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn 1 (Tổ chức và quản lý nhà trường) và Tiêu chuẩn 5 (Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục) được thực hiện tốt với độ tin cậy minh chứng tương đối cao. Tiêu chuẩn 3 (Cơ sở vật chất, trang thiết bị) và Tiêu chuẩn 4 (Quan hệ nhà trường, gia đình, xã hội) gặp nhiều vướng mắc do hạn chế về kinh phí, diện tích trường lớp quá tải do áp lực tăng dân số cơ học tại huyện Bình Chánh.
- Thực trạng các chức năng quản lý: Khâu xây dựng kế hoạch và tổ chức được thực hiện ở mức khá thường xuyên. Tuy nhiên, khâu kiểm tra, đánh giá tiến độ và hỗ trợ kỹ thuật thu thập minh chứng chưa sâu sát. Kết quả phân tích hệ số tương quan Pearson ($r$) giữa mức độ thực hiện và kết quả thực hiện ở cả 3 chức năng (lập kế hoạch, tổ chức - chỉ đạo, kiểm tra - đánh giá) đều thể hiện tương quan thuận ở mức thấp, phản ánh tình trạng việc triển khai công tác quản lý còn nặng về hình thức, chưa tác động tương xứng đến chất lượng đầu ra của báo cáo tự đánh giá.
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá của một số trường trung học cơ sở huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
Từ cơ sở lý luận và kết quả khảo sát thực trạng, tác giả đề xuất hệ thống 06 biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự đánh giá tại các trường THCS huyện Bình Chánh:
- Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về hoạt động tự đánh giá: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền văn bản chỉ đạo của Bộ và Sở GD&ĐT; làm rõ mục đích tự đánh giá không chỉ phục vụ chứng nhận kiểm định mà cốt lõi là cải tiến chất lượng dạy và học định kỳ.
- Tập huấn, bồi dưỡng năng lực và kỹ thuật tự đánh giá cho đội ngũ nhân sự: Tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ thuật thu thập, phân loại, mã hóa minh chứng; phương pháp viết nhận định, đánh giá tiêu chí theo đúng hướng dẫn của Thông tư 42/2012/TT-BGDĐT.
- Xây dựng kế hoạch hoạt động tự đánh giá khoa học, khả thi: Hiệu trưởng cần chỉ đạo xây dựng lộ trình thời gian rõ ràng, phân bổ nhân lực hợp lý, dự báo trước danh mục minh chứng cần lưu trữ qua từng học kỳ thay vì dồn tích vào cuối chu kỳ 5 năm.
- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động tự đánh giá đồng bộ: Bố trí đúng người đúng việc trong Hội đồng tự đánh giá; thiết lập cơ chế phối hợp thông suốt giữa Ban Giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn, tổ văn phòng và các đoàn thể trong nhà trường; duy trì tiến độ báo cáo định kỳ.
- Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch tự đánh giá: Ban Giám hiệu chủ động thành lập tổ kiểm tra nội bộ, rà soát thường xuyên các hồ sơ minh chứng, phát hiện sai sót hoặc thiếu hụt để kịp thời uốn nắn, hiệu chỉnh báo cáo tự đánh giá trước khi hoàn thiện.
- Xây dựng chính sách đãi ngộ, thi đua đối với cán bộ quản lý, giáo viên thực hiện tốt hoạt động tự đánh giá: Đề xuất cơ chế giảm giờ dạy, tính điểm thi đua và khen thưởng thỏa đáng cho các thành viên trực tiếp thu thập minh chứng và viết báo cáo tự đánh giá nhằm tạo động lực làm việc lâu dài.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Khái quát bức tranh KĐCLGD huyện Bình Chánh: Đề tài đã phản ánh dữ liệu thống kê của Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục (Sở GD&ĐT TP.HCM) tính đến tháng 4/2017: có 10/18 trường THCS tại huyện Bình Chánh đã hoàn thành KĐCLGD (bao gồm các trường: THCS Nguyễn Văn Linh, THCS Tân Nhựt, THCS Nguyễn Thái Bình, THCS Đa Phước, THCS Tân Túc, THCS Gò Xoài, THCS Lê Minh Xuân, THCS Bình Chánh, THCS Hưng Long, THCS Qui Đức).
- Làm rõ rào cản kỹ thuật trong tự đánh giá: Nghiên cứu chỉ ra 2 khâu yếu nhất trong quy trình 6 bước tại các trường được khảo sát là: (1) Thu thập, xử lý và phân tích minh chứng; (2) Viết báo cáo tự đánh giá. Nguyên nhân chủ yếu do công tác quản lý lưu trữ văn bản hành chính - học vụ các năm trước thiếu tính hệ thống.
- Xác nhận giả thuyết về tương quan quản lý: Phân tích định lượng khẳng định mối tương quan thuận nhưng ở mức thấp giữa tần suất thực hiện các chức năng quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) và kết quả thực hiện tự đánh giá. Điều này chứng minh hiệu quả quản lý phụ thuộc nhiều vào chất lượng chuyên môn và năng lực điều hành thực chất chứ không chỉ dựa vào số lần triển khai văn bản.
- Đề xuất 06 biện pháp mang tính khả thi: Hệ thống giải pháp đề xuất bao quát từ khâu nhận thức, bồi dưỡng kỹ thuật, quy trình hóa các chức năng quản lý đến chế độ chính sách đãi ngộ cho đội ngũ kiêm nhiệm.
Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về quản lý chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng, cụ thể hóa các chức năng quản lý trường học vào một hoạt động chuyên biệt là tự đánh giá theo chuẩn Thông tư 42/2012/TT-BGDĐT.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp dữ liệu điều tra thực chứng đầu tiên về công tác tự đánh giá tại bậc THCS trên địa bàn một huyện ngoại thành có tốc độ đô thị hóa nhanh và áp lực dân số lớn như huyện Bình Chánh, giúp Phòng Giáo dục và Đào tạo cùng Ban Giám hiệu các trường nhận diện những lỗ hổng trong quản lý hồ sơ và tổ chức nhân sự.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi mẫu khảo sát: Khóa luận mới chỉ tiến hành khảo sát thực địa tại 03 trường THCS (Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Văn Linh, Bình Chánh) trong tổng số 18 trường THCS của huyện Bình Chánh, do đó tính đại diện chưa bao quát toàn bộ các loại hình trường lớp tại địa phương.
- Mức độ thử nghiệm giải pháp: Các biện pháp quản lý được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực trạng khảo sát, nhưng trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp đại học chưa có điều kiện triển khai thực nghiệm sư phạm dài hạn để đo lường định lượng mức độ chuyển biến của chất lượng giáo dục sau khi áp dụng.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi điều tra khảo sát trên toàn bộ 18 trường THCS của huyện Bình Chánh và so sánh đối chiếu với các quận nội thành hoặc các huyện ngoại thành khác của TP.HCM.
- Nghiên cứu cơ chế quản lý sau tự đánh giá, đặc biệt là việc xây dựng và giám sát kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục của các trường sau khi có kết luận chính thức từ đoàn đánh giá ngoài của Sở Giáo dục và Đào tạo.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Quản lý Giáo dục và Khoa học Giáo dục: Tham khảo cấu trúc nghiên cứu thực trạng quản lý một hoạt động chuyên môn trong trường học; phương pháp vận dụng lý thuyết các chức năng quản lý vào giải quyết vấn đề kiểm định chất lượng.
- Cán bộ quản lý trường THCS (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng): Sử dụng các biện pháp tổ chức, chỉ đạo và mẫu bảng hỏi, quy trình kiểm tra minh chứng để áp dụng trực tiếp vào việc thành lập Hội đồng và điều hành hoạt động tự đánh giá tại cơ sở.
- Chuyên viên phụ trách công tác khảo thí và kiểm định chất lượng: Tham khảo dữ liệu thực tế tại huyện Bình Chánh năm 2017 để nắm bắt các khó khăn phổ biến của giáo viên trong việc xử lý minh chứng và viết báo cáo, từ đó thiết kế các chương trình tập huấn kỹ thuật phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
1. Đề tài nghiên cứu tại những trường THCS cụ thể nào thuộc huyện Bình Chánh?
Tác giả chọn khảo sát trực tiếp tại 03 trường THCS trên địa bàn huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: Trường THCS Nguyễn Thái Bình, Trường THCS Nguyễn Văn Linh và Trường THCS Bình Chánh.
2. Hoạt động tự đánh giá trong khóa luận căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật nào của Bộ Giáo dục và Đào tạo?
Khóa luận căn cứ trực tiếp vào Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên”, gồm 05 tiêu chuẩn và 36 tiêu chí đánh giá.
3. Số liệu thống kê trong khóa luận ghi nhận có bao nhiêu trường THCS tại huyện Bình Chánh đã được kiểm định chất lượng tính đến tháng 4/2017?
Theo số liệu thống kê của Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục (Sở GD&ĐT TP.HCM) được trích dẫn trong khóa luận, tính đến tháng 4/2017, có 10/18 trường THCS trên địa bàn huyện Bình Chánh đã được KĐCLGD.
4. Tác giả đã sử dụng những công cụ và phương pháp thống kê nào để xử lý số liệu khảo sát?
Tác giả sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để tính Điểm trung bình (ĐTB), Độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định Independent Samples t-test (với mức ý nghĩa $p \le 0{,}05$) nhằm so sánh ý kiến giữa CBQL và giáo viên, đồng thời sử dụng hệ số tương quan Pearson ($r$) để kiểm tra mối quan hệ giữa mức độ thực hiện và kết quả thực hiện các chức năng quản lý.
5. Tác giả đã đề xuất bao nhiêu biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá ở Chương 3?
Tác giả đề xuất hệ thống gồm 06 biện pháp quản lý: (1) Nâng cao nhận thức của CBQL và GV; (2) Tập huấn, bồi dưỡng năng lực và kỹ thuật tự đánh giá; (3) Xây dựng kế hoạch hoạt động tự đánh giá; (4) Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; (5) Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch; (6) Xây dựng chính sách đãi ngộ đối với nhân sự tham gia tự đánh giá.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Ánh Hồng đã hệ thống hóa tường minh cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự đánh giá tại trường THCS theo chuẩn Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thông qua khảo sát thực tế tại 03 trường THCS thuộc huyện Bình Chánh (TP.HCM), công trình phản ánh khách quan thực trạng nhận thức, năng lực xử lý minh chứng và việc thực thi các chức năng quản lý của Ban Giám hiệu trong bối cảnh địa bàn ngoại thành đang phát triển. Hệ thống 06 biện pháp quản lý được đề xuất có tính đồng bộ, bắt nguồn trực tiếp từ các hạn chế thực chứng, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác đảm bảo chất lượng giáo dục phổ thông tại địa phương.