Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ CUA TRUONG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu van dé tự đánh gid 1. Nước ngoài Nhiều tác giả nước ngoài đã nghiên cứu về hoạt động tự đánh giá trường học.
Một số nghiên cứu tiêu biểu như sau: Christopher Bezzina, Rose Privitelli; Alexander Biltik, Jozef Kadnar; Nada Pozar Matijasic, Mateja Gajgar;. đã chi ra tam quan trọng của tự đánh giá trong quản lý chất lượng trường trung hoc và những lĩnh vực cần đánh giá trong trường hoc. Alexander Bilšík và Jozef Kadnár; Biljana Vrankovic, Maja Rebersak và Jasmina Muraja đã luận ban, trình bay, phân tích làm rõ về quá trình tự đánh gia, về một số quy định tự đánh giá trong trường trung hoc [29]. Jaap Scheerens, Cees Glas, Sally M.
Thomas đã nghiên cứu tự đánh giá từ quan điểm khoa học đến góc nhìn thực tế. Tự đánh giá trong nhà trường liên quan đến nhiều thành tố, đó là việc lập kế hoạch, cơ cấu lại hệ thống giáo dục, lý thuyết tổ chức về trường học, phương pháp đánh giá và mô hình trường học hiệu quả cũng như các biện pháp cải thiện trường học [36]. Gerry McNamara va Joe O’Hara đã chi ra tầm quan trong của tự đánh giá trong quản lý chất lượng trường trung học, nêu ra một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đánh giá, quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội đối với việc tự đánh giá ở trường trung học. Tác giả cũng cho biết tự đánh giá trường học yêu cầu nhà trường phải đánh giá tiến trình của họ đối với kế hoạch thanh tra, cung cấp những minh chứng xác thực; xác định điểm mạnh và điểm yếu; trình bảy và giải thích được các hoạt động đang diễn ra trong nhà trường [35].
Theo MacGilchrist Barbara, mục đích chính của tự đánh giá là nhằm thiết lập một nên văn hoá mà mọi người đều tin rằng họ có thé tạo ra sự khác biệt và việc cải tiến trường học là trách nhiệm của mọi thành viên trong nhà trường (34]. * Tình hình hoạt động tự đánh giá ở một số nước trên thé giới Các quốc gia trên thé giới luôn dé cao vai trò then chốt của tự đánh gid đối với việc đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. Ở Hoa Ki, tự đánh giá là quá trình tự học tập, tự hoàn thiện và tự nghiên cứu theo các chuân mực đã ban hành để nhà trường được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định. Quá trình tự đánh giá của Hoa Kì thường kéo dai 18 tháng, đây là khoảng thời gian cần thiết để nhà trường tự nhận thấy khuyết điểm và sửa chữa khuyết điểm ấy [29].
Ở Tanzania — một quốc gia Châu Phi, tự đánh giá trường học là quá trình mà nhà trường tự chủ động đánh giá mức độ đáp ứng mong muốn của các bên liên quan, bằng cách thu thập và phân tích một cách có hệ thống các thông tin liên quan đến nhà trường dé đưa ra những đánh giá mang tính chính xác, có giá trị [41]. Đối với các quốc gia châu Âu, theo quan điểm chính sách nhà nước, tự đánh giá là một cơ chế trao quyền cho các trường học đẻ họ tự theo dõi tình hình thực tế nhà trường, nâng cao chất lượng bên trong và cung cấp các thông tin cần thiết cho các bên liên quan bên ngoài nhà trường như cha mẹ học sinh vả toàn xã hội. Ở khía cạnh của các cơ sở giáo dục, tự đánh giá tập trung nhiều vào việc huy động các nguồn lực bên trong nhà trường, kêu gọi tất cả các thành viên nhà trường tham gia vảo việc lập kế hoạch, thực hiện tự đánh gia và xây dựng các kế hoạch cải tiến chất lượng trường, lớp và các hoạt động giáo dục. Ở Anh, tự đánh giá lả quá trình ma theo đó một trường học tự xem xét, đánh giá thực trạng trường minh dé dé ra các kế hoạch cải thiện chất lượng giáo dục nhả trường.
Mục đích của tự đánh giá là thông báo kế hoạch cải tiến chất lượng, thúc đây việc học tập hiệu quả, nâng cao các tiêu chuẩn chất lượng và tạo ra một bầu không khí chuyên nghiệp với sự tin tưởng, hợp tác của các thành viên nhà trường. Tự đánh gid có hiệu quả khi được triển khai, thực hiện minh bạch, mọi thành viên trong nhả trường đều là một phần trong quá trình tự đánh giá [44]. Ở Áo, tự đánh giá là một hoạt động bắt buộc đối với các trường THCS, nhằm xác định thực trạng nhà trường, có biện pháp cải tiến và nâng cao chất lượng trường học [42]. Ở Cộng đồng nói tiếng Pháp của Bi, hằng năm các trường học phải tự đánh giá việc thực hiện kế hoạch giáo dục của trường mình, trên cơ sở đó đề xuất các điều chỉnh và kiến nghị trong Báo cáo hoạt động, thẻ hiện rõ việc đạt hay chưa đạt được mục tiêu đề ra [42].
Ở Cộng hòa Croatia, tự đánh giá đề cập đến các quá trình, mối quan hệ và các điều kiện mà trong đó quá trình giáo dục được thực hiện. Mục tiêu tự đánh giá là xác định một cách có hệ thống tình trạng hiện tại của các khu vực chất lượng khác nhau liên quan đến nhà trường, xác định những ưu điểm và hạn chế của thực tiễn giáo dục; khuyến khích các cơ sở giáo dục cải thiện và nâng cao chất lượng. Đây được xem như mục tiêu chiến lược ở Croatia, nhằm phục vụ cho việc cải tiền hệ thống giáo duc ở tat cả các cấp va tạo sự phù hợp với các nguyên tắc giáo dục hiện tại của châu Âu [39]. Ở Ireland, tự đánh giá là bắt buộc vì đây là một phan thiết yêu trong quá trình lập kế hoạch phát triển của các trường học.
Nhà trường phải đảm bảo rằng quy trình phát triển trường học thường xuyên được xem xét va cập nhật [42]. Ở Scotland, tự đánh giá là một thành tố quan trọng trong khung đảm bảo chất lượng giáo dục trường học. Tự đánh giá trong trường học là việc các thành viên nhà trường tự xem xét, đánh giá xem trường mình đã đạt được tiêu chuẩn 10 về chất lượng hay chưa. Tự đánh giá la một quả trình tự nguyện tham gia của các cơ sở giáo dục và có mỗi liên hệ chặt chẽ với toàn cảnh giáo dục Scotland.
Việc tự đánh giá đạt chất lượng cao sẽ góp phan cài tiến liên tục chất lượng giáo dục người học và giúp nhà trường đạt được những thành tích xuất sắc trong thực tiễn giáo dục [29]. Ở Cộng hỏa Slovakia, tự đánh giá trường học là một phần không thé thiếu của công tác quan lý và là một công cụ góp phan tạo ra những thay đổi tích cực trong các cơ sở giáo dục. Tự đánh giá không chỉ là một biện pháp đảm bảo chất lượng trường học mà còn đảm bảo sự tổn tại và phát triển bền vững của nha trường. Các hoạt động tự đánh giá cần được chuẩn bị và lên kế hoạch dé diễn ra một cách linh hoạt, các mục tiêu tự đánh giá được xác định đảm bào tính khả thi và nhiệm vụ tự đánh giá được thực hiện bởi cá nhân hay các bộ phận trong nhà trường.
Hoạt động tự đánh giá được tô chức dựa trên nhu cầu của các cơ sở giáo dục và tinh than tự nguyện tham gia của các thành viên nhà trường. Quy trình tự đánh giá diễn ra thường xuyên hoặc có hệ thống, theo chu kỳ bắt đầu từ việc các cơ sở giáo dục xác định được thực trạng điểm mạnh, điểm yếu cùng với thời cơ, thách thức mà nhà trường đang đối mặt. Kết quả tự đánh giá được the hiện thông qua Báo cáo tự đánh giá [38]. Trong nước Tại Việt Nam, nhiều tác giả đã đề cập đến việc tự đánh giá chất lượng giáo dục, tuy nhiên chỉ chủ yếu tập trung vào giáo dục đại học.
Có thể nêu ra một so nghiên cứu tiêu biểu sau: Các tác giả Phạm Thành Nghị [20] và Phạm S¥ Tiến [25] đã trình bày các quan niệm về chất lượng và một số khái niệm khác có liên quan đến chất lượng như đánh giá, kiểm toán, KĐCLGD,. thông qua việc hệ thống hóa một số quan niệm trên thé giới. Nội dung tự đánh giá trong quản lý chất lượng đã được một số tác giả đề cập đến. Nguyễn Đức Chính [9], Tran Khánh Đức [11] đã nêu vai trò, quy trình và nội dung tự đánh giá cơ sở giáo dục đại học.
Phạm Thành Nghị đã đi sâu vào nghiên cứu tự đánh giá trong quản lý chất lượng các cơ sở giáo dục đại học (20]. Tác giả nêu và phân tích chi tiết các phương diện của tự đánh giá như: quan niệm, bối cảnh, nhu cầu tự đánh giá, nội dung, các bước cũng như việc thiết kế quá trình và tiến hành hoạt động tự đánh giá. * Tình hình hoạt động tự đánh giá ở Việt Nam Những nghiên cứu nêu trên đã cung cấp một số thông tin bổ ích thuộc phương điện lý luận về tự đánh giá, KĐCLGD. Còn trên khía cạnh thực tiễn, bắt đầu từ năm 2002, việc xây dựng cơ quan KĐCLGD được Bộ GD&ĐT quan tâm và thực hiện, từ đây hệ thống KĐCLGD ở nước ta được hình thành và đi vào hoạt động.
Tháng 01 năm 2002, Phòng Kiểm định chất lượng đảo tạo thuộc Vụ Đại học được thành lập. Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng được thành lập sau đó theo Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ. Những cơ sở lý luận hay việc thành lập các tỏ chức kiểm định nêu trên đa số đều tập trung vào giáo dục đại học. Kiểm định chất lượng không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với các trường đại học, cao đăng mà đây còn là hoạt động vô cùng cần thiết đối với các bậc học khác trong hệ thông giáo dục quốc dân Việt Nam.
Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc “Quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục” đã có một chương đề cập đến vấn đề KĐCLGD. Ngày 12 tháng 5 năm 2009, Bộ trưởng Bộ GD&DT ban hành Thông tư số 12/2009/TT-BGDĐT, Quy định về tiêu chuan đánh giá chất lượng giáo dục trường THCS. Ngày 06 tháng 4 năm 2012, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 13/2012/TT-BGDĐT, Quy 12 định về Tiêu chuẩn đánh giá trường trung học cơ sở, trường trung học phô thông, và trường pho thông có nhiều cap học.