Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Vị trí, chức năng, vai trò của điều dưỡng 1.1 Khái niệm về điều dưỡng Điều dưỡng là một môn nghệ thuật và khoa học nghiên cứu cách chăm sóc bản thân khi cần thiết, chăm sóc người khác khi họ không thể tự chăm sóc. Tuy nhiên tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà định nghĩa về điều dưỡng được đưa ra khác nhau [4],[5]. Theo Nightingale 1860: "Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụngmôi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ"; [4],[5]. Theo Virginia Handerson 1960:“Chức năng duy nhất của người điềudưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao hoặc phục hồi sức khỏe của người bệnh hoặc người khỏe, hoặc cho cái chết được thanh thản mà mỗi cá thể có thể tự thực hiện nếu họ có sức khỏe, ý chí và kiến thức.
Giúp đỡ các cá thể sao cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt";[4],[5]. Theo quan điểm hội đồng điều dưỡng Mỹ năm 1965: Điều dưỡng là một nghề hỗ trợ cung cấp các dịch vụ chăm sóc đóng góp vào việc hồi phục và nâng cao sức khỏe. Với quan niệm này chức năng nghề nghiệp của người điều dưỡng là chẩn đoán (Diagnosis) và điều trị (treatment) những phản ứng của con người đối với bệnh hiện tại hoặc bệnh có tiềm năng xảy ra; Theo Hội điều dưỡng Mỹ năm 1980: "Điều đưỡng là chẩn đoán vàđiều trị những phản ứng của con người đối diện với bệnh hiện tại hoặc bệnh có tiềm năng xảy ra" [4],[5]. Theo Tổ chức Y tế thế giới: "Điều dưỡng bao gồm chăm sóc và phối hợp chăm sóc với các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và cộng đồng, người bệnh hay người khỏe và trong mọi tình huống.
Nó bao gồm thúc đẩy sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, chăm sóc người ốm, người tàn tật và cả tử vong". Theo Hội đồng điều dưỡng quốc tế: "Điều dưỡng bao gồm chăm sóc và phối hợp chăm sóc với các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và cộng đồng, người bệnh hay người khỏe và trong mọi tình huống. Điều dưỡng bao gồm thúc đẩy 4 sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, chăm sóc người ốm, người tàn tật và cả tử vong. Vận động thức đẩy một môi trường an toàn, nghiên cứu, tham gia hoạch định chính sách y tế, quản lý hệ thống y tế và giáo dục cũng là vai trò của điều dưỡng".
Tại Việt Nam điều dưỡng viên (ĐDV) từng được gọi là y tá. Hiện nay, theo cách dịch mới và thống nhất chuẩn quốc tế, các bệnh viện đã thống nhất dùng thuật ngữ điều dưỡng viên.2 Vị trí của điều dưỡng viên. Trong các cơ sở y tế, người bệnh là đối tượng phục vụ của ĐDV. Do vậy ĐDV cần phải hiểu mỗi cá thể ở một phương diện nào đó giống tất cả mọi người, ở một phương diện khác chỉ giống một số người, có những phương diện không giống ai.
Con người cũng có cá tính riêng biệt, có thể thay đổi khi bị tác động bởi các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần trong môi trường sống, làm việc và tùy thuộc vào khả năng đáp ứng của mỗi con người đó. Điều dưỡng viên là lực lượng trực tiếp chăm sóc sức khỏe cho người dân ở cộng đồng và trong các cơ sở y tế với chi phí hợp lý và hiệu quả; Đóng góp tích cực vào việc phòng và kiểm soát bệnh tật thông qua truyền thông giáo dục sức khỏe, khuyến khích lối sống lành mạnh cho người dân trong cộng đồng; Duy trì và tăng cường sức khỏe, đồng thời đóng góp vai trò to lớn làm giảm tỉ lệ tử vong. Phân loại của Maslow: rất hữu ích để làm nền tảng cho ĐDV thực hiện công việc nhận định tình trạng về bệnh tật của người bệnh, về những giới hạn và nhu cầu đòi hỏi sự can thiệp chăm sóc. Những nhu cầu này bao gồm: nhu cầu về thể chất và sinh lý; nhu cầu về an toàn và an ninh; nhu cầu về tình cảm và mối quan hệ; nhu cầu được tôn trọng; nhu cầu tự hoàn thiện.
Theo Virginia Henderson thì thành phần của chăm sóc cơ bản bao gồm 14 yếu tố. ĐDV cần nhận biết nhu cầu người bệnh để có kế hoạch đáp ứng trong quá trình thực hiện CSNB, bao gồm đáp ứng nhu cầu về: hô hấp, ăn uống, giúp đỡ người bệnh về sự bài tiết, tư thế, vận động; …[4],[5].3 Chức năng của điều dưỡng viên Người điều dưỡng viên có trình độ đại học phải là người thực hiện được các chức năng [4]: 5 - Chức năng chủ động: bản thân người điều dưỡng chủ động CSNB; thực hiện “Quy trình điều dưỡng” để chăm sóc toàn diện người bệnh nhằm đáp ứng nhu cầu mà bệnh nhân và gia đình họ mong muốn. - Chức năng phối hợp: là phối hợp với bác sỹ trong việc CSNB; phối hợp thực hiện các thủ thuật, thực hiện theo dõi và CSNB để cùng bác sỹ hoàn thành nhiệm vụ chữa bệnh để người bệnh sớm được ra viện. - Chức năng phụ thuộc: là thực hiện có hiệu quả các y lệnh của bác sỹ.4 Vai trò của điều dưỡng viên - Vai trò thực hành đạt được thông qua đánh giá việc áp dụng quy trình điều dưỡng như: Nhận định; chẩn đoán; lập kế hoạch chăm sóc; thực hiện kế hoạch và đánh giá người bệnh sau khi thực hiện chăm sóc[4],[5].
- Vai trò lãnh đạo: ĐDV sử dụng kỹ năng lãnh đạo trong nhiều hoàn cảnh khi thực hiện nhiệm vụ. - Tại bệnh viện, ĐDV chủ động giúp đỡ người bệnh để đáp ứng các nhu cầu cơ bản khi họ yêu cầu hoặc thực hiện các công việc chăm sóc điều trị cùng bác sỹ cho người bệnh. Nhiều khi người bệnh cản trở việc thực hiện, ĐDV cần phát huy vai trò lãnh đạo bằng cách thuyết phục, giải thích để họ cộng tác trong quá trình điều trị bệnh để mau chóng khỏi bệnh. - Tại cộng đồng, ĐDV giúp đỡ người bệnh cô đơn, một gia đình, hoặc cụm dân cư để thay đổi các hành vi liên quan đến sức khỏe.
Người điều dưỡng cần sử dụng các văn bản dưới luật, các chiến dịch, các công trình dịch vụ công cộng hướng về sức khỏe, các dự án hỗ trợ,… để làm tốt vai trò lãnh đạo của mình [4],[5]. - Vai trò nghiên cứu: Nghiên cứu điều dưỡng là góp phần tạo cơ sở khoa học cho hành nghề điều dưỡng. Thông qua các công trình nghiên cứu để xác định các kết quả của chăm sóc điều dưỡng và mang lại các bằng chứng khoa học thực tiễn từ đó rút kinh nghiệm và cải thiện chất lượng chăm sóc.5 Nhiệm vụ của Điều dưỡng ĐDV có nhiệm vụ chăm sóc người bệnh toàn diện (CSNBTD), bắt đầu từ khi nhập viện, trong khi nằm viện tới lúc xuất viện. Họ có nhiệm vụ phải nhận định tình trạng NB, đánh giá về sự đáp ứng của họ đối với bệnh tật để từ đó chẩn đoán ĐD và 6 vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và các Tiêu chuẩn ĐD để lập kế hoạch chăm sóc, thực hiện kế hoạch chăm sóc, đánh giá toàn trạng và ghi chép diễn biến trường hợp bệnh nặng và cấp cứu để điều chỉnh kịp thời.
Bên cạnh đó ĐD còn có nhiệm vụ phải phối hợp với bác sĩ trong thực hiện kế hoạch CSNBTD như thực hiện, theo dõi giám sát ĐD cấp dưới trong thực hiện y lệnh, tư vấn, giáo dục sức khoẻ và đào tạo (ĐT) cho học sinh (HS), sinh viên (SV), học viên (HV), chỉ đạo tuyến, nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, ĐD còn có nhiệm vụ quản lý tài sản, vật tư, trang thiết bị, môi trường làm việc, phát triển nghề nghiệp và phải hành nghề theo y đức và pháp luật. Nhiệm vụ cụ thể - yêu cầu trình độ của ĐDV Theo Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức y tế ĐD ban hành kèm theo Quyết định số 41/2005/ QĐ - BNV ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Nộivụ thì ĐD tùy theo trình độ đào tạo có yêu cầu nhiệm vụ và năng lực khác nhau, tuy nhiên nói chung điều dưỡng có những nhiệm vụ tổng quát đó là: - Duy trì và nâng cao sức khỏe. - Phòng chống bệnh tật.
- Chăm sóc người bệnh. - Phục hồi sức khỏe.2 Một số khái niệm về năng lực và các yêu tố ảnh hưởng 1.1 Khái niệm về năng lực Một số định nghĩa năng lực được dùng trong tâm lý, giáo dục học như: Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm.Hay năng lực khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Chuẩn năng lực (Competency standard): là những mức trình độ, khả năng đáp ứng được nhu cầu công việc thực tế, được công nhận qua đánh giá, kiểm định theo những chuẩn năng lực nghề nghiệp. 7 Năng lực nghề nghiệp (professional competency): là sự phù hợp giữa những thuộc tính tâm sinh lý của con người với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra.
Ở mỗi một nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu cụ thể khác nhau, nhưng tóm lại năng lực nghề nghiệp được cấu thành bởi 3 thành tố: kiến thức chuyên môn, kỹ năng và trách nhiệm, thái độ hành nghề chuyên nghiệp.1Mô hình chung cấu trúc năng lực. Năng lực và năng lực nghề nghiệp đều không có sẵn mà được hình thành và phát triển liên tục qua học tập, lao động tích cực và thực hành chuyên môn. Năng lực có hai đặc trưng cơ bản: 1.Được bộc lộ qua hoạt động; 2.Đảm bảo hoạt động có hiệu quả. Năng lực nghề nghiệp còn có thể được phân chia thành năng lực cốt lõi và năng lực chuyên môn.
Mỗi một hoạt động nghề nghiệp đều cần bốn năng lực cơ bản: năng lực cá nhân, năng lực chuyên môn, năng lực quản lý và năng lực xã hội. Khung năng lực: là hệ thống cụ thể hóa các hành vi cần thiết của năng lực ở các bậc khác nhau, áp dụng với các vị trí khác nhau trong doanh nghiệp, tổ chức để hoàn thành tốt vai trò/công việc. Như vậy, theo một cách dễ hiểu, năng lực là tập hợp kiến thức, kỹ năng và hành vi của cá nhân để hoàn thành mục đích công việc.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực Tất cả các yếu tố tác động đến việc hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, hành vi và động cơ làm việc của cá nhân sẽ ảnh hưởng đến năng lực.