phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý của thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở 6 Chƣơng 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 1. Khái quát về dân chủ và pháp luật về dân chủ ở cơ sở 1. Khái quát về dân chủ ở cơ sở - Khái niệm dân chủ ở cơ sở Qua nghiên cứu cho thấy thuật ngữ "dân chủ" ra đời sớm vào thế kỷ thứ VII-VI trước công nguyên, người đầu tiên đặt nền móng cho nguyên lý này là nhà triết học cổ đại Xôlông. Theo tiếng Hy Lạp thì "dân chủ" là một từ ghép của hai từ Demos (người bình dân) và Kratos (quyền lực).
Như vậy, với nguyên nghĩa của từ dân chủ có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực của nhân dân. Đồng thời có nhiều quan niệm khác nhau về dân chủ, do cách tiếp cận, mục đích tiếp cận khác nhau, cụ thể: Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác -Lênin, Dân chủ là một nhu cầu khách quan của nhân dân lao động, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Trong xã hội có giai cấp và nhà nước thì chế độ dân chủ thể hiện chủ yếu qua nhà nước, mỗi chế độ dân chủ gắn với nhà nước đều mang bản chất giai cấp thống trị xã hội, khi có chế độ dân chủ thì luôn luôn với tư cách phạm trù lịch sử chính trị. Khi có nhà nước dân chủ, thì dân chủ còn có ý nghĩa là một hình thức nhà nước, có quản lý xã hội theo pháp luật và thừa nhận ở nhà nước đó quyền lực thuộc về nhân dân.
I Lênin viết: “Chế độ dân chủ, đó là một Nhà nước thừa nhận việc thiểu số phục tùng đa số, nghĩa là sự tổ chức đảm bảo cho một giai cấp thi hành bạo lực một cách có hệ thống chống lại giai cấp khác” [46,Tr 101]. Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với giá trị truyền thống của dân tộc đã lý giải khái niệm "dân chủ" một cách đơn giản, nhưng hết sức cô đọng và điều quan trọng là mọi người dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm soát. Người nói: "Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là dân làm chủ" [33, tr.
"Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ" [31, tr. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Dân chủ là hình thức tổ chức 8 thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế xã hội nhất định” [44, tr. Từ những quan niệm, định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu dân chủ là một phương thức cầm quyền mà cho phép các cá nhân, các nhóm và tất cả các chủ thể khác nhau trong xã hội có những cơ hội bình đẳng để tham gia các tiến trình và hoạt động chính trị một cách đầy đủ và thực sự.
Dân chủ ở nước ta được thực hiện ở nhiều phạm vi khác nhau, trong đó có phạm vi ở cơ sở và được gọi là dân chủ ở cơ sở. Trước khi làm rõ phạm vi khái niệm dân chủ cơ sở chúng ta cần làm rõ khái niệm cơ sở. Về nội hàm của khái niệm cơ sở thì hiện nay cơ sở được hiểu bao gồm nhiều loại hình đơn vị khác nhau. Theo nghĩa hẹp, cơ sở là cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống chính quyền nhà nước, đó là xã, phường, thị trấn mà gọi tắt là cấp xã.
Chính quyền cơ sở có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta. Cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước, nơi thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất. Chính quyền cấp xã là nền tảng của nền hành chính nhà nước. Qua quá trình đổi mới, Đảng ta ngày càng có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về cơ sở, coi cơ sở là hình ảnh tập trung của chế độ dân chủ.
Do vị trí, vai trò của cấp xã như trên mà việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn là nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, phường, thị trấn, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu tham nhũng, góp phần vào sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Theo nghĩa rộng, cơ sở là đơn vị xã hội nhỏ nhất do nhân dân tổ chức nên. Các cộng đồng dân cư với số lượng người nhiều hay ít khác nhau cùng sống 9 trên một phạm vi lãnh thổ nhất định như thôn, làng, ấp, bản, khu dân cư.đều được coi là tổ chức cơ sở của xã hội. Cấp cuối cùng nhỏ nhất của một hệ thống cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội đều được coi là tổ chức cơ sở.
Như vậy, dân chủ ở cơ sở nói chung đề cập đến cả dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan hành chính, doanh nghiệp nhà nước và các loại hình khác, còn dân chủ ở cơ sở mà luận văn này tập trung nghiên cứu là dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn hiện nay chính là việc thực hiện các quy định của Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước Việt Nam ban hành. Dân chủ cơ sở cũng chính là dân chủ, là quyền lực, quyền làm chủ thuộc về nhân dân trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Tuy nhiên, khái niệm dân chủ cơ sở có phạm vi hẹp hơn nhưng lại cụ thể hơn khái niệm dân chủ, đó là quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân dân ở nơi cư trú: xã, phường, thị trấn… và cơ quan, đơn vị công tác của từng người dân, đó chính là việc người dân được quyền tham gia đóng góp ý kiến của mình vào các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội ở địa phương mình.
Từ những phân tích trên, cho thấy dân chủ cơ sở là biểu hiện cụ thể của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, là sự đảm bảo nguyên tắc toàn bộ quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân tại cơ sở trên cơ sở thực hiện quyền được biết, quyền được bàn và quyết định, quyền được tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định và quyền giám sát đối với những nội dung có liên quan tới đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của người dân ở cơ sở bằng những hình thức nhất định, phù hợp với các nguyên tắc, quy định của pháp luật. - Hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở Hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở bao gồm: Hình thức dân chủ đại diện và hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đại diện là việc nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua các cơ quan, tổ chức đại diện cho họ theo nghĩa rộng. Các cơ quan, tổ chức đại diện cho quyền lực và quyền làm chủ của nhân dân bao gồm: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan nhà nước khác, các đoàn thể, các 10 tổ chức xã hội.
Dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện ý chí trực tiếp, có nghĩa là nhân dân trực tiếp làm chủ, trực tiếp tham gia xây dựng và quản lý Nhà nước ở xã, phường, thị trấn. Thể hiện thông qua việc trưng cầu ý dân; chế độ bầu và bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; hỏi ý kiến nhân dân, đưa ra thảo luận các chủ trương, chính sách, các quyết định quản lý; khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu tố của nhân dân; chế độ công khai, báo cáo công việc trước nhân dân của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước; nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh trật tự trên địa bàn địa phương, cơ sở; chế độ tự phê bình trước dân; tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu tố, đơn thư dân nguyện; xây dựng chế độ và các tổ chức tự quản đời sống cộng đồng, tập thể. Với tầm quan trọng của dân chủ ở cơ sở như vậy nên Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở nhấn mạnh: "Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp, rộng rãi nhất" [4, tr 1]. Khái quát pháp luật về dân chủ ở cơ sở - Khái niệm pháp luật về dân chủ ở cơ sở Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Pháp luật chỉ phát sinh và tồn tại, phát triển trong xã hội có giai cấp, vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính xã hội, tính giai cấp và xã hội của pháp luật rất khác nhau và thường hay biến đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, đạo đức, quan điểm, đường lối chính trị của mỗi nước ở một thời kỳ lịch sử nhất định. Bên cạnh đó, pháp luật và Nhà nước là hai thành tố của thượng tầng chính trị - pháp lý, luôn có mối quan hệ khăn khít không thể tách rời nhau.