CHƯƠNG 1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1. Khái niệm NCC với cách mạng và chính sách NCC với cách mạng 1. Người có công Cho đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu lịch sử nào đề cập đến khái niệm NCC; tuy nhiên, từ các dấu tích lịch sử để lại như đền thờ, miếu thờ, đình làng. được Nhân dân lập ra để thờ cúng Thành hoàng làng, những anh hùng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc, thậm chí một số nhân vật truyền thuyết đã có công lập nước, lập làng, mở mang bờ cõi hoặc có công lao trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm; có thể suy luận rằng quan niệm về NCC trong lịch sử khá rộng, không chỉ là những NCC trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, mà còn bao gồm cả những NCC đóng góp công sức để mở mang bờ cõi, lập nước, lập làng giúp dân vượt qua thiên tai, địch họa.
Tuy nhiên, khái niệm thương binh, liệt sĩ chính thức được sử dụng, đề cập trong các văn bản cùng với sự thành công của Cách mạng tháng Tám và sự ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Càng về sau thì các đối tượng càng được mở rộng hơn và được gọi chung là: NCC. Khái niệm “NCC” được gắn với việc quy định chế độ chính sách ưu đãi trong Pháp lệnh ưu đãi NCC với cách mạng năm 1994 và được sửa đổi, bổ sung năm 2005 và 2012 như sau: (1) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 - 01 - 1945 là người tham gia hoạt động cách mạng trước ngày 01-01-1945; được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương hoặc được kết nạp lại trước ngày 19-8-1945, được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định tại Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 24-12-1977 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IV) về chính sách, chế độ đối với cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm và Thông tri số 07-TT/TC ngày 21-3-1979 của Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn vận dụng tiêu chuẩn và xác nhận những đối tượng hưởng chính sách, chế độ đối với người hoạt động cách mạng trước ngày 19-8- 9 1945 [14, tr. (3) Liệt sĩ là người hy sinh thuộc một trong các trường hợp: Chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia; trực tiếp phục vụ chiến đấu trong khi địch bắn phá: tải đạn, cứu thương, tải thương, đảm bảo thông tin liên lạc, cứu chữa kho hàng, bảo vệ hàng hóa và các trường hợp đảm bảo chiến đấu; làm nghĩa vụ quốc tế mà bị chết trong khi thực hiện nhiệm vụ hoặc bị thương, bị bệnh phải đưa về nước điều trị và chết trong khi đang điều trị; trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự; dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng và an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; do ốm đau, tai nạn trong khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng và an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao… [14, tr.
(4) Bà mẹ Việt Nam anh hùng: Danh hiệu cao quý này được ban hành theo Pháp lệnh ngày 29 tháng 8 năm 1994 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và được quy định trong Luật Thi đua khen thưởng năm 2003. (5) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân: là danh hiệu cao quý được Nhà nước phong tặng hoạt truy tặng theo quy định của pháp luật. (6) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến bao gồm: là danh hiệu cao quý được Nhà nướctuyên dương vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến. (7) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh là người bị 10 thương trong các trường hợp: chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia; trực tiếp phục vụ chiến đấu trong khi địch bắn phá: tải đạn, cứu thương, tải thương, đảm bảo thông tin liên lạc, cứu chữa kho hàng, bảo vệ hàng hóa và các trường hợp đảm bảo chiến đấu; hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể; Làm nghĩa vụ quốc tế mà bị thương trong khi thực hiện nhiệm vụ… [14, tr.
(8) Bệnh binh là người bị mắc bệnh thuộc một trong các trường hợp sau: chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia; trực tiếp phục vụ chiến đấu trong khi địch bắn phá; hoạt động liên tục ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 15 tháng trở lên; hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật chưa đủ 15 tháng nhưng có đủ 10 năm trở lên công tác trong quân đội nhân dân, công an nhân dân…. (9) Người HĐKC bị nhiễm CĐHH là người được cơ quan có thẩm quyền công nhận đã công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ ngày 01 tháng 8 năm 1961 đến 30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học ở chiến trường B, C, K; mắc bệnh theo danh mục bệnh tật do Bộ Y tế quy định làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên; vô sinh; sinh con dị dạng, dị tật theo danh mục dị dạng, dị tật do Bộ Y tế quy định [14, tr. (10) Người hoạt động cách mạng hoặc HĐKC bị địch bắt tù, đày: là người được tham gia hoạt động cách mạng mà bị tù đày. Trong thời gian bị tù, đày người đó không khai báo các vấn đề, nội dung có hại cho cách mạng, cho kháng chiến; họ không làm tay sai, chỉ điểm cho địch.
(11) Người HĐKC giải phóng dân tộc [14, tr. (12) Người giúp đỡ cách mạng: là người đã có công giúp đỡ cách nmangj và được cơ quan có thẩm quyền công nhận [14, tr. Nhu cầu, đặc điểm của NCC với cách mạng 1. Nhu cầu của NCC với cách mạng 11 NCC với cách mạng cũng như bao người dân bình thường khác trong xã hội, đều có nhu cầu, mong muốn có gia đình đông đủ, sum vầy, mạnh khỏe, có cuộc sống vật chất và tinh thần đầy đủ, ấm no và hạnh phúc, có điều kiện, cơ hội vươn lên làm giàu chính đáng.
Tuy nhiên, NCC là người đã tham gia kháng chiến, bản thân họ có những thiệt thòi nhất định về sức khỏe, tinh thần, khuyết, thiếu những điều kiện, cơ hội phát triển như những thành phần khác trong xã hội; đại đa số những đối tượng này đều ở trong hoàn cảnh rất khó khăn, cần được quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, động viên, hỗ trợ, giúp đỡ của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Đặc điểm của NCC với cách mạng Vì đã trải qua những cuộc chiến nên NCC với cách mạng là những người luôn luôn trân trọng quá khứ, tự hào về những công lao đóng góp của bản thân và gia đình cho sự nghiệp cách mạng. Trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc, vì mảnh đất máu thịt của quê hương, đất nước, họ đã không ngại hy sinh tuổi thanh xuân, thân thể, sinh mạng, tài sản để cống hiến cho công cuộc đấu tranh giành tự do cho đất nước, độc lập cho dân tộc. Khi đất nước được hòa bình, độc lập, thống nhất, thời thanh xuân trẻ trung, sôi nổi đã qua đi, thậm chí có nhiều người mất đi một phần thân thể của mình, mang trong mình những vết thương không lành, làm ảnh hưởng tới sức khỏe, gây ra nỗi đau về thể xác, bệnh tật cho bản thân và tốn kém chi phí chữa bệnh của gia đình.
Về với cuộc sống đời thường, họ vẫn luôn sống gương mẫu, luôn thể hiện tinh thần đấu tranh quyết liệt với những tiêu cực của xã hội. Như vậy, có thể thấy, NCC là những người có uy tín, có sự ảnh hưởng, để vận động nhân dân hưởng ứng thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước không ngừng phát triển theo quy luật khách quan; môi trường, điều kiện của nền kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường đòi hỏi sự nhanh nhạy, thích nghi và không “ưu tiên” cho người không bắt kịp xu thế; do đó với hoàn cảnh khó khăn, đôi lúc họ cũng có tâm trạng mặc cảm, cảm thấy mình bị thiệt thòi, thua thiệt, mất mát hơn so với những người xung quanh. Chính sách công 12 Hiện nay, thuật ngữ “chính sách” được sử dụng phổ biến trên sách báo, các phương tiện thông tin và đời sống xã hội, tuy nhiên về mặt học thuật, vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm chính sách.
Tại Việt Nam, Từ điển bách khoa toàn thư đã đưa ra khái niệm chính sách như sau: Chính sách là tập hợp những quyết định, chương trình, đề án, dự án về phương diện nào đó của chính phủ bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Ở Việt Nam, khoa học chính sách công là một ngành khoa học, và khái niệm chính sách công đã được nhiều tác giả quan tâm. Theo tác giả Lê Chi Mai - Học viện Hành chính quốc gia, thì: chính sách công “là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định” [23]. Tác giả Đỗ Phú Hải đưa ra cách định nghĩa về chính sách công trong điều kiện chính trị cụ thể của Việt Nam: “Chính sách công là một tập hợp các chương trình, quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”[13].
Như vậy, chính sách công là những quyết sách để dẫn dắt, định hướng sự phát triển của xã hội theo mục tiêu của mình đồng thời đáp ứng nhu cầu xã hội của người dân. Chính sách công có thể chi phối chung tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, song có những chính sách chỉ tập trung chi phối, cụ thể riêng biệt đối với từng ngành, từng lĩnh vực của đời sống xã hội với những mục tiêu nhất định.