Chương 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đối với người có công. Thực tiễn thực hiện chính sách đối với người có công tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƢỜI CÓ CÔNG 1. Các khái niệm và thuật ngữ liên quan 1. Các khái niệm Chính sách đối với NCC là một bộ phận của hệ thống chính sách xã hội mà cụ thể là chính sách bảo đảm xã hội. Chính sách bảo đảm xã hội (hay còn gọi là an toàn xã hội - an sinh xã hội) là sự bảo vệ của Nhà nước, của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công.
Trong hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta, gồm có ưu đãi xã hội đối với những NCC với đất nước; bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong các thành phần kinh tế; cứu trợ xã hội đối với những người không may bị rủi ro, khó khăn hoặc hiểm nghèo. Như vậy, có thể thấy bảo đảm xã hội là sự bảo vệ, giúp đỡ của Nhà nước, của cộng đồng đối với mọi thành viên của mình, trong đó có người có công. Tuy nhiên, chính sách ưu đãi xã hội không chỉ là sự bảo vệ, sự giúp đỡ mà còn là sự thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng đối với một bộ phận dân cư đặc biệt - những người có công. Chính vì vậy, chính sách ưu đãi xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng trong chính sách xã hội nói riêng và trong hệ thống chính sách bảo đảm xã hội nói chung.
Chính sách đối với người có công là phương tiện, công cụ quản lý có hiệu lực mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần trong lĩnh vực ưu đãi xã hội đối với NCC. Chính sách đối với NCC được ban hành thể hiện chính sách “Đền ơn đáp nghĩa”, là thực hiện nghĩa vụ công dân và công bằng xã hội, đây không phải là sự “đền bù”, bởi lẽ sự hy sinh của NCC là cao quý, vì đại nghĩa, bằng xương máu, bằng tài sản và tính mạng thì không gì có thể so sánh được, không gì có thể đền bù được. Sự “Đền ơn đáp nghĩa” không chỉ là vật chất thuần túy mà còn là đạo lý, truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam, là lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc của nhiều thế hệ hôm nay và mai sau đối với NCC. Từ quan niệm nêu trên, chúng ta có thể định nghĩa về chính sách đối với 8 người có công như sau: “Chính sách đối với người có công là tập hợp các quyết định chính trị - pháp lý có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề của người có công nhằm tôn vinh, ưu đãi, chăm sóc, nuôi dưỡng theo mục tiêu tổng thể của chính sách đã được xác định”.
Các thuật ngữ “Uống nước nhớ nguồn”,“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là truyền thống hết sức tốt đẹp và quý báu của dân tộc Việt Nam chúng ta, việc tri ân, biết ơn đối với NCC khai phá, mở mang bờ cõi, chống chọi với thiên tai khắc nghiệt và chống giặc ngoại xâm đã được người Việt chúng ta thực hiện từ rất lâu trong lịch sử. Để ghi nhận và biết ơn đối với những người có công lập nước, khai phá đất đai, giúp dân giữ làng, những tấm gương hy sinh vì nước chống giặc ngoại xâm; Nhân dân ta đã tự phát vận động đóng góp tiền của xây dựng Đền thờ, Lăng, Miếu, Đình làng… và thường xuyên thờ cúng. Đạo lý tôn thờ, hậu đãi NCC với đất nước đã được kế thừa và phát huy trong thời đại Hồ Chí Minh và là nền tảng sức mạnh để đất nước ta “Nở hoa độc lập, kết trái tự do”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh dù bận trăm công, nghìn việc, nhưng người vẫn nhớ đến các gia đình thương binh, liệt sĩ và giành nhiều tình cảm và quan tâm đến gia đình họ; cũng chính Người đã khởi xướng và nêu lên những quan điểm cơ bản về ưu đãi NCC và hình thành chính sách ưu đãi thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ.
Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ ngày 10-3-1946, Người viết: “Tôi kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc đấu tranh cho nước nhà. Sự hy sinh đó không phải là uổng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, có biết bao nhiêu người con ưu tú của dân tộc hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước, Bác Hồ đã ra thông báo gửi đến các gia đình liệt sĩ xin được nhận con của các liệt sĩ làm con nuôi của mình. Trong thời điểm đất nước gặp muôn vàn khó khăn, vất vả trăm bề ấy, Người luôn kêu gọi đồng bào phải biết ơn, nhường cơm, xẻ áo, giúp đỡ những gia đình và thân nhân liệt sĩ; Người thường gửi quà, thậm chí cả những khoản lương tháng ít ỏi của mình để giúp đỡ những thương binh và gia đình liệt sĩ.
Đồng thời, để có cơ sở thực hiện chế độ, chính sách đối với NCC, ngày 16-02- 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng 9 thương tật và tiền tuất tử sĩ”. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên thể hiện chính sách của Nhà nước đối với NCC trong công cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc; sau đó được bổ sung bằng Sắc lệnh số 242/SL ngày 12-10-1948, “Quy định tiêu chuẩn xác nhận thương binh, truy tặng tử sỹ”, thực hiện chế độ “Lương hưu thương tật” đối với thương binh, chế độ “Tiền tuất” đối với gia đình liệt sỹ. Ngay sau khi đất nước được hoàn toàn thống nhất (30-4-1975), bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn xác định công tác thương binh, liệt sĩ và NCC là một trong những vấn đề cần quan tâm hàng đầu của đất nước; đã có nhiều chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật quy định chế độ ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, NCC giúp đỡ cách mạng, bắt đầu từ Chỉ thị số 223/CT-TW ngày 08-7-1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định yêu cầu nhiệm vụ của công tác thương binh, liệt sỹ sau chiến tranh; Văn kiện các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII của Đảng trong thời kỳ đổi mới của đất nước đã coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và NCC vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của nhân dân. Vấn đề ưu đãi người và gia đình có công đã trở thành nguyên tắc hiến định và được ghi nhận trang trọng ở Chương V, Điều 67 của Hiến pháp năm 1992: “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước.
Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và đời sống ổn định. Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc”. Nguyên tắc này đã được thể chế trong Pháp lệnh về “Ưu đãi người HĐCM, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người HĐKC, NCC giúp đỡ cách mạng” do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 29-8-1994; Pháp lệnh “Ưu đãi người có công cách mạng” số 26/2005/PL- UBTVQH11 do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 29-6-2005 và được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH ngày 16-7-2012 “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng” và hàng loạt các văn bản pháp luật quy định, hướng dẫn triển khai tổ chức thực hiện. Đây là một 10 bước tiến dài, từng bước hoàn thiện chính sách ưu đãi NCC, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm tạo điều kiện, cơ hội tốt nhất để góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với NCC.
Căn cứ vào công lao đóng góp, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đất nước; đồng thời để có chính sách ưu đãi phù hợp, Nhà nước ta đã quy định một cách cụ thể về NCC được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể như sau: + Người HĐCM trước ngày 01-01-1945 là người Tham gia hoạt động cách mạng trước ngày 01-01-1945; Được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương hoặc được kết nạp lại trước ngày 19-8-1945, được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định tại Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 24-12-1977 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IV) về chính sách, chế độ đối với cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm và Thông tri số 07-TT/TC ngày 21-3-1979 của Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn vận dụng tiêu chuẩn và xác nhận những đối tượng hưởng chính sách, chế độ đối với người hoạt động cách mạng trước ngày 19-8-1945 [22, tr. + Người HĐCM từ ngày 01-01-1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là Người hoạt động cách mạng thoát ly là người đã tham gia trong các tổ chức cách mạng, lực lượng vũ trang từ cấp huyện hoặc cấp hành chính tương đương trở lên trong khoảng thời gian từ ngày 01-01-1945 đến ngày khởi nghĩa của từng địa phương và sau đó tiếp tục tham gia một trong hai cuộc kháng chiến (trừ trường hợp do yêu cầu giảm chính, phục viên hoặc không đủ sức khỏe) [22, tr.