CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG 1. Người có công và chính sách ưu đãi người có công 1. Khái niệm người có công và đặc điểm của người có công với cách mạng * Khái niệm người có công: Chính sách ưu đãi NCC với cách mạng đã thực hiện từ lâu, ngày 16-02- 1947, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”. Sắc lệnh này thể hiện chính sách nhân văn của Nhà nước ta đối với NCC; một năm sau chính sách này được bổ sung bởi Sắc lệnh 242/SL ngày 12 tháng 10 năm 1948 về quy định tiêu chuẩn xác nhận thương binh, truy tặng tử sỹ, thực hiện chế độ lương hưu thương tật cho thương binh và chế độ tiền tuất đối với gia đình liệt sỹ.
Truyền thống và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” từ ngàn đời nay của Nhân dân ta, là cội nguồn sức mạnh đại đoàn kết dân tộc suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Vấn đề ưu đãi NCC đã trở thành nguyên tắc Hiến định và được ghi nhận trang trọng ở Chương III, Điều 59, Khoản 1 của Hiến pháp năm 2013 quy định : “Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với NCC với nước”. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, việc thể chế hóa nguyên tắc này được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh “Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, NCC giúp đỡ cách mạng” vào ngày 29 tháng 8 năm 1994. Đây là một bước tiến dài, từng bước hoàn thiện chính sách ưu đãi NCC, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm tạo điều kiện, cơ hội tốt nhất để góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với NCC, 8 n mãi cho đến nay chưa có một văn bản pháp luật nào nêu rõ khái niệm NCC.
Song có thể dựa vào các quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn cho mỗi đối tượng là NCC, do đó quan niệm về NCC hiện nay ở 2 nghĩa, cụ thể đó là: Theo nghĩa rộng, “người có công với cách mạng là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước. Họ là người có những thành tích đóng góp hoặc những cống hiến xuất sắc phục vụ vì lợi ích của đất nước, của dân tộc” được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo qui định của pháp luật. Ở nghĩa này có thể xác định những tiêu chí cơ bản của người có công, đó phải là những người có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc. Những hy sinh, cống hiến thiêng liêng của họ được xã hội tôn vinh và sự công nhận của Nhà nước có thể là trong đấu tranh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc và cũng có thể là trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Bởi xuất phát từ lịch sử và đặc điểm của dân tộc ta trong quá trình đấu tranh giành, giữ và dựng nước, nên đối tượng NCC là một bộ phận lớn những người đã hy sinh quên mình, cống hiến cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước. Họ là lực lượng những NCC với đất nước, với cách mạng được nhân dân và Nhà nước ta ghi nhận với lòng biết ơn sâu sắc. Nên đối tượng NCC với cách mạng là những người được pháp luật Nhà nước công nhận mà không có sự phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, tộc người, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp…, bởi họ đã quên mình để cống hiến sức lực, trí tuệ và mạng sống của mình vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng phát triển đất nước, vì lợi ích quốc gia dân tộc và sự bình an của xã hội, mà không hề đòi hỏi hay yêu cầu phải bù đắp. Theo nghĩa hẹp, người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng 9 n chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận.
Ở nghĩa này, người có công bao gồm người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng. Căn cứ vào công lao đóng góp, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đất nước; đồng thời để có chính sách ưu đãi phù hợp với từng đối tượng, Nhà nước ta đã quy định một cách cụ thể về NCC được thể hiện trong Pháp lệnh “Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng” do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 29/8/1994, được sửa đổi, bổ sung, thay thế qua các năm 2000, 2002, 2005, 2007, 2012; và Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”; gần đây, tại Khoản 1, Điều 4 trong Dự thảo lần 2 về Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (Sửa đổi) năm 2019 đã định nghĩa: Người có công với cách mạng là người hy sinh, chết, bị thương hoặc có đóng góp thành tích, công lao trong các thời kỳ cách mạng từ năm 1925 đến 31/12/1991 hoặc trong xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc; xứng đáng được Đảng, Nhà nước và Nhân dân tôn vinh và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định. Như vậy, có thể xác định cụ thể từng đối tượng như sau: - Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945. - Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa 10 n tháng Tám năm 1945.
- Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của Nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong các trường hợp sau đây: + Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; + Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch; + Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục mà hy sinh; + Làm nghĩa vụ quốc tế; + Đấu tranh chống tội phạm; + Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; + Do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; + Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao; + Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm; + Thương binh hoặc là đối tượng được thụ hưởng chính sách như thương binh theo quy định ở khoản 1 và khoản 2 tại Điều 19 của Pháp lệnh 04/2012/UBTVQH13 chết vì vết thương tái phát. - Bà mẹ Việt Nam anh hùng là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Các bà mẹ được tặng/ truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” khi thuộc một trong những trường hợp dưới đây: + Có 2 con trở lên là liệt sĩ; 11 n + Chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sĩ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; + Chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sĩ; + Có 1 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ; + Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong kháng chiến là người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”; người được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến.
- Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong các trường hợp sau đây: + Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; + Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể; + Làm nghĩa vụ quốc tế; + Đấu tranh chống tội phạm; + Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; + Làm nhiệm vụ quốc phòng an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; + Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao; + Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm. 12 n - Đối tượng thụ hưởng chính sách như thương binh là những người không phải là công an nhân dân, quân nhân, họ bị thương và bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thuộc diện một trong những trường hợp theo quy định như thương binh, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận về người hưởng chính sách như thương binh.