Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ DANH HIỆU VINH DỰ NHÀ NƯỚC BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG 1. Cơ sở lý luận chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Hội nghị Trung ương lần thứ 5) đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01 tháng 6 năm 2012 một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020; Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) ban hành Chỉ thị số 35- CT/TW, ngày 21/5/2004 “Về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”; Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 21 tháng 5 năm 2004 “Về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”, khen thưởng người có công cách mạng. Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngày 29 tháng 8 năm 1994 và Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20 tháng 10 năm 2012, Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Thực hiện Pháp lệnh về danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm1993 và năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 176- NĐ/CP ngày 23 tháng 10 năm 1994 và số Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ, Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2013, Nghị định số 20/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công cách mạng trong đó có Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BQP-BLĐTBXH ngày 10 tháng 10 năm 2014 giữa Bộ 12 Nội vụ, Bộ Quốc phòng và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định, hướng dẫn thực hiện Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ.
Điều đó đã chứng tỏ Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách ngưới có công, chính sách đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng, những người đã có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Chính sách này không chỉ thực hiện trong một giai đoạn mà còn tiếp tục thực hiện lâu dài nhằm tôn vinh, giáo dục truyền thống lịch sử cho các thế hệ con cháu mai sau, làm giàu giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách công Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau của các học giả trong và ngoài nước về chính sách công.
Theo tác giả Thomas Dye (1972): Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hay không làm. Tác giả William Jenkins (1978) lại cho rằng: Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan với nhau do một hoặc một nhóm nhà hoạt động chính trị ban hành, liên quan tới lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền. Tác giả Nguyễn Khắc Bình cho rằng: Chính sách công là hoạt động mà Chính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện để điều hòa các xung đột trong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định [15]. Đỗ Phú Hải định nghĩa về chính sách công ở Việt Nam như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để lựa chọn mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền”.
Nguyễn Hữu Hải khái niệm: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có 13 liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội”. Lê Chi Mai khái niệm chính sách công theo một số nội dung sau đây: + Chủ thể ban hành chính sách công mang phạm vi rộng (ngành, lĩnh vực, toàn quốc) là nhà nước do các cơ quan trong bộ máy nhà nước ban hành và cơ quan Nhà nước và cũng có có thể trở thành chủ thể ban hành các “chính sách tư” khi ban hành các chính sách điều tiết hoạt động trong phạm vi tổ chức mình, đoàn thể hay cơ quan riêng biệt đó (phạm vi hẹp, nội bộ). Do đó, các cơ quan trong bộ máy nhà nước vừa là chủ thể ban hành chính sách công cũng vừa là chủ thể ban hành chính sách tư. Sự khác biệt là ở chỗ các chính sách tư do các cơ quan nhà nước ban hành là những chính sách nhằm giải quyết những vấn đề thuộc về nội bộ cơ quan đó, không có hiệu lực thi hành bên ngoài cơ quan cả về mặt vị trí địa lý cũng như chức năng, nội quy, quy chế hoạt động của cơ quan đó.
Chính sách do nhà nước ban hành gọi là chính sách công và có thể coi là chính sách nhà nước. + Các quyết định này là những quyết định hành động bao gồm cả những hoạt động thực tiễn. Nó không chỉ thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách mà còn bao gồm những hành động thực hiện các dự định theo ý chí của chủ thể ban hành. + Chính sách công trước hết thể hiện dự định của đảng chính trị, các nhà hoạch định chính sách nhằm làm thay đổi hoặc duy trì một hiện trạng nào đó.
Nó phải bao gồm các hành động thực hiện dự định mục tiêu và mang lại kết quả trong thực tế. Nếu có ban hành mà không thực thi thì những định hướng đó không được coi là chính sách hoặc thất bại chính sách. Trong nghiên cứu này, học viên sử dụng khái niệm của tác giả Nguyễn Khắc Bình. Khái niệm thực hiện chính sách công Như chúng ta đã biết, thực hiện chính sách công là một giai đoạn của chu trình chính sách công.
Thực hiện chính sách có vai trò quan trọng và quyết định cho chính sách công trở thành hiện thực trong đời sống sau khi được Nhà nước ban hành. Có nhiều định nghĩa về thực hiện chính sách công. Tác giả Nguyễn Khắc Bình cho rằng: “Thực hiện chính sách công là quá trình vận động, thực hiện ý chí của nhà nước trong chính sách thành hiện thực thông qua các cơ chế quản lý, các giải pháp với các đối tượng nhằm đạt mục tiêu đã xác định để thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng”. Trong nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng khái niệm của tác giả Nguyễn Khắc Bình để thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài.
Khái niệm danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Tại Điều 1 Pháp lệnh về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm 1993 và Điều 1 Pháp lệnh về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm 2012 quy định: “Danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng để tặng hoặc truy tặng những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế” [27, 30]. Khái niệm này đã được sử dụng, áp dụng trong chính sách trong quá trình tổ chức thực hiện đối với những cá nhân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn. Khái niệm chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng là hệ thống những văn bản chỉ đạo, quy định của Đảng và Nhà nước để tặng, 15 truy tặng những bà mẹ đã có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Khái niệm thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Từ định nghĩa về thực hiện chính sách công của tác giả Nguyễn Khắc Bình nêu trên, học viên có thể định nghĩa thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng như sau: Thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng là quá trình vận động, thực hiện ý chí của Nhà nước trong chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng thành hiện thực thông qua các cơ chế quản lý, các giải pháp đối với các đối tượng nhằm đạt mục tiêu đã xác định để thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng, đảm bảo công bằng và hài hòa lợi ích giữa các đối tượng trong xã hội”.
Nội dung chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Tại Khoản 1, Điều 59, Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước”, khẳng định quan điểm chỉ đạo của nhà nước quan tâm đến những người có công với cách mạng, người tham gia kháng chiến 03 thời kỳ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, liệt sỹ, bệnh binh. Chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng là một chính sách thể hiện bản chất ưu việt của chế độ, xã hội ở nước ta. Từ đường lối của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành hệ thống chính sách ưu đãi người có công với cách mạng nói chung và Chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng nói riêng như Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005; Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 sửa đổi, bổ 16 sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngày 29 tháng 8 năm 1994; Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20 tháng 10 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Các chính sách đó được tổ chức thực hiện rất tốt trong nhiểu năm qua và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.