phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Lý luận chung về kiểm soát thu bảo hiểm xã hội tại cơ quan bảo hiểm xã hội Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm soát thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Nam Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng kiểm soát thu tại BHXH tỉnh Quảng Nam 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu BHXH là chính sách lớn trong hệ thống chính sách an sinh xã hội nhằm mục đích mang công bằng xã hội đến với tất cả mọi ngƣời. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động BHXH với nhiều khía cạnh khác nhau 4 ở phạm vi lớn trên quy mô cả nƣớc trƣớc khi Luật BHXH 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Liên quan đến nội dung kiểm soát thu BHXH, đã có một số đề tài nghiên cứu sau đây: Đề tài“Hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Gia Lai”, Trần Ngọc Tuấn (2012) hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH để xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của hệ thống BHXH, chỉ ra đƣợc phƣơng hƣớng và nhiệm vụ công tác quản lý thu BHXH khu vực kinh tế tƣ nhân trong thời gian tới.
Ngoài ra, đề tài còn p kinh tế tƣ nhân kinh tế tƣ nhân; x kinh tế tƣ nhân kinh tế tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên, tác giả chƣa chú trọng đến hoạt động giám sát, đặc biệt trong nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra. Đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát thu tại BHXH tỉnh Bình Định”, Võ Năm (2012) đã dựa trên cơ sở lý luận của KSNB theo báo cáo COSO 1992, bản hƣớng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI 1992 đang áp dụng ở các nƣớc tiên tiến trên thế giới nhƣ Mỹ, Canada,. để vận dụng và áp dụng vào hoạt động kiểm soát các rủi ro về thu BHXH, BHYT, BHTN cho hệ thống ngành BHXH nói chung và cho BHXH Bình Định nói riêng.
Đề tài cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm soát thu và từ đó đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện kiểm soát thu trên địa bàn tỉnh. Luận văn này trình bày về kiểm soát thu, bao gồm cả về BHXH, BHYT,. nên phạm vi nghiên cứu của luận văn này rộng hơn. Tuy nhiên, tác giả lại chƣa chú trọng nhiều đến thành phần thông tin – truyền thông của hệ thống kiểm soát.
5 Đề tài “Tăng cường công tác kiểm soát thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Yên”, Lê Huy Trung (2013) đã hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận về kiểm soát thu BHXH, trên cơ sở lý luận chung đã khái quát hóa vai trò của kiểm soát thu BHXH trong công tác quản lý nhà nƣớc và những mục tiêu cơ bản của hoạt động kiểm soát thu. Đề tài đã nêu lên thực trạng kiểm soát thu BHXH tại BHXH tỉnh Phú Yên và nêu lên những mặt hạn chế trong công tác kiểm soát thu BHXH cũng nhƣ đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác kiểm soát thu. Đề tài này chỉ mới đề cập xoay quanh công tác đối chiếu, kiểm tra, giám sát thu sẽ không bao quát đƣợc tất cả các khâu còn lại của quy trình kiểm soát thu BHXH. Các công trình nghiên cứu trên có mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận khác nhau, nhƣng chủ yếu nghiên cứu về công tác thu BHXH.
Trong khi đó, đối tƣợng tham gia và số thu BHXH ngày càng tăng, tình trạng nợ đọng càng lớn và thời gian kéo dài, nhƣng chƣa có những chế tài phù hợp để buộc các đơn vị phải nộp đúng, nộp đủ, nộp kịp thời. Bên cạnh đó, công tác thu BHXH đã bộc lộ nhiều yếu kém, đã từng xảy ra sự việc chiếm dụng tiền thu BHXH cho mục đích cá nhân (Ví dụ nhƣ trƣờng hợp ở BHXH thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai trong năm 2012). Đề tài “Tăng cường công tác kiểm soát thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Nam” của tác giả sẽ đi sâu vào việc nghiên cứu và phân tích các vấn đề liên quan đến việc tăng cƣờng công tác kiểm soát thu BHXH dựa trên các quy định về quản lý thu BHXH và các quy định khác có liên quan đến công tác kiểm soát thu BHXH trên địa bàn tỉnh Quảng Nam khi ứng dụng giao dịch điện tử giữa đơn vị và cơ quan BHXH trên nền tảng vận dụng COSO 2013. Trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn đề tài sẽ xây dựng các giải pháp để tăng cƣờng kiểm soát thu BHXH trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Đồng thời là cơ sở để đảm bảo quỹ BHXH trong tƣơng lai và tính ổn định của 6 chính sách an sinh xã hội, tạo môi trƣờng bình đẳng, thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh, phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Đây là việc làm cấp thiết hiện nay của nhà nƣớc ta. 7 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.
Định nghĩa kiểm soát nội bộ Có rất nhiều định nghĩa về kiểm soát nội bộ đƣợc công bố rộng rãi. Theo chuẩn mực kiểm toán số 400 thì “Hệ thống kiểm soát nội bộ: Là các qui định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị đƣợc kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị. Hiện nay định nghĩa đƣợc chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của COSO. Theo đó, “Kiểm soát nội bộ (KSNB) là một quá trình bị chi phối bởi ngƣời quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó đƣợc thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt đƣợc các mục tiêu sau đây: sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; sự tin cậy của báo cáo tài chính; sự tuân thủ pháp luật và các quy định.
Theo định nghĩa trên, có 4 vấn đề cần lƣu ý trong KSNB. Đó là: KSNB là một quá trình; Có sự tham gia của nhiều cá nhân trong tổ chức; đảm bảo hợp lý và các mục tiêu. Kiểm soát nội bộ là một quá trình Các hoạt động của đơn vị đƣợc thực hiện thông qua quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát. Các đơn vị cần kiểm soát các hoạt động của mình để đạt đƣợc mục tiêu mong muốn.
Và quá trình này chính là kiểm soát nội bộ. “KSNB không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện trong mọi bộ phận, quyện chặt vào hoạt động của tổ chức 8 và là một nội dung cơ bản trong các hoạt động của tổ chức. Nhƣ vậy, KSNB sẽ trở nên hữu hiệu khi nó là một bộ phận không tách rời chứ không phải là chức năng bổ sung cho các hoạt động của tổ chức. Sự tham gia của nhiều cá nhân trong tổ chức “KSNB đƣợc thiết kế và vận hành bởi con ngƣời và có sự tham gia của nhiều cá nhân trong tổ chức.
Đó là Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị. Một hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ có thể hữu hiệu khi từng thành viên trong tổ chức hiểu rõ trách nhiệm và quyền hạn của mình. Tuy nhiên mỗi thành viên tham gia vào tổ chức với khả năng, kiến thức, kinh nghiệm và nhu cầu khác nhau. Do vậy, để kiểm soát nội bộ hữu hiệu cần phải xác định mối liên hệ, nhiệm vụ và cách thức thực hiện chúng của từng thành viên để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức.
Đảm bảo hợp lý “KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý trong việc đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức chứ không thể đảm bảo tuyệt đối. Điều này xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống KSNB nhƣ: những sai lầm của con ngƣời khi đƣa ra các quyết định, sự thông đồng của các cá nhân hay sự lạm quyền của nhà quản lý có thể vƣợt khỏi KSNB. Do vậy, không thể có hệ thống KSNB hoàn hảo trong một tổ chức. Các mục tiêu KSNB hƣớng đến ba mục tiêu sau: - Nhóm mục tiêu về hoạt động: Nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực.
- Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà tổ chức cung cấp. 9 - Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định. Một hệ thống KSNB hữu hiệu có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý đạt đƣợc các mục tiêu nêu trên. Kết quả đạt đƣợc phụ thuộc vào môi trƣờng kiểm soát, cách thức đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát của đơn vị, hệ thống thông tin và truyền thông, vấn đề giám sát.
Phân loại hoạt động kiểm soát a. Căn cứ vào mục tiêu kiểm soát Ngƣời ta có thể chia hoạt động kiểm soát thành ba loại, đó là: kiểm soát phòng ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát điều chỉnh. - Kiểm soát ngăn ngừa: là việc kiểm soát tập trung vào việc ngăn chặn các sai phạm hoặc các điều kiện dẫn đến sai phạm. Kiểm soát này thƣờng đƣợc thực hiện trƣớc khi nghiệp vụ xảy ra và thực hiện ngay trong công việc hàng ngày của nhân viên.
- Kiểm soát phát hiện: là kiểm soát tập trung vào việc phát hiện các gian lận, sai sót và rủi ro trong quá trình tác nghiệp một cách nhanh chóng, giúp lãnh đạo có những quyết định xử lý kịp thời, hạn chế tới mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra. Kiểm soát phát hiện và kiểm soát ngăn ngừa có quan hệ bổ sung cho nhau trong việc thực hiện các mục tiêu kiểm soát. - Kiểm soát điều chỉnh: hƣớng tới việc cung cấp những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định điều chỉnh các sai sót bị phát hiện. Căn cứ vào chức năng kiểm soát Theo Giáo trình Kiểm soát nội bộ của Trƣờng Đại học kinh tế TP.