Tổng quan nghiên cứu
Kháng kháng sinh hiện nay là một trong những hiểm họa y tế công cộng nghiêm trọng nhất trên phạm vi toàn cầu, đe dọa trực tiếp đến hiệu quả điều trị và tính mạng người bệnh. Tại Việt Nam, các bệnh lý nhiễm khuẩn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu bệnh tật, dẫn đến việc thuốc kháng sinh luôn chiếm thị phần áp đảo với tỷ lệ từ 30% đến 40% tổng giá trị tiền thuốc tiêu thụ toàn quốc hàng năm, tương đương quy mô nhập khẩu khoảng 350 đến 400 triệu đô la Mỹ. Tình trạng lạm dụng kháng sinh, tự ý điều trị và không tuân thủ chỉ định của thầy thuốc diễn ra phổ biến ở mọi lứa tuổi, trong đó trẻ em dưới 5 tuổi là đối tượng chịu rủi ro tổn thương cao nhất do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện và cơ thể nhạy cảm với độc tính của dược phẩm.
Tại địa bàn quận Tây Hồ, Hà Nội, số liệu thống kê năm 2016 ghi nhận 1.613 lượt trẻ dưới 5 tuổi đến khám tại Trung tâm Y tế quận chủ yếu do các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp và tiêu hóa, với mật độ tập trung cao tại phường Quảng An. Để làm rõ thực trạng quản lý sử dụng thuốc tại tuyến cơ sở, luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Quỳnh Anh tập trung thực hiện đề tài nghiên cứu thực hành sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại phường Quảng An, quận Tây Hồ năm 2017.
Mục tiêu cốt lõi của đề tài là mô tả chính xác bức tranh thực hành dùng kháng sinh của 187 bà mẹ có con ốm trong phạm vi dân số 12.530 người của phường, đồng thời xác định các yếu tố nhân khẩu học, xã hội và dịch vụ y tế tác động đến hành vi này. Nghiên cứu mang giá trị thực tiễn to lớn khi chỉ ra tỷ lệ thực hành an toàn chỉ đạt 52,9% và có đến 26,2% bà mẹ cho trẻ dùng kháng sinh không theo đơn, cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng giúp chính quyền địa phương và ngành y tế thiết lập các can thiệp can thiệp y tế công cộng chuẩn xác.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa định nghĩa sử dụng thuốc hợp lý của Tổ chức Y tế Thế giới tại Hội nghị Nairobi năm 1985 và các mô hình hành vi sức khỏe cộng đồng. Theo chuẩn mực quốc tế, sử dụng thuốc hợp lý đòi hỏi người bệnh phải nhận đúng thuốc phù hợp tình trạng lâm sàng, liều lượng cá thể hóa, thời gian điều trị đủ từ 5 đến 7 ngày đối với nhiễm khuẩn cấp và chi phí thấp nhất cho cộng đồng. Khung phân loại dược lý trong luận văn phân định rõ 12 nhóm kháng sinh chính, đặc biệt chú trọng các nhóm phổ biến trong nhi khoa như Beta-lactam, Macrolid, Cephalosporin và Quinolon.
Khung lý thuyết của đề tài xác lập mối quan hệ tương tác đa chiều giữa hành vi sử dụng kháng sinh của bà mẹ với 4 nhóm yếu tố nền tảng. Nhóm thứ nhất là yếu tố cá nhân bà mẹ, bao gồm độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con và kinh nghiệm chăm sóc trẻ. Nhóm thứ hai là đặc điểm bệnh lý của trẻ như độ tuổi, giới tính và dạng nhiễm khuẩn hô hấp hay tiêu hóa. Nhóm thứ ba là năng lực nhận thức và kiến thức thực hành của bà mẹ được lượng hóa qua thang đo chuẩn 20 điểm của Bộ Y tế. Nhóm thứ tư là các yếu tố môi trường dịch vụ y tế, bao gồm khả năng tiếp cận thông tin, sự sẵn có của thuốc không kê đơn và mức độ tuân thủ quy chế bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ dược phẩm tư nhân.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và phương pháp định tính nhằm đảm bảo tính toàn diện và chiều sâu của dữ liệu. Cỡ mẫu định lượng tối thiểu được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với mức tin cậy 95%, hệ số Z bằng 1,96, sai số tuyệt đối cho phép d bằng 0,07 và tỷ lệ thực hành đạt tham chiếu p bằng 0,38 từ một nghiên cứu tại Hưng Yên năm 2013, cho ra quy mô mẫu yêu cầu là 185 đối tượng. Trên thực địa, nhóm nghiên cứu đã tiến hành rà soát toàn bộ danh sách 602 hộ gia đình có 786 trẻ dưới 5 tuổi tại phường Quảng An, qua đó điều tra sàng lọc 521 bà mẹ của 690 trẻ và chọn lọc được mẫu thực tế gồm 187 bà mẹ có con sử dụng kháng sinh trong vòng 4 tuần trước thời điểm khảo sát.
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện dựa trên danh sách hành chính đã tối ưu hóa khả năng tiếp cận đối tượng thực tế. Đối với nghiên cứu định tính, tác giả thực hiện 8 cuộc phỏng vấn sâu với các bà mẹ (4 người thực hành đạt và 4 người thực hành không đạt) cùng 3 nhân viên bán lẻ tại các nhà thuốc tiêu biểu trên địa bàn. Toàn bộ số liệu định lượng được làm sạch bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích trên nền tảng SPSS 18.0. Lý do lựa chọn kiểm định Chi bình phương (χ2) và mô hình hồi quy logistic đa biến với khoảng tin cậy 95% (mức ý nghĩa α bằng 0,05) là nhằm kiểm soát các biến số gây nhiễu, phân tích chuẩn xác tỷ số chênh OR và làm rõ mức độ tác động độc lập của từng yếu tố nhân khẩu học lên hành vi dùng thuốc của bà mẹ. Toàn bộ quy trình thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2017 theo Giấy chấp thuận đạo đức số 088/2017/YTCC-HD3 của Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu đã ghi nhận những số liệu thực nghiệm chi tiết về hành vi dùng kháng sinh cho trẻ em tại cộng đồng đô thị:
- Tỷ lệ thực hành đạt về sử dụng kháng sinh an toàn và hợp lý ở các bà mẹ chỉ dừng lại ở mức 52,9% (99 trên tổng số 187 người), trong khi có tới 47,1% bà mẹ thực hành không đạt các tiêu chuẩn y khoa cơ bản.
- Tỷ lệ cho trẻ uống kháng sinh không theo đơn của bác sĩ chiếm 26,2%. Trong đó, 12,3% bà mẹ tự ý sử dụng lại đơn thuốc cũ từ các đợt ốm trước, 7,0% mua và dùng thuốc theo lời tư vấn trực tiếp của người bán thuốc, và 6,4% hoàn toàn tự quyết định loại thuốc.
- Mức độ không tuân thủ về thời gian điều trị rất đáng báo động với 38,0% bà mẹ tự ý thay đổi liệu trình, trong đó 24,6% dừng thuốc khi chưa đủ 5 ngày. Thời gian dùng thuốc trung bình chỉ đạt 4,8 ngày, cá biệt có trường hợp chỉ dùng 2,5 ngày. Tỷ lệ tự ý tăng giảm liều lượng chiếm 26,7%.
- Cơ cấu kháng sinh sử dụng có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm có đơn và không đơn. Ở nhóm không theo đơn, Amoxycilin chiếm tỷ lệ áp đảo 46,9%, tiếp theo là Cefuroxime 18,4% và Cefixime 16,3%. Ở nhóm dùng theo đơn bác sĩ, Amoxycilin chiếm 29,0%, Azithromycin chiếm 22,5% và Cefixime chiếm 18,1%. Bệnh lý chiếm tỷ trọng cao nhất khiến trẻ phải dùng thuốc là nhiễm khuẩn hô hấp trên với 61,5% và viêm phế quản với 16,6%.
Thảo luận kết quả
Thực trạng 24,6% bà mẹ dừng kháng sinh dưới 5 ngày xuất phát từ tâm lý chủ quan khi thấy triệu chứng ho sốt của trẻ thuyên giảm sau 2 đến 3 ngày đầu. Dữ liệu định tính chứng minh nhiều phụ huynh quan niệm kháng sinh gây nóng và hại sức khỏe nên cố gắng cắt thuốc càng sớm càng tốt. Hành vi nguy hại này tạo điều kiện trực tiếp cho các chủng vi khuẩn chọn lọc sống sót, phát triển đột biến và gia tăng tình trạng kháng kháng sinh trong cộng đồng. Tỷ lệ thực hành đạt 52,9% tại phường Quảng An tuy cao hơn mức 38,0% ghi nhận tại một nghiên cứu ở Hưng Yên năm 2013, nhưng vẫn là con số đáng lo ngại đối với một quận nội thành nơi có 83,4% bà mẹ sở hữu trình độ từ trung cấp, cao đẳng và đại học trở lên.
Khoảng trống giữa học vấn cao và thực hành đúng phản ánh tính sẵn có quá mức của dược phẩm tại các đô thị. Kết quả khảo sát cho thấy 58,8% phụ huynh mua thuốc tại các hiệu thuốc tư nhân và dễ dàng sở hữu các kháng sinh phổ rộng thế hệ mới mà không cần đơn thuốc hợp lệ. Trong các báo cáo phân tích, các phát hiện này nên được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột chồng so sánh cơ cấu hoạt chất giữa hai nhóm mua thuốc có đơn và không đơn, kết hợp bảng hồi quy logistic đa biến nhằm làm nổi bật mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi của trẻ, điểm số kiến thức của mẹ với xác suất thực hành đạt.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên bằng chứng thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ với mục tiêu và lộ trình thực thi cụ thể:
- Đẩy mạnh truyền thông giáo dục sức khỏe hành vi: Trạm Y tế Phường Quảng An phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ triển khai các buổi truyền thông nhóm nhỏ và phát thanh chuyên đề về nguyên tắc dùng đủ liều kháng sinh từ 5 đến 7 ngày. Mục tiêu nâng tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành đạt lên trên 75% trong vòng 12 tháng tới.
- Siết chặt quản lý và kiểm tra việc bán thuốc kê đơn: Phòng Y tế Quận Tây Hồ cần tăng cường thanh tra đột xuất các quầy thuốc tư nhân, xử lý nghiêm hành vi bán kháng sinh không đơn theo đúng quy định của Luật Dược. Mục tiêu giảm tỷ lệ mua thuốc không đơn xuống dưới 10% trên toàn địa bàn trong vòng 6 tháng.
- Chuẩn hóa quy trình tư vấn thực hành dược lâm sàng: Trung tâm Y tế Quận Tây Hồ tổ chức các lớp tập huấn bắt buộc định kỳ hàng quý cho 100% người bán lẻ thuốc tư nhân, yêu cầu người bán phải hướng dẫn rõ liều dùng, tác dụng phụ và kiên quyết từ chối cấp phát kháng sinh cho bệnh nhi khi không có đơn của bác sĩ.
- Xây dựng mạng lưới tư vấn y tế cơ sở thân thiện: Ủy ban nhân dân Phường đầu tư hoàn thiện đường dây tư vấn trực tuyến và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh nhi khoa tại Trạm Y tế, phấn đấu giảm tỷ lệ phụ huynh tự ý tái sử dụng đơn thuốc cũ từ 12,3% xuống dưới mức 3% trong giai đoạn 2018-2019.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và dữ liệu thực chứng của công trình nghiên cứu này mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
- Cán bộ quản lý y tế và cơ quan hoạch định chính sách: Lãnh đạo Sở Y tế và Phòng Y tế quận có thể sử dụng số liệu làm căn cứ thực tiễn để đánh giá mức độ tuân thủ quy chế kê đơn, từ đó thiết kế các chế tài thanh tra và giải pháp quản lý chuỗi cung ứng dược phẩm hiệu quả hơn.
- Bác sĩ chuyên khoa Nhi và cán bộ y tế cơ sở: Các y bác sĩ trực tiếp khám chữa bệnh có thêm cơ sở hiểu rõ tâm lý lo âu và thói quen tự ý cắt thuốc của phụ huynh, từ đó cải thiện kỹ năng giải thích đơn thuốc và tăng cường tư vấn tuân thủ điều trị cho người nhà bệnh nhi.
- Dược sĩ và chủ cơ sở bán lẻ thuốc tư nhân: Đội ngũ nhân viên nhà thuốc nắm bắt được những sai lầm phổ biến của khách hàng để chủ động tư vấn đúng chuyên môn, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp và thực hiện nghiêm chuẩn Thực hành tốt nhà thuốc GPP.
- Giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên y tế công cộng: Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình triển khai nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính, cung cấp bộ công cụ thang đo chuẩn để mở rộng các đề tài nghiên cứu hành vi y tế tại nhiều địa phương khác.
Câu hỏi thường gặp
Việc cho trẻ uống thuốc kháng sinh dưới 5 ngày có nguy cơ gì?
Dừng kháng sinh sớm khi thấy triệu chứng thuyên giảm là sai lầm nguy hiểm chiếm 24,6% trong nghiên cứu. Hành vi này không tiêu diệt triệt để ổ nhiễm khuẩn, khiến vi khuẩn còn sót lại thích nghi, tái bùng phát bệnh với mức độ nghiêm trọng hơn và phát triển thành các chủng kháng đa thuốc, làm vô hiệu hóa các phác đồ điều trị thông thường.
Những loại kháng sinh nào bị lạm dụng nhiều nhất khi không có đơn bác sĩ?
Khảo sát ghi nhận Amoxycilin chiếm tỷ lệ cao nhất với 46,9% trong các trường hợp tự ý dùng thuốc không đơn, theo sau là Cefuroxime chiếm 18,4% và Cefixime chiếm 16,3%. Việc người dân tự ý sử dụng các kháng sinh phổ biến nhóm Beta-lactam và Cephalosporin khi chưa có chỉ định dễ dẫn đến hiện tượng lờn thuốc trên diện rộng.
Yếu tố nào có mối liên quan chặt chẽ nhất đến thực hành của bà mẹ?
Phân tích thống kê khẳng định trình độ hiểu biết về thuốc và độ tuổi của trẻ là những yếu tố liên quan có ý nghĩa nhất. Những bà mẹ có điểm số kiến thức đạt chuẩn có tỷ lệ thực hành an toàn cao vượt trội, trong khi trẻ lớn trên 24 tháng tuổi thường bị phụ huynh tự ý cho dùng thuốc theo kinh nghiệm nhiều hơn nhóm trẻ nhỏ.
Tại sao phần lớn bà mẹ có trình độ học vấn cao vẫn dùng thuốc sai hướng dẫn?
Mặc dù 83,4% bà mẹ có học vấn từ trung cấp trở lên, tỷ lệ thực hành đạt chỉ đạt 52,9%. Nguyên nhân là do thói quen ỷ lại vào kinh nghiệm của các lần ốm trước, áp lực công việc khiến họ ngại đưa con đi khám, cùng với sự thuận tiện khi có tới 58,8% nhà thuốc tư nhân sẵn sàng bán thuốc mà không đòi hỏi đơn.
Người bán thuốc tại quầy có vai trò như thế nào trong việc hạn chế kháng thuốc?
Dữ liệu định tính cho thấy người bán thuốc đóng vai trò then chốt trong việc định hướng hành vi của người mua. Khi người bán tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn mực nghề nghiệp, từ chối bán thuốc không đơn và kiên trì giải thích tầm quan trọng của việc khám bác sĩ, tỷ lệ tự điều trị sai lầm trong cộng đồng sẽ giảm đi rõ rệt.
Kết luận
- Luận văn đã phản ánh chính xác thực trạng sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi tại phường Quảng An với tỷ lệ thực hành đạt ở mức trung bình là 52,9%.
- Nghiên cứu chỉ ra những lỗ hổng nghiêm trọng trong cộng đồng với 26,2% bà mẹ cho con dùng thuốc không đơn và 38,0% tự ý can thiệp vào thời gian điều trị.
- Tác giả xác định rõ sự tiếp cận thông tin y tế, kinh nghiệm trị bệnh sai lầm và việc dễ dàng mua thuốc tại các hiệu thuốc tư nhân là những yếu tố chi phối trực tiếp đến hành vi của phụ huynh.
- Hệ thống giải pháp can thiệp đã được đề xuất cụ thể, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục truyền thông cộng đồng và siết chặt kiểm tra pháp lý các cơ sở bán lẻ thuốc trong lộ trình 12 tháng.
- Đóng góp khoa học của đề tài là nguồn tư liệu thực chứng quý giá, mở ra hướng đi cấp thiết cho các chương trình hành động quốc gia về phòng chống kháng thuốc tại Việt Nam.
Các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý y tế và nhân viên y tế cộng đồng hãy tham khảo chi tiết toàn văn công trình nghiên cứu này để áp dụng hiệu quả bộ công cụ đánh giá và triển khai các mô hình can thiệp thực hành dùng thuốc an toàn tại cơ sở.