Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ hen phế quản

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nhi khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2022

187
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái quát về hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

1.1.1. Tình hình nghiên cứu hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

1.1.2. Đại cương về giấc ngủ

1.1.3. Một số khái niệm về rối loạn hô hấp khi ngủ

1.1.4. Cấu trúc đường hô hấp trên liên quan với OSAS

1.1.5. Đặc điểm ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ ở trẻ em

1.1.5.1. Dịch tễ học OSAS ở trẻ em
1.1.5.2. Các yếu tố bệnh sinh liên quan đến OSAS ở trẻ em
1.1.5.3. Di chứng hệ thống của OSAS
1.1.5.4. Chẩn đoán ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ ở trẻ em
1.1.5.5. Điều trị ngưng thở khi ngủ ở trẻ em

1.2. Khái quát về HPQ ở trẻ em

1.2.1. Chẩn đoán HPQ ở trẻ em

1.2.2. Điều trị HPQ ở trẻ em

1.3. Đặc điểm ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ ở trẻ em hen phế quản

1.3.1. Mối liên quan giữa ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ và hen phế quản ở trẻ em

1.3.2. Điều trị OSAS ở trẻ bị HPQ

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân nghiên cứu

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

2.1.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán hen phế quản

2.1.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ em

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Cách tính cỡ mẫu

2.2.3. Quy trình nghiên cứu

2.2.4. Đánh giá kết quả điều trị

2.2.5. Các biến số nghiên cứu

2.2.6. Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu

2.2.6.1. Thăm khám lâm sàng
2.2.6.2. Cận lâm sàng

2.2.7. Xử lý số liệu

2.2.8. Thời gian nghiên cứu

2.2.9. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

3.1.1. Đặc điểm nhân trắc học của bệnh nhân nghiên cứu

3.1.2. Đặc điểm mức độ nặng và mức độ kiểm soát hen trong nghiên cứu

3.1.3. Tỷ lệ mắc ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ ở trẻ hen phế quản

3.2. Đặc điểm của nhóm bệnh nhân hen phế quản bị và không bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.2.1. Đặc điểm chung nhóm bệnh nhân hen phế quản bị và không bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng nhóm bệnh nhân hen phế quản bị và không bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.2.3. Đặc điểm chức năng hô hấp nhóm bệnh nhân hen phế quản bị và không bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.3. Đặc điểm bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.3.1. Đặc điểm về đa ký hô hấp nhóm bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.3.2. Mức độ nặng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ ở bệnh nhân hen phế quản

3.3.3. Đặc điểm bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ phân bố theo nhóm tuổi

3.3.4. Đặc điểm bệnh lý liên quan và dị ứng ở gia đình bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.3.5. Bậc hen của bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.3.6. Tình trạng kiểm soát hen của bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.3.7. Đặc điểm dự phòng thuốc hen của bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.3.8. Đặc điểm về triệu chứng ban đêm và ban ngày của bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.3.9. Đặc điểm chức năng hô hấp của bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.3.10. Mối tương quan giữa mức độ nặng hen phế quản với chỉ số AHI khi ngủ

3.3.11. Mối tương quan giữa chỉ số FEV1 với chỉ số AHI khi ngủ

3.3.12. Mối tương quan giữa BMI với chỉ số ngáy ở bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.3.13. Mối tương quan giữa chỉ số FENO phế quản và FENO mũi với chỉ số AHI khi ngủ

3.3.14. Đánh giá chỉ số nguy cơ nguy cơ tương đối bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.3.15. Các triệu chứng về đêm của bệnh nhân hen phế quản có nguy cơ bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.3.16. Các triệu chứng ban ngày của bệnh nhân hen phế quản có nguy cơ bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

3.4. Đặc điểm bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ sau 3 tháng điều trị bằng Singulair phối hợp điều trị nền hen

3.4.1. Đặc điểm về mức độ nặng hen phế quản sau 3 tháng điều trị

3.4.2. Đặc điểm về mức độ kiểm soát hen phế quản sau 3 tháng điều trị

3.4.3. Thay đổi điểm kiểm soát hen ACT sau 3 tháng

3.4.4. Đặc điểm chức năng hô hấp bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ sau 3 tháng

3.4.5. Thay đổi FENO ở phế quản sau 3 tháng điều trị

3.4.6. Đặc điểm liên quan đến ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ ở bệnh nhân hen phế quản sau 3 tháng điều trị

3.5. Đặc điểm bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ sau 6 tháng điều trị bằng Singulair phối hợp điều trị nền hen

3.5.1. Đặc điểm về mức độ nặng hen phế quản sau 6 tháng điều trị

3.5.2. Đặc điểm về mức độ kiểm soát HPQ sau 6 tháng

3.5.3. Thay đổi điểm kiểm soát hen ACT sau 6 tháng

3.5.4. Đặc điểm chức năng hô hấp sau 6 tháng

3.5.5. Đặc điểm FENO phế quản sau 6 tháng điều trị

3.5.6. Đặc điểm liên quan đến ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ ở bệnh nhân hen phế quản sau 6 tháng điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân HPQ trong nghiên cứu

4.1.1. Đặc điểm nhân trắc học trẻ HPQ trong nghiên cứu

4.1.2. Đặc điểm mức độ nặng và mức độ kiểm soát hen phế quản trong nghiên cứu

4.1.3. Tỷ lệ trẻ HPQ bị OSAS của nhóm nghiên cứu

4.2. Đặc điểm nhóm bệnh nhân HPQ có OSAS và không có OSAS

4.2.1. Đặc điểm chung nhóm bệnh nhân HPQ có OSAS và không có OSAS

4.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng nhóm bệnh nhân HPQ có OSAS và không có OSAS

4.2.3. Đặc điểm về chức năng hô hấp và đo FENO nhóm bệnh nhân HPQ có OSAS và không có OSAS

4.3. Đặc điểm trẻ hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

4.3.1. Đặc điểm về đa ký hô hấp của bệnh nhân hen phế quản bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

4.3.2. Đặc điểm về triệu chứng ban ngày và ban đêm của trẻ HPQ bị OSAS

4.3.3. Đặc điểm về mối tương quan giữa mức độ HPQ với chỉ số ngưng thở - giảm thở AHI

4.3.4. Đặc điểm về mối tương quan giữa chỉ số FEV1 với chỉ số ngưng thở - giảm thở

4.3.5. Đặc điểm về mối tương quan giữa chỉ số khối cơ thể BMI với chỉ số ngáy

4.3.6. Mối tương quan giữa chỉ số FENO mũi và FENO phế quản với chỉ số AHI

4.3.7. Đặc điểm về đánh giá chỉ số nguy cơ bị OSAS ở trẻ HPQ

4.3.8. Các triệu chứng về đêm của trẻ bị HPQ có nguy cơ bị OSAS

4.3.9. Các triệu chứng ban ngày của bệnh nhân HPQ có nguy cơ bị OSAS

4.4. Đánh giá hiệu quả sau 3 tháng điều trị bằng Singulair

4.4.1. Đặc điểm về mức độ và độ kiểm soát của HPQ, điểm ACT

4.4.2. Đặc điểm về chức năng hô hấp, FENO phế quản

4.4.3. Đặc điểm về triệu chứng OSAS và đa ký hô hấp sau 3 tháng điều trị

4.5. Đặc điểm diễn biễn của trẻ HPQ bị OSAS sau 6 tháng điều trị

4.5.1. Đặc điểm về mức độ nặng, mức độ kiểm soát HPQ và điểm ACT

4.5.2. Đặc điểm về chức năng hô hấp và FENO

4.5.3. Đặc điểm triệu chứng OSAS và đa ký hô hấp sau 6 tháng điều trị

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Hội chứng ngừng thở khi ngủ và hen phế quản ở trẻ em

Hội chứng ngừng thở khi ngủ (OSAS) là một rối loạn hô hấp phổ biến ở trẻ em, đặc biệt là những trẻ mắc hen phế quản. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích đặc điểm lâm sàngkết quả điều trị của OSAS ở trẻ hen phế quản. Hen phế quản ở trẻ em là một bệnh lý mãn tính, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sự phát triển của trẻ. Sự kết hợp giữa hen phế quản và ngừng thở khi ngủ làm tăng nguy cơ biến chứng, đòi hỏi chẩn đoán và điều trị kịp thời.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của hội chứng ngừng thở khi ngủ

Đặc điểm lâm sàng hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ hen phế quản bao gồm các triệu chứng như ngáy to, ngừng thở tạm thời, và buồn ngủ ban ngày quá mức. Những triệu chứng này thường bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với các vấn đề sức khỏe khác. Nghiên cứu chỉ ra rằng, ngừng thở khi ngủ ở trẻ có liên quan mật thiết đến mức độ nặng của hen phế quản, đặc biệt là ở những trẻ có bệnh hen khó kiểm soát.

1.2. Mối liên quan giữa hen phế quản và ngừng thở khi ngủ

Hen phế quản và ngừng thở khi ngủ có mối liên quan sinh bệnh học phức tạp. Các yếu tố như viêm đường hô hấp, tăng phản ứng phế quản, và béo phì đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của OSAS ở trẻ hen phế quản. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ngừng thở khi ngủ ở trẻ em có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng hen, dẫn đến tình trạng hen khó kiểm soát.

II. Kết quả điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ

Kết quả điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ hen phế quản được đánh giá thông qua các phương pháp điều trị nội khoa, đặc biệt là sử dụng thuốc kháng leukotriene. Nghiên cứu cho thấy, việc điều trị kết hợp giữa điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ và kiểm soát hen phế quản mang lại hiệu quả cao, cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của trẻ.

2.1. Phương pháp điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ

Điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ hen phế quản bao gồm các phương pháp như sử dụng máy thở áp lực dương liên tục (CPAP), phẫu thuật cắt amiđan, và điều trị nội khoa bằng thuốc kháng leukotriene. Nghiên cứu chỉ ra rằng, điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ kết hợp với kiểm soát hen phế quản giúp giảm đáng kể các triệu chứng và cải thiện chức năng hô hấp.

2.2. Đánh giá hiệu quả điều trị

Kết quả điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ được đánh giá thông qua các chỉ số như chỉ số ngừng thở (AHI), chất lượng giấc ngủ, và mức độ kiểm soát hen. Nghiên cứu cho thấy, sau 3-6 tháng điều trị, các chỉ số này được cải thiện đáng kể, đặc biệt là ở những trẻ được điều trị kết hợp giữa thuốc kháng leukotriene và kiểm soát hen phế quản.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ em, đặc biệt là những trẻ mắc hen phế quản. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán và điều trị kịp thời, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và sự phát triển của trẻ.

3.1. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này cung cấp các bằng chứng khoa học về đặc điểm lâm sàngkết quả điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ hen phế quản, giúp các bác sĩ có cái nhìn toàn diện hơn trong việc chẩn đoán và điều trị. Đồng thời, nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp điều trị OSAS và kiểm soát hen phế quản.

3.2. Ứng dụng trong thực tiễn lâm sàng

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong thực tiễn lâm sàng để cải thiện chất lượng chẩn đoán và điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ em. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những trẻ mắc hen phế quản, giúp giảm thiểu các biến chứng và nâng cao hiệu quả điều trị.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ hen phế quản

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (Obstructive Sleep Apnea Syndrome: OSAS) được định nghĩa là sự lặp đi lặp lại hiện tượng tắc nghẽn một phần hay hoàn toàn đường hô hấp trên trong khi ngủ dẫn đến hậu quả giảm thở hoặc ngưng thở hoàn toàn kèm theo những gắng sức hô hấp [1],[2]. Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (Obstructive Sleep Apnea: OSA) là dạng phổ biến nhất của rối loạn hô hấp trong khi ngủ, hội chứng này tương đối thường gặp ở cả trẻ em và người lớn. Ở Bắc Mỹ có trên 12 triệu người mắc OSAS, trong đó nữ chiếm tỷ lệ 3% và nam giới là 9% lứa tuổi trưởng thành [2]. Ở trẻ em, trong những năm gần đây OSAS đã được công bố là một nguyên nhân gây ra các vấn đề sức khỏe quan trọng, chiếm tỷ lệ từ 1% đến 5% [2],[3] thay đổi tùy theo các tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau được sử dụng trong từng nghiên cứu.

Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng cao nhất 2-8 tuổi và liên quan với sự phát triển của mô bạch huyết quanh đường hô hấp trên ở trẻ em [1],[3],[4],[5]. OSAS nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và gánh nặng về chi phí y tế [1],[2],[4],[5]. Tuy nhiên theo thống kê có khoảng 80% đến 90% bệnh nhân mắc hội chứng này không được phát hiện và điều trị [6]. Những tiến bộ trong y học giấc ngủ và phương tiện chẩn đoán gần đây đã giúp cho việc chẩn đoán và điều trị OSAS được thuận lợi và chính xác hơn.

Ở trẻ em, OSAS gây giảm oxy cách quãng về đêm do những cơn ngưng thở và giảm thở, là nguyên nhân gây ra các rối loạn sinh bệnh học trên huyết 2 động học, chuyển hóa và sự phát triển tâm thần – vận động. Đặc biệt những hậu quả nghiêm trọng của OSAS trên sự phát triển tâm thần – vận động ở trẻ em vì có thể gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển về thể chất tâm lý, giảm khả năng học tập và trí nhớ. Ngoài ra trẻ bị OSAS có thể mắc chứng trầm cảm hay hiếu động qúa mức. Do vậy những trẻ có biểu hiện nghi ngờ mắc OSAS cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời [6],[7].

OSAS thường gặp ở trẻ có những yếu tố nguy cơ về bất thường hình thể học (béo phì, bất thường về sọ mặt) và một số bệnh đồng mắc (hen, trào ngược dạ dày thực quản, phì đại tuyến hạnh nhân hay amiđan quá phát). OSAS ở trẻ hen phế quản đã được quan tâm và nghiên cứu trong những năm gần đây vì có mối liên quan sinh bệnh học giữa OSAS và hen, ngoài ra mức độ nặng của OSAS có liên quan với mức độ nặng và mức độ kiểm soát hen [8],[9]. Có rất nhiều nguyên nhân làm cho bệnh hen nặng hơn và khó kiểm soát hơn và OSAS là một trong những nguyên nhân này. Do vậy, OSAS cũng được xem là bệnh đồng mắc và là yếu tố nguy cơ của bệnh hen khó trị.

Ở những trẻ hen phế quản (HPQ), OSAS cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời khi trẻ có những dấu hiệu nghi ngờ [8],[10]. Tuy nhiên cho đến nay tại Việt Nam, có rất ít nghiên cứu về OSAS ở trẻ em được báo cáo, đặc biệt là OSAS ở trẻ HPQ. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ hen phế quản" với mục tiêu sau: 1. Đánh giá tỷ lệ mắc hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ em bị hen phế quản.

Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của trẻ hen phế quản liên quan đến hội chứng ngừng thở khi ngủ. Đánh giá mức độ cải thiện hội chứng ngừng thở khi ngủ và kết quả điều trị hen phế quản có ngừng thở khi ngủ bằng điều trị nội khoa (chủ yếu bằng thuốc kháng leukotriene). 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về hội chứng ngƣng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSAS) 1.

Tình hình nghiên cứu hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Các thăm dò về giấc ngủ và rối loạn giấc ngủ là một lĩnh vực mới trong y học và bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ năm 1983. Cho đến năm 1990 đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về hội chứng ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ. Riêng từ năm 1993 đến năm 2010, trên MEDLINE đã có hơn 3.000 công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến đầy đủ các lĩnh vực có liên quan như sinh bệnh học, triệu chứng lâm sàng, các phương pháp chẩn đoán và điều trị hội chứng ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ.

Gần đây, các nghiên cứu về hội chứng này ngày càng mở rộng và đi sâu hơn nữa, tìm hiểu về mối liên quan với các bệnh lý thuộc rất nhiều chuyên khoa khác nhau. Năm 1976 nghiên cứu đầu tiên về hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ ở trẻ em được báo cáo bởi Guilleminault và cộng sự[11], từ đó có rất nhiều nghiên cứu về rối loạn thở trong khi ngủ đã được công nhận. Nghiên cứu đầu tiên về hen và OSAS là báo cáo 1 trường hợp của Hudgel và Shrucard năm 1979[12]. Năm 2001 Larsson nghiên cứu về mức độ phổ biến các triệu chứng liên quan đến OSAS ở bệnh nhân hen[13].

Năm 2005, Ekici và CS đã tiến hành nghiên cứu mối liên quan giữa các triệu chứng của hen với chứng ngáy và ngừng thở khi ngủ. Đánh giá ảnh hưởng của chúng đến chất lượng cuộc sống[14]. Năm 2008, Gozal nghiên cứu sự thay đổi trao đổi chất và hệ thống viêm trong ngưng thở khi ngủ ở trẻ em bị béo phì[15]. 4 Năm 2009, Julien so sánh tỷ lệ ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ trong hen nặng và hen trung bình[16].

Năm 2010, Teodorescu đánh giá những nguy cơ của OSAS ảnh hưởng đến kiểm soát hen[17]. Năm 2011, Leila Kheirandish-Gozal nghiên cứu hội chứng ngưng thở do tắc nghẽn khi ngủ ở trẻ bị hen kiểm soát kém và ảnh hưởng của phẫu thuật cắt amiđan[18]. Cũng trong năm 2011, Aurora sử dụng đa ký giấc ngủ trong chẩn đoán và quản lý rối loạn giấc ngủ ở trẻ em[19]. Năm 2012, Ma AL, nghiên cứu yếu tố nguy cơ bị biến chứng sau phẫu thuật cắt amiđan cho trẻ bị ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ[20].

Năm 2012 Goldbart AD sử dụng Montelukast cho trẻ bị ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ đã cho thấy dùng Montelukast hàng ngày trong 12 tuần làm giảm mức độ nghiêm trọng của OSAS và độ lớn của amiđan quá phát ở trẻ em[21].Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam cho tới nay, vấn đề rối loạn giấc ngủ, đặc biệt là hội chứng ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ bắt đầu được quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên do thiếu các phương tiện chẩn đoán hiện đại nên các nghiên cứu chuyên sâu còn chưa có nhiều. Năm 2009, Nguyễn Xuân Bích Huyên lần đầu tiên nghiên cứu tỷ lệ hội chứng ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ trên bệnh nhân Việt Nam có ngáy và rối loạn giấc ngủ tại khoa Hô hấp - Bệnh viện Chợ Rẫy dựa vào đa ký hô hấp hoặc đa ký giấc ngủ. Tác giả thấy tỷ lệ bệnh nhân mắc hội chứng này ở người béo phì đến khám bệnh vì chứng buồn ngủ ban ngày là 88,3%[22].

Và đến năm 2010 tác giả cũng báo cáo hiệu quả thở áp lực dương liên tục điều trị hội chứng ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ[23]. 5 Năm 2011, khoa Hô Hấp Bệnh viện Bạch Mai bắt đầu triển khai kỹ thuật ghi đa ký hô hấp để theo dõi các bệnh nhân có bất thường hô hấp trong khi ngủ, nhưng cũng chưa có nghiên cứu nào về hội chứng này. Năm 2012, Nguyễn Thanh Bình đã nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, đa ký giấc ngủ và hiệu quả của thở áp lực dương liên tục trong điều trị hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ [24]. Từ năm 2013, Dương Quý Sỹ và cộng sự đã nghiên cứu đa trung tâm (Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng) về tần suất OSA ở người trưởng thành là 7,6 – 8,5%.

Tần suất này cao hơn ở người tăng huyết áp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản [25],[26]. Tác giả cũng nghiên cứu thấy có sự gia tăng nồng độ phế nang (CANO) lúc thức giấc và có mối liên quan giữa chỉ số ngưng thở - giảm thở (AHI) và CANO ở người bị OSA [27]. Năm 2017, Nguyễn Hoàng Yến đã nghiên cứu tỷ lệ mắc hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ hen phế quản là 65,9% [28]. Năm 2018, Nguyễn Thị Vân nghiên cứu về tình trạng ngừng thở khi ngủ ở trẻ hen phế quản tại bệnh viện Nhi Trung Ương [29].

Đại cương về giấc ngủ Ngủ là một hoạt động sinh lý bình thường của con người, là nhu cầu bắt buộc giúp con người tồn tại và phát triển để bù đắp với hoạt động thức (tiêu tốn nhiều năng lượng) của con người, giúp các cơ quan trong cơ thể được nghỉ ngơi và có thời gian hồi phục. Nhu cầu về thời gian ngủ ở người là khác nhau tùy theo lứa tuổi và hoạt động của mỗi người. Tuổi càng nhỏ nhu cầu về thời gian ngủ càng dài và giảm dần khi trưởng thành. Trung bình một ngày một người trưởng thành cần ngủ 7–8 giờ.

Chu kỳ đầy đủ của giấc ngủ chia làm hai giai đoạn chính là giai đoạn chuyển động mắt không nhanh (non - REM) và giai đoạn chuyển động mắt 6 nhanh (REM), trong đó non – REM được chia làm bốn giai đoạn, hai giai đoạn đầu tiên tương ứng với giấc ngủ chậm nông và hai giai đoạn sau tương ứng với giấc ngủ chậm sâu. Để nhận biết được các giai đoạn của giấc ngủ, người ta dựa vào bản ghi phối hợp ít nhất ba thông số: Điện não đồ, điện nhãn đồ và điện cơ đồ[30]. Một số khái niệm về rối loạn hô hấp khi ngủ (DTH) Thuật ngữ “rối loạn hô hấp khi ngủ” (sleep disordered breathing- SDB) ở trẻ em dùng để chỉ một nhóm các rối loạn hô hấp xảy ra hoặc đang làm trầm trọng hơn các rối loạn này trong khi ngủ. Chúng bao gồm: ngưng thở trung ương, ngưng thở do non tháng, giảm thở và các rối loạn giảm thông khí do tắc nghẽn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ hen phế quản là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ (OSA) ở trẻ em mắc bệnh hen phế quản. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết quan trọng về mối liên hệ giữa hai tình trạng bệnh lý này, đồng thời đề xuất các phương pháp điều trị hiệu quả, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và sức khỏe của bệnh nhân. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và phụ huynh quan tâm đến sức khỏe hô hấp ở trẻ em.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, Luận án tiến sĩ nghiên cứu mật độ xương tình trạng vitamin d và một số markers chu chuyển xương ở trẻ từ 6 đến 14 tuổi tại thành phố cần thơ, và Nghiên cứu tình hình thai to và các yếu tố liên quan ở các sản phụ tại bv phụ sản tp cần thơ năm 2014 2015. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe ở trẻ em và người lớn.