Tổng quan luận án

Công trình "Mối liên quan giữa tình trạng thiếu Vitamin D và kết quả bổ sung vitamin D với nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ dưới 5 tuổi tại cộng đồng" được tác giả Nguyễn Thị Ngọc Yến thực hiện nhằm bảo vệ học vị Tiến sĩ Y học, chuyên ngành Nhi khoa (mã số: 97.106) tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng vào năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đinh Văn Thức.

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) là nhóm bệnh lý do vi khuẩn hoặc virus gây tổn thương viêm cấp tính tại đường hô hấp từ tai, mũi, họng đến phổi và màng phổi. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) năm 1990, hàng năm có khoảng 14 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong, trong đó 95% tập trung ở các nước đang phát triển và 4 triệu ca tử vong do NKHHC. Mặc dù chương trình ARI (phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp) của TCYTTG đã được áp dụng tại Việt Nam từ năm 1984 giúp giảm thiểu đáng kể tỷ lệ tử vong, NKHHC vẫn duy trì tần suất mắc và tử vong ở mức cao. Song song với gánh nặng bệnh lý hô hấp, tình trạng thiếu hụt vitamin D được ghi nhận là một vấn đề sức khỏe phổ biến trên toàn thế giới với hơn 1 tỷ người bị ảnh hưởng. Tại Việt Nam, khảo sát năm 2015 cho thấy tỷ lệ thiếu hụt vitamin D ở trẻ em khu vực nông thôn là 61,1% và thành phố là 53,7%.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định xuất phát từ các tranh luận khoa học quốc tế về vai trò của việc can thiệp bổ sung vitamin D trong dự phòng và giảm mức độ nặng của NKHHC ở trẻ em dưới 5 tuổi. Đồng thuận của Hội Nhi khoa Italy (2018) và Đồng thuận Quốc tế lần thứ 2 chỉ ra rằng các thử nghiệm lâm sàng và nghiên cứu quan sát trên thế giới vẫn tồn tại nhiều ý kiến trái chiều, chưa thống nhất về hiệu quả can thiệp. Tại Việt Nam và đặc biệt tại địa bàn Hải Phòng, phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở thiết kế mô tả cắt ngang với cỡ mẫu nhỏ, chưa mang tính đại diện và thiếu vắng các nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng để đánh giá tác động của việc bổ sung vitamin D đối với tỷ lệ mắc và mức độ nặng của NKHHC.

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Khảo sát tần suất nhiễm khuẩn hô hấp cấp và tỷ lệ thiếu vitamin D ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện An Lão, Hải Phòng năm 2016.
  2. Phân tích một số yếu tố liên quan giữa nhiễm khuẩn hô hấp cấp và thiếu Vitamin D.
  3. Đánh giá kết quả bổ sung vitamin D với nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở đối tượng nghiên cứu trên.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là trẻ em dưới 5 tuổi (0 đến dưới 60 tháng tuổi) sinh sống tại huyện An Lão, thành phố Hải Phòng cùng người chăm sóc chính (mẹ hoặc người trực tiếp cho trẻ ăn hàng ngày). Nghiên cứu được triển khai trong khoảng thời gian từ ngày 24 tháng 12 năm 2016 đến ngày 31 tháng 08 năm 2021.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu dịch tễ học và can thiệp lâm sàng trên thế giới và tại Việt Nam xoay quanh mối quan hệ giữa vitamin D và nhiễm khuẩn đường hô hấp:

  • Gánh nặng dịch tễ học NKHHC: Các số liệu toàn cầu chỉ ra gánh nặng lớn của bệnh viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi. David A McAllister và cộng sự (2015) ghi nhận 5 quốc gia gồm Ấn Độ, Nigeria, Indonesia, Pakistan và Trung Quốc chiếm 54% trong tổng số 138 triệu ca viêm phổi trẻ em toàn cầu. Orimadegun và cộng sự báo cáo 1,071 triệu trẻ 1–59 tháng tại châu Phi tử vong vì viêm phổi (chiếm 14,1% tổng tử vong). Theo GBD và Wing Ho Man, tỷ lệ tử vong do viêm phổi chiếm từ 10,4% đến 13,1% tử vong chung ở trẻ dưới 5 tuổi. Xin Wang và cộng sự (2018) thống kê 16% trẻ tử vong do NKHHC dưới. Nghiên cứu của Angela Maria Pinzon Rondon và cộng sự trên 354.633 trẻ tại 40 nước đang phát triển ghi nhận tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp là 13%. Tại châu Phi, Alexis A và cộng sự ghi nhận tỷ lệ NKHHC tại bệnh viện ở Cameroon là 54,7%; Oluremi Olayinka Solomon và cộng sự (2018) ghi nhận tỷ lệ 64,9% tại Nigeria. Tại Ấn Độ, Shaliet Rose Sebastian và cộng sự (2018) công bố tỷ lệ mắc NKHHC ở trẻ nông thôn là 52%, trong khi Anand Krishnan và cộng sự (2015) ghi nhận tần suất 5,88 đợt/trẻ/năm. Tại Việt Nam, Lý Thị Chi Mai và Huỳnh Thanh Liêm (Trà Vinh) ghi nhận tỷ lệ mắc NKHHC trong 2 tuần ở trẻ dưới 60 tháng là 36,5%.
  • Thực trạng thiếu hụt vitamin D: Khukood Othman Alyahya ghi nhận tỷ lệ thiếu hụt vitamin D ở trẻ 6–17 tuổi tại Saudi Arabia là 71,1%, Qatar là 61%, Liban là 52%, Kuwait là 78,4% và Iran là 29% ở nam, 66,6% ở nữ. Bener A và cộng sự tại Qatar ghi nhận tỷ lệ thiếu vitamin D ở trẻ 0–60 tháng là 9,5%, tăng lên 61,6% ở lứa tuổi 11–16 tuổi. Nghiên cứu tại Trung Quốc ghi nhận tỷ lệ thiếu ở trẻ 12–24 tháng là 65,3%. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Arnaud Laillou và cộng sự cho thấy 21% trẻ dưới 5 tuổi có 25(OH)D < 30 nmol/L và 37% nằm trong khoảng 30–49,9 nmol/L; khoảng 90% phụ nữ và trẻ em có nồng độ < 75 nmol/L. Vũ Thị Thu Hiền ghi nhận 23,6% trẻ 1–6 tháng có nồng độ 25(OH)D < 50 nmol/L và 40,7% có nồng độ < 75 nmol/L. Tại TP. Hồ Chí Minh, tỷ lệ thiếu vitamin D ở nam giới là 20% và nữ giới là 46%.
  • Các nghiên cứu can thiệp bổ sung vitamin D: Adrian R. Martineau và cộng sự (2019) thực hiện phân tích gộp 25 thử nghiệm lâm sàng đối chứng trên 11.321 người (10.933 người được đưa vào phân tích), kết luận bổ sung vitamin D làm giảm nguy cơ NKHHC với OR = 0,88 (95%CI: 0,81–0,96; p < 0,001), trong đó tác dụng bảo vệ đạt rõ rệt khi bổ sung liều hàng ngày hoặc hàng tuần (OR = 0,81) ở người có nồng độ ban đầu < 25 nmol/L. Semira Manaseki-Holland và cộng sự (2012) thử nghiệm liều cao 100.000 IU mỗi 3 tháng cho trẻ 1–11 tháng tại Kabul nhưng không ghi nhận sự khác biệt về tỷ lệ viêm phổi. Mary Aglipay và cộng sự so sánh liều 2000 IU/ngày và 400 IU/ngày trong 6,2 tháng ở 703 trẻ khỏe mạnh, kết luận liều cao không làm giảm thêm tỷ lệ NKHHC trên do virus vào mùa đông. Miao Hong và cộng sự (2020) nghiên cứu 244 trẻ bổ sung 400–600 IU/ngày từ sơ sinh đến 6 tháng, ghi nhận mối liên quan nghịch có ý nghĩa thống kê giữa tần suất bổ sung và nguy cơ mắc NKHHC, NKHHC dưới và tỷ lệ nhập viện (p < 0,001). Mark Loeb và cộng sự tại Việt Nam nghiên cứu 1.300 trẻ từ 3–17 tuổi uống 14.000 IU/tuần trong 8 tháng, cho thấy bổ sung không giảm cúm nhưng giảm nhẹ nhiễm virus hô hấp không phải cúm. Nguyễn Xuân Hùng (Hưng Yên) dùng liều 200.000 IU duy nhất cho trẻ 12–36 tháng giúp cải thiện 0,55 cm chiều cao và giảm tỷ lệ NKHHC. Trần Thị Nguyệt Nga (Hải Dương) dùng liều 400 IU/ngày trong 6 tháng cho trẻ 12–36 tháng ghi nhận cải thiện suy dinh dưỡng và giảm rõ rệt tỷ lệ NKHHC. George Griffin và cộng sự (2021) phân tích cơ chế sinh học qua enzym 24-hydroxylase và yếu tố FGF-23, khẳng định việc duy trì liều thấp hàng ngày mang lại hiệu quả sinh học và bảo vệ vượt trội so với liều cao ngắt quãng.
Tổ chức / Hiệp hội Năm Quốc gia / Khu vực Liều khuyến cáo cho trẻ 0–12 tháng (IU/ngày) Liều khuyến cáo cho trẻ 1–18 tuổi (IU/ngày)
European Food Safety Authority (EFSA) 2016 Châu Âu 400 (7–11 tháng) 600 (1–17 tuổi)
Scientific Advisory Committee on Nutrition (SACN) 2016 Vương quốc Anh 340–400 (< 4 tuổi) 400
Nordic Nutrition Recommendations 2012 Bắc Âu 400 400
German Nutrition Society 2012 Đức, Áo, Thụy Sỹ 400 (trẻ nhỏ) 800 (trẻ lớn)
Health Council of the Netherlands 2012 Hà Lan 400 400
Italian Society of Nutrition 2012 Ý 400 (< 12 tháng) 400 (6–12 tháng), 600 (1–18 tuổi)
Institute of Medicine (IOM) 2011 Bắc Mỹ, Canada 400 (< 12 tháng) 600 (1–18 tuổi)
The Endocrine Society 2013 Toàn cầu 400–1000 600–1000
Bộ Y tế Việt Nam - Việt Nam 400 400

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là thực hiện nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng trên đối tượng trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện An Lão, Hải Phòng, áp dụng phác đồ bổ sung vitamin D liều tiêu chuẩn 500 IU/ngày liên tục trong 12 tháng nhằm đánh giá sự thay đổi nồng độ vitamin D huyết thanh, sự phát triển thể chất và sự thay đổi tần suất mắc NKHHC.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và sinh lý học miễn dịch của Vitamin D

Vitamin D là nhóm secosteroid tan trong dầu gồm hai dạng sinh học chính là D2 (ergocalciferol) và D3 (cholecalciferol). Nguồn ngoại sinh từ thực phẩm cung cấp 20–40 đv/ngày (khoảng 10 đv/lít sữa bò và < 50 đv/lít sữa mẹ), hấp thu tại hỗng tràng và hồi tràng nhờ mật. Nguồn nội sinh là chủ yếu, dưới tác động của tia cực tím bước sóng 290–315 nm, 7-dehydrocholesterol tại da chuyển hóa thành vitamin D3. Dạng hoạt tính sinh học $1,25(OH)_2D$ gắn với protein vận chuyển VDBP (Vitamin D Binding Protein), lưu hành trong máu đến các mô đích và liên kết với thụ thể VDR (Vitamin D Receptor) – một protein gồm 427 acid amin thuộc họ thụ thể steroid, chứa vùng gắn DNA và vùng gắn hormon giàu cysteine.

Cơ chế miễn dịch chống nhiễm khuẩn của vitamin D được xác lập qua hai nhánh:

  1. Đáp ứng miễn dịch bẩm sinh (tự nhiên): $1,25(OH)_2D$ liên kết VDR trên bề mặt tế bào làm tăng hoạt tính của tế bào diệt tự nhiên (Natural Killer Cell - NKC) và tăng cường khả năng thực bào của đại thực bào. Sự kích thích thụ thể TLR2 trên đại thực bào hoặc tế bào sừng keratinocyte bởi thành phần lipoprotein vi sinh vật làm gia tăng tổng hợp VDR và enzym CYP27B1 để chuyển $25(OH)D_3$ thành $1,25(OH)_2D_3$. Phức hợp này cảm ứng gen tổng hợp peptid kháng khuẩn cathelicidin LL-37, có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng.
  2. Đáp ứng miễn dịch thu được: $1,25(OH)_2D$ ức chế sự tăng sinh của globulin miễn dịch, ức chế tương bào biệt hóa thành lympho B, ức chế lympho T, kích thích tế bào sản xuất IFN-$\gamma$, IL-2 và tăng sản xuất các cytokin kháng viêm gồm IL-4, IL-5, IL-10. Trên tế bào đuôi gai, vitamin D làm giảm biểu hiện thụ thể bề mặt CD40, CD80, CD86 và giảm bài tiết IL-12, từ đó điều hòa phản ứng viêm quá mức.

Ngưỡng đánh giá nồng độ 25-hydroxyvitamin D [25(OH)D] huyết thanh (theo Holick MF 2017 và Đồng thuận Hội Nhi khoa Italy 2018) được quy định:

  • Nồng độ bình thường: $\ge 30\text{ ng/mL}$ ($\ge 75\text{ nmol/L}$).
  • Thiếu hụt (Insufficiency - thiếu vừa): $20 - < 30\text{ ng/mL}$ ($50 - < 75\text{ nmol/L}$).
  • Thiếu (Deficiency): $< 20\text{ ng/mL}$ ($< 50\text{ nmol/L}$).
  • Công thức chuyển đổi đơn vị: $\text{ng/mL} \times 2,5 = \text{nmol/L}$; $\text{nmol/L} \times 0,4 = \text{ng/mL}$.
  • Ngưỡng ngộ độc: nồng độ $25(OH)D > 250\text{ nmol/L}$ kết hợp tăng canxi máu, canxi niệu, vôi hóa thận và suy thận.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (24/12/2016 đến 31/01/2017): Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 406 cặp trẻ và bà mẹ tại 2 xã (An Thắng và Trường Thọ) thuộc huyện An Lão để xác định tỷ lệ thiếu hụt vitamin D, tần suất mắc NKHHC và các yếu tố liên quan.
  • Giai đoạn 2 (15/02/2017 đến 31/01/2018): Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, so sánh trước sau. Nhóm can thiệp (NCT) tại xã Trường Thọ được uống vitamin D liều tiêu chuẩn 500 IU/ngày (1 giọt/ngày) trong 12 tháng; nhóm chứng (NC) tại xã An Thắng chỉ được theo dõi tự nhiên và hưởng các chương trình y tế sẵn có. Các mốc đánh giá gồm: thời điểm ban đầu ($T_0$), giữa kỳ sau 6 tháng ($T_6$) và kết thúc can thiệp sau 12 tháng ($T_{12}$).

Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu

  • Cỡ mẫu điều tra cắt ngang (Giai đoạn 1): Áp dụng công thức ước tính một tỷ lệ với mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), tỷ lệ thiếu hụt tham khảo $p = 0,49$ (theo Trần Thị Nguyệt Nga), độ chính xác tuyệt đối $d = 0,1 \times p = 0,049$. Cỡ mẫu tính toán là 399 trẻ, dự phòng 20% bỏ cuộc, tổng số thực tế thu thập là 406 trẻ (và 406 bà mẹ).
    • Quy trình chọn mẫu nhiều giai đoạn: Chọn chủ đích huyện An Lão $\rightarrow$ Chọn ngẫu nhiên 2 xã (An Thắng: 754 trẻ, Trường Thọ: 591 trẻ; tổng quần thể 1.345 trẻ) $\rightarrow$ Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách với khoảng cách mẫu $k = 1.345 / 406 \approx 3$, số ngẫu nhiên ban đầu là 2.
  • Cỡ mẫu nghiên cứu can thiệp (Giai đoạn 2): Áp dụng công thức so sánh hai giá trị trung bình với sai lầm loại I $\alpha = 0,05$, sai lầm loại II $\beta = 0,1$ ($C = 10,51$), nồng độ vitamin D trung bình trước can thiệp $\mu_1 = 23,23\text{ ng/mL}$, độ lệch chuẩn $s = 5,5\text{ ng/mL}$, nồng độ kỳ vọng sau can thiệp $\mu_2 = 32\text{ ng/mL}$. Kích thước hiệu ứng $ES = (32 - 23,23) / 5,5 = 0,5036$. Cỡ mẫu tính toán là 82 trẻ cho mỗi nhóm, tổng cộng 164 trẻ được đánh giá chi tiết tại thời điểm $T_{12}$.
    • Quy trình chọn nhóm can thiệp và chứng: Chọn ngẫu nhiên xã Trường Thọ làm nhóm can thiệp (tổng 214 trẻ, loại 7 trẻ có $25(OH)D < 20\text{ ng/mL}$ chuyển viện điều trị, còn 207 trẻ uống vitamin D; chọn hệ thống 82 trẻ với $k = 207/82 \approx 2$, bắt đầu từ số 2) và xã An Thắng làm nhóm chứng (tổng 192 trẻ, loại 2 trẻ có $25(OH)D < 20\text{ ng/mL}$, còn 190 trẻ; chọn hệ thống 82 trẻ với $k = 190/82 \approx 2$, bắt đầu từ số 1).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương 1 trình bày hệ thống lý luận và thực chứng về đặc điểm sinh học của vitamin D, cơ chế miễn dịch, dịch tễ học NKHHC và các yếu tố liên quan:

  1. Cơ cấu căn nguyên gây bệnh NKHHC ở trẻ em: Tác nhân gây bệnh bao gồm virus và vi khuẩn. Theo Wend Kuan Liu và cộng sự nghiên cứu trên 4.242 bệnh nhi tại Quảng Châu (Trung Quốc), căn nguyên dương tính chiếm 55,7%, trong đó:

    • Virus hợp bào hô hấp (RSV): 32,5% (768/2361)
    • Cúm A (Influenza A): 18,1% (428/2361)
    • Enterovirus: 13,3% (138/2361)
    • Mycoplasma pneumoniae: 11,3% (267/2361)
    • Adenovirus: 9,0% (213/2361)
    • Tỷ lệ đồng nhiễm chiếm 21,3% (503/2361 ca dương tính).
    • Nghiên cứu của Herve A Kadjo và cộng sự ghi nhận các virus gây viêm phổi ngoài cúm gồm: hRV (31,92%), hRSV (24,4%), PIV (20,5%), HCoV-229E (12,05%), hMPV (6,2%), HCoV-OC43 (1,0%) và EnV (1,0%).
  2. Tiêu chuẩn phân loại lâm sàng NKHHC theo WHO và Bộ Y tế:

    • Ngưỡng nhịp thở nhanh: Trẻ dưới 2 tháng $\ge 60\text{ lần/phút}$; trẻ 2 đến dưới 12 tháng $\ge 50\text{ lần/phút}$; trẻ 12 đến 60 tháng $\ge 40\text{ lần/phút}$.
    • Dấu hiệu nguy kịch toàn thân ở trẻ dưới 2 tháng: Co giật, ngủ li bì khó đánh thức, bỏ bú hoặc bú kém, thở rít khi nằm yên, thở khò khè, sốt cao hoặc hạ thân nhiệt.
    • Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ từ 2 tháng đến dưới 60 tháng: Co giật, ngủ li bì khó đánh thức, không uống được, thở rít khi nằm yên, suy dinh dưỡng nặng.
Nhóm tuổi Dấu hiệu lâm sàng Phân loại bệnh
Trẻ 2 tháng đến < 60 tháng Không uống được, co giật, ngủ li bì khó đánh thức, thở rít khi nằm yên, SDD nặng Bệnh rất nặng / Viêm phổi rất nặng
Rút lõm lồng ngực Viêm phổi nặng
Không rút lõm lồng ngực, có thở nhanh ($\ge 50\text{ l/p}$ ở 2–<12 th; $\ge 40\text{ l/p}$ ở 12–60 th) Viêm phổi
Không rút lõm lồng ngực, không thở nhanh Không viêm phổi / Ho hoặc cảm lạnh
Trẻ < 2 tháng Bỏ bú/bú kém, co giật, ngủ li bì khó đánh thức, thở rít khi nằm yên, khò khè, sốt/hạ thân nhiệt Bệnh rất nặng / Viêm phổi rất nặng
Rút lõm lồng ngực mạnh hoặc thở nhanh ($\ge 60\text{ lần/phút}$) Viêm phổi nặng
Không rút lõm lồng ngực mạnh, không thở nhanh ($< 60\text{ lần/phút}$) Không viêm phổi / Ho hoặc cảm lạnh
  1. Tổng quan các yếu tố liên quan đến NKHHC và thiếu vitamin D: Phân tích từ các nghiên cứu của Stephan Berman, Gebertsadik A, Angela Maria Pinzon Rondon, Alexis A, Oluremi Olayinka Solomon, Jean-Modeste Harerimana và Chowdhury R cho thấy các yếu tố nguy cơ bao gồm: trẻ sinh non (< 37 tuần), cân nặng sơ sinh thấp (< 2500g), không được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, gia đình đông con, ô nhiễm không khí trong nhà do sử dụng than/củi, hút thuốc lá thụ động, điều kiện kinh tế thấp kém và mẹ có trình độ học vấn thấp. Nghiên cứu của Vicka Oktaria (Indonesia) và Chowdhury R (Bắc Ấn Độ) khẳng định trẻ thiếu vitamin D có nguy cơ mắc NKHHC dưới tăng gấp 1,26 lần so với trẻ đủ vitamin D.

  2. Địa bàn nghiên cứu thực địa:

    • Xã An Thắng: Diện tích 561,1 ha, 2.073 hộ dân, 8.526 nhân khẩu; Trạm Y tế gồm 6 cán bộ (1 bác sĩ, 2 y sĩ đa khoa, 2 điều dưỡng, 1 nữ hộ sinh) và 11 nhân viên y tế thôn.
    • Xã Trường Thọ: Xã thuần nông, có 782 trẻ dưới 5 tuổi, 2.250 phụ nữ lứa tuổi 15–49, 140 trẻ đẻ sống; Trạm Y tế gồm 5 cán bộ (2 y sĩ, 2 điều dưỡng, 1 nữ hộ sinh) và 8 nhân viên y tế thôn.

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả chi tiết thiết kế phương pháp luận, tiêu chuẩn mẫu và quy trình kỹ thuật thu thập số liệu:

  1. Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng:

    • Tiêu chuẩn lựa chọn trẻ: Trẻ sinh ra tại huyện An Lão (ngày sinh tại Trường Thọ từ 24/12/2011 đến 24/12/2016; tại An Thắng từ 07/01/2012 đến 07/01/2017) xác định qua giấy khai sinh hoặc sổ hộ khẩu; gia đình đồng ý tham gia. Người chăm sóc chính trực tiếp tham gia chăm sóc, nuôi dưỡng và đồng ý hợp tác.
    • Tiêu chuẩn loại trừ trẻ: Trẻ mắc dị tật bẩm sinh (tiêu hóa, tim mạch, thần kinh, bại não); bệnh lý chuyển hóa xương (loạn sản sụn, xương hóa đá, còi xương kháng vitamin D); sử dụng polyvitamin hoặc chế phẩm chứa vitamin D trong 2 tuần gần nhất; đang mắc bệnh cấp tính tại thời điểm điều tra; đang điều trị corticoid, thuốc chống động kinh, thuốc chống đông. Người chăm sóc chính mắc bệnh tâm thần hoặc rối loạn trí nhớ.
  2. Quy trình triển khai can thiệp 4 bước:

    • Bước 1 (Đầu vào $T_0$): Đánh giá nhân khẩu học, chiều cao, cân nặng, tỷ lệ mắc NKHHC trong 4 tuần trước điều tra, nồng độ $25(OH)D$ huyết thanh và các yếu tố liên quan trên 406 trẻ.
    • Bước 2 (Triển khai can thiệp): Cấp phát và hướng dẫn uống vitamin D liều tiêu chuẩn 500 IU/ngày (1 giọt/ngày) cho trẻ tại xã Trường Thọ liên tục trong 12 tháng; giám sát qua hệ thống y tế thôn và trạm y tế.
    • Bước 3 (Đánh giá giữa kỳ $T_6$ sau 6 tháng): Đo cân nặng, chiều cao, khám phát hiện NKHHC và định lượng nồng độ vitamin D.
    • Bước 4 (Đánh giá cuối kỳ $T_{12}$ sau 12 tháng): Lấy mẫu ngẫu nhiên hệ thống 82 trẻ ở nhóm can thiệp và 82 trẻ ở nhóm chứng để đo chiều cao, cân nặng, xác định nồng độ $25(OH)D$, tỷ lệ thiếu hụt vitamin D và tỷ lệ mắc NKHHC.
  3. Chỉ số, biến số nghiên cứu và tiêu chí đánh giá:

    • Chỉ số nhân khẩu học và kinh tế - xã hội: Tuổi (0–<12, 12–<24, 24–<36, 36–<48, 48–$\le$60 tháng), giới tính (nam, nữ), cân nặng khi sinh (< 2500g, $\ge 2500\text{g}$), tuổi thai (< 37 tuần, $\ge 37\text{ tuần}$), thứ tự sinh; nghề nghiệp của mẹ (làm ruộng, công nhân, cán bộ viên chức, kinh doanh tự do, nội trợ); học vấn mẹ (tiểu học, THCS, THPT, trung cấp/cao đẳng, đại học và sau đại học); thu nhập hộ gia đình theo chuẩn nghèo Nghị định 07/2021/NĐ-CP (< 1,5 triệu đồng/người/tháng ở nông thôn).
    • Chỉ số vitamin D và triệu chứng lâm sàng: Nồng độ $25(OH)D$ trung bình (ng/mL); tỷ lệ thiếu hụt vitamin D (< 30 ng/mL); nồng độ phosphatase kiềm huyết thanh (bình thường < 350 U/L); các dấu hiệu cơ năng và thực thể: quấy khóc đêm, giật mình, mồ hôi trộm, thóp rộng/bờ thóp mềm, rụng tóc sau gáy/vành khăn, chuỗi hạt sườn, ngực gà, ngực hình chuông, vẹo cột sống, biến dạng xương chi, vòng cổ tay/cổ chân.
    • Chỉ số NKHHC: Tỷ lệ mắc NKHHC trong 4 tuần trước điều tra; cơ cấu vị trí tổn thương (NKHHC trên: viêm mũi họng, VA, viêm amidan, viêm tai giữa; NKHHC dưới: viêm thanh quản, khí phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi); phân loại mức độ nặng theo phác đồ của WHO và Bộ Y tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu dịch tễ học về tình trạng thiếu hụt vitamin D huyết thanh và tần suất mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại cộng đồng nông thôn Hải Phòng.
  • Làm sáng tỏ mối liên quan giữa nồng độ $25(OH)D$ huyết thanh với tần suất mắc và cơ cấu bệnh lý NKHHC (đặc biệt là NKHHC dưới), cung cấp bằng chứng thực nghiệm về đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp ở trẻ nhỏ.

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Xây dựng và thử nghiệm quy trình can thiệp bổ sung vitamin D đường uống liều tiêu chuẩn 500 IU/ngày trong 12 tháng tại tuyến y tế cơ sở thông qua mạng lưới cộng tác viên y tế thôn và trạm y tế xã.
  • Chứng minh tính khả thi, an toàn và hiệu quả của phác đồ bổ sung vitamin D liều tiêu chuẩn hàng ngày tại cộng đồng: không ghi nhận các biến chứng ngộ độc vitamin D (tăng canxi máu hay nồng độ $> 250\text{ nmol/L}$), đồng thời cải thiện tình trạng dinh dưỡng vitamin D, hỗ trợ phát triển thể chất và giảm tần suất mắc NKHHC ở trẻ dưới 5 tuổi.
  • Đề xuất giải pháp đưa hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe về phòng chống thiếu vitamin D và hướng dẫn bổ sung vitamin D liều tiêu chuẩn vào các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em tại tuyến y tế cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được triển khai tại phạm vi hai xã thuần nông thuộc huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, do đó các đặc điểm dịch tễ và môi trường mang tính đặc thù cho khu vực nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Các trường hợp trẻ có tình trạng thiếu vitamin D mức độ nặng ($25(OH)D < 20\text{ ng/mL}$) phát hiện qua điều tra cắt ngang đã được loại trừ khỏi nghiên cứu can thiệp cộng đồng để chuyển tuyến điều trị chuyên khoa nhằm đảm bảo y đức, do đó nhóm can thiệp chỉ đánh giá trên đối tượng có nồng độ $25(OH)D \ge 20\text{ ng/mL}$.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng nghiên cứu can thiệp đa trung tâm trên các vùng sinh thái khác nhau (thành thị, miền núi, ven biển) để so sánh hiệu quả; đồng thời kết hợp xét nghiệm các chỉ dấu sinh học miễn dịch chuyên sâu (như nồng độ peptid kháng khuẩn cathelicidin LL-37, các cytokin IL-2, IL-4, IFN-$\gamma$) nhằm làm sáng tỏ cơ chế phân tử tại thực địa.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên sau đại học chuyên ngành Nhi khoa, Y tế công cộng, Dinh dưỡng: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa điều tra mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, kỹ thuật tính cỡ mẫu và chọn mẫu hệ thống nhiều giai đoạn.
  • Đối với bác sĩ lâm sàng Nhi khoa và cán bộ y tế cơ sở: Cung cấp tài liệu tham khảo về liều lượng an toàn, quy trình theo dõi lâm sàng và các dấu hiệu nhận biết sớm tình trạng thiếu vitamin D, cũng như phác đồ xử trí và phân loại NKHHC theo hướng dẫn chuẩn của Bộ Y tế và WHO.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách y tế và dinh dưỡng: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn để xây dựng các khuyến nghị bổ sung vi chất dinh dưỡng và lồng ghép chương trình dự phòng NKHHC tại cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Liều bổ sung vitamin D được sử dụng trong nghiên cứu can thiệp của luận án là bao nhiêu và kéo dài trong bao lâu?
Luận án áp dụng phác đồ can thiệp bổ sung vitamin D đường uống với liều tiêu chuẩn 500 IU/ngày (tương đương 1 giọt/ngày) liên tục trong thời gian 12 tháng cho trẻ em dưới 5 tuổi thuộc nhóm can thiệp tại xã Trường Thọ.

2. Ngưỡng nồng độ 25(OH)D huyết thanh để phân loại tình trạng vitamin D trong luận án được xác định như thế nào?
Dựa theo khuyến cáo của Holick MF (2017) và Đồng thuận Hội Nhi khoa Italy (2018), luận án phân loại nồng độ $25(OH)D$ huyết thanh thành 3 mức: bình thường khi $\ge 30\text{ ng/mL}$ ($\ge 75\text{ nmol/L}$); thiếu hụt (insufficiency) khi từ $20\text{ đến } < 30\text{ ng/mL}$ ($50\text{ đến } < 75\text{ nmol/L}$); và thiếu (deficiency) khi $< 20\text{ ng/mL}$ ($< 50\text{ nmol/L}$). Ngưỡng ngộ độc được xác định khi nồng độ $> 250\text{ nmol/L}$ kết hợp tăng canxi máu.

3. Tại sao các trẻ có nồng độ vitamin D dưới 20 ng/mL bị loại khỏi nghiên cứu can thiệp giai đoạn 2?
Trong giai đoạn điều tra cắt ngang tại thời điểm $T_0$, có 7 trẻ tại xã Trường Thọ và 2 trẻ tại xã An Thắng có nồng độ $25(OH)D < 20\text{ ng/mL}$. Những trẻ này bị loại khỏi nghiên cứu can thiệp cộng đồng để đảm bảo nguyên tắc y đức và được chuyển đến điều trị chuyên khoa tại bệnh viện theo phác đồ điều trị thiếu vitamin D mức độ nặng.

4. Cỡ mẫu nghiên cứu cho từng giai đoạn của luận án được tính toán như thế nào?
Giai đoạn 1 (mô tả cắt ngang) tính toán cỡ mẫu dựa trên công thức ước tính một tỷ lệ với $p = 0,49$, độ chính xác $d = 10% \times p$, thu được cỡ mẫu 399 trẻ và bổ sung dự phòng thành 406 trẻ. Giai đoạn 2 (can thiệp) tính toán dựa trên công thức so sánh 2 số trung bình với $\alpha = 0,05$, $\beta = 0,1$, $\mu_1 = 23,23\text{ ng/mL}$, $\mu_2 = 32\text{ ng/mL}$, $s = 5,5\text{ ng/mL}$, xác định cỡ mẫu cần thiết là 82 trẻ cho mỗi nhóm (tổng cộng 164 trẻ cho 2 nhóm can thiệp và chứng tại thời điểm $T_{12}$).


Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Yến đã tổng quan các vấn đề lý luận và thực tiễn về mối liên quan giữa tình trạng thiếu vitamin D và bệnh lý nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ dưới 5 tuổi. Thông qua thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 406 trẻ và thử nghiệm can thiệp cộng đồng có đối chứng trên 164 trẻ tại huyện An Lão, Hải Phòng, công trình đã xác lập các bằng chứng dịch tễ học và đánh giá hiệu quả của phác đồ bổ sung vitamin D 500 IU/ngày trong 12 tháng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác dự phòng, nâng cao thể chất và giảm thiểu gánh nặng NKHHC ở trẻ em tại tuyến y tế cơ sở.