Luận án tiến sĩ y học: Đặc điểm dịch tễ lâm sàng nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh non tháng và hiệu quả dự phòng fluconazole - Thái Bằng Giang, Trường Đại học Y Hà Nội

Nghiên cứu chi tiết đặc điểm dịch tễ lâm sàng nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh và hiệu quả fluconazole. Phân tích triệu chứng, chẩn đoán và điều trị bệnh nhiễm nấm

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nhi khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2021

159
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh và trẻ đẻ non

Nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh là vấn đề nghiêm trọng trong lĩnh vực nhi khoa, đặc biệt ở nhóm trẻ đẻ non có cân nặng thấp. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tỷ lệ nhiễm Candida ở trẻ sơ sinh rất nhẹ cân (ELBW) có thể lên đến 3-5%, cao hơn đáng kể so với trẻ đủ tháng. Candida albicans là tác nhân gây bệnh phổ biến nhất, chiếm khoảng 50-60% các trường hợp. Tuy nhiên, sự gia tăng của các chủng Candida không phải albicans như C. glabrata, C. parapsilosis đang đặt ra thách thức mới trong điều trị. Nhiễm nấm huyết ở trẻ sơ sinh có tỷ lệ tử vong cao, dao động từ 20-44% tùy thuộc nghiên cứu. Các yếu tố nguy cơ bao gồm sử dụng kháng sinh phổ rộng kéo dài, nuôi ăn tĩnh mạch, đặt catheter tĩnh mạch trung tâm và thời gian nằm viện dài. Việc hiểu rõ đặc điểm dịch tễ học là nền tảng quan trọng để xây dựng chiến lược dự phòng và điều trị hiệu quả.

1.1. Đặc điểm sinh học của nấm Candida gây bệnh

Nấm Candida là loại nấm men có khả năng gây bệnh cơ hội ở người, đặc biệt ở những đối tượng suy giảm miễn dịch. Cấu trúc tế bào nấm bao gồm thành tế bào chứa β-1,3-d-glucan và màng tế bào có chứa ergosterol. Candida có thể tồn tại ở hai dạng: dạng men và dạng sợi nấm (pseudohyphae và true hyphae). Sự chuyển đổi dạng hình thái này đóng vai trò quan trọng trong quá trình xâm nhập và gây bệnh. Nấm sinh sản vô tính bằng cách nảy chồi, tạo ra các tế bào con có khả năng phát triển nhanh trong điều kiện thuận lợi. Khả năng tạo biofilm trên các bề mặt như catheter là yếu tố giúp nấm tránh được tác động của thuốc kháng nấm và hệ miễn dịch cơ thể.

1.2. Phân loại nấm và cơ chế gây bệnh ở trẻ sơ sinh

Nấm gây bệnh ở người được phân loại thành nấm men (yeast), nấm sợi mốc (mold) và nấm dimorphic. Ở trẻ sơ sinh, Candida là nhóm nấm men thường gặp nhất. Cơ chế gây bệnh của Candida bao gồm: bám dính vào bề mặt niêm mạc hoặc thiết bị y tế, xâm nhập vào mô, tạo độc tố và enzyme phân giải protein. Ở trẻ đẻ non, hệ miễn dịch chưa trưởng thành với sự thiếu hụt miễn dịch thể dịch và miễn dịch tế bào là yếu tố thuận lợi cho nấm phát triển. Sự giảm nồng độ IgG, IgM và chức năng thực bào, lymphocyte T suy yếu làm tăng tính nhạy cảm với nhiễm nấm xâm lấn.

II. Phân tích đặc điểm dịch tễ học nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh

Dịch tễ học nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các vùng địa lý và nhóm tuổi thai. Tại Việt Nam, nghiên cứu trên trẻ đẻ non tại các đơn vị hồi sức sơ sinh (NICU) ghi nhận tỷ lệ nhiễm Candida khoảng 0,74-1,3% trên tổng số trẻ sơ sinh sống. Tuy nhiên, ở nhóm trẻ cân nặng rất thấp dưới 1500g, tỷ lệ này tăng vọt lên 3-5%. Tuổi thai trung bình của trẻ nhiễm nấm thường là 28-32 tuần, cân nặng trung bình khoảng 1200-1600g. Biểu hiện lâm sàng thường không đặc hiệu, bao gồm: sốt hoặc hạ thân nhiệt, bú kém, chướng bụng, vàng da và các dấu hiệu nhiễm trùng huyết. Xét nghiệm máu cho thấy giảm tiểu cầu nặng (dưới 50.000/mm3) là biểu hiện thường gặp nhất, xuất hiện ở gần 78% trường hợp. Tỷ lệ tử vong do nhiễm nấm huyết ở trẻ sơ sinh dao động từ 19-44%, tùy thuộc chủng nấm và thời điểm phát hiện bệnh. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm: sử dụng kháng sinh phổ rộng trên 5 ngày, nuôi ăn đường tĩnh mạch toàn phần, đặt catheter tĩnh mạch trung tâm và sử dụng corticoid.

2.1. Tỷ lệ mắc và phân bố chủng nấm gây bệnh

Nghiên cứu đa trung tâm tại Trung Quốc giai đoạn 2009-2011 trên trẻ đẻ non tại 11 đơn vị NICU cho thấy tỷ lệ nhiễm Candida là 0,74%, với tỷ lệ ở trẻ cân nặng thấp là 3,42%. Candida albicans chiếm 57,4% và 22,4% trẻ bị viêm màng não do nấm. Tại Ấn Độ, nghiên cứu trên 27.076 trẻ sơ sinh sống ghi nhận 36 trường hợp nhiễm nấm, trong đó 75% là trẻ đẻ non. Đáng chú ý, C. glabrata chiếm 44,4% và C. albicans chỉ 25%. Các chủng không phải albicans có tỷ lệ tử vong cao hơn (55,5% so với 11,1%). Tất cả chủng nấm phân lập được vẫn nhạy cảm với amphotericin B và fluconazole.

2.2. Các yếu tố nguy cơ và biểu hiện lâm sàng

Các yếu tố nguy cơ nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh bao gồm: tuổi thai dưới 32 tuần, cân nặng dưới 1500g, sử dụng kháng sinh phổ rộng kéo dài trên 5 ngày, nuôi ăn tĩnh mạch toàn phần, đặt catheter tĩnh mạch trung tâm (CVC), sử dụng NCPAP hoặc nội khí quản, corticoid sau sinh và acid ức chế bơm proton. Biểu hiện lâm sàng thường không đặc hiệu: bú kém, lừ đứt, chướng bụng, rối loạn nhiệt độ, vàng da. Xét nghiệm cho thấy giảm tiểu cầu nặng là dấu hiệu nhạy cảm nhất (77,8%), tăng CRP, rối loạn đông máu. Shock (94,4%) và xuất huyết (69,4%) là nguyên nhân tử vong phổ biến.

III. Điều trị dự phòng nhiễm nấm bằng fluconazole trên trẻ đẻ non

Fluconazole là thuốc kháng nấm nhóm azole được sử dụng rộng rãi trong dự phòng nhiễm nấm cho trẻ đẻ non. Cơ chế tác động của fluconazole thông qua việc ức chế enzyme 14α-demethylase thuộc hệ cytochrome P450, ngăn cản quá trình tổng hợp ergosterol - thành phần quan trọng của màng tế bào nấm. Thuốc có sinh khả dụng đường uống cao (trên 90%), phân bố tốt vào các mô và dịch cơ thể, đặc biệt qua được hàng rào máu não. Nửa đời thải trừ ở trẻ sơ sinh dài hơn người lớn (30-40 giờ so với 24-30 giờ). Liều dự phòng thường dùng là 3-6 mg/kg, cho 2 lần/tuần, bắt đầu từ khi sinh và kéo dài đến khi trẻ đạt cân nặng 1000g hoặc đến khi ngừng nuôi ăn tĩnh mạch. Nhiều nghiên cứu quốc tế đã chứng minh hiệu quả của fluconazole trong giảm tỷ lệ nhiễm nấm xâm lấn ở trẻ đẻ non, với tỷ lệ giảm từ 40-80%. Tại Việt Nam, nghiên cứu cũng cho kết quả tương tự, tỷ lệ nhiễm nấm giảm đáng kể ở nhóm được dự phòng. Fluconazole được đánh giá an toàn, ít tác dụng phụ trên gan ở liều dự phòng.

3.1. Dược lý học và cơ chế tác động của fluconazole

Fluconazole thuộc nhóm triazole, có phổ kháng nấm rộng bao gồm Candida, Cryptococcus và một số nấm sợi. Cơ chế tác động dựa trên sự ức chế cạnh tranh enzyme lanosterol 14α-demethylase (CYP51), enzyme quan trọng trong quá trình chuyển đổi lanosterol thành ergosterol. Sự thiếu hụt ergosterol làm thay đổi tính thấm màng tế bào nấm, ức chế sự phát triển và sinh sản. Fluconazole có đặc điểm dược động học ưu việt: sinh khả dụng đường uống cao, phân bố rộng rãi vào các mô và dịch cơ thể, qua được hàng rào máu não. Ở trẻ sơ sinh, nồng độ đỉnh trong huyết thanh đạt sau 1-3 giờ, nửa đời thải trừ 30-40 giờ. Thuốc thải trừ chủ yếu qua thận dưới dạng không biến đổi (80%). Ở liều dự phòng, fluconazole hiếm khi gây độc gan.

3.2. Hiệu quả và an toàn của phác đồ dự phòng fluconazole

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh hiệu quả của fluconazole trong dự phòng nhiễm nấm cho trẻ đẻ non. Phác đồ phổ biến sử dụng liều 3 mg/kg, 2 lần/tuần đường tĩnh mạch hoặc đường uống, bắt đầu từ 72 giờ sau sinh và kéo dài đến 6 tuần hoặc đến khi trẻ đạt 1000g. Tỷ lệ nhiễm nấm xâm lấn giảm 40-80% so với nhóm không dự phòng. Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm giảm từ 11,9% xuống 2,9% sau khi áp dụng dự phòng fluconazole. Về an toàn, các nghiên cứu theo dõi chức năng gan định kỳ cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về ALT, AST giữa nhóm dự phòng và nhóm đối chứng. Tuy nhiên, cần theo dõi sát các tác dụng phụ có thể xảy ra và nguy cơ kháng thuốc.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn trong lâm sàng nhi khoa

Nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh, đặc biệt trẻ đẻ non, vẫn là thách thức lớn trong chăm sóc sơ sinh. Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng khoa học quan trọng về đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và hiệu quả của điều trị dự phòng bằng fluconazole. Các phát hiện chính bao gồm: tỷ lệ nhiễm nấm ở trẻ đẻ non cao hơn đáng kể so với trẻ đủ tháng, Candida albicans là tác nhân phổ biến nhất nhưng sự gia tăng chủng không phải albicans cần được quan tâm. Giảm tiểu cầu nặng là dấu hiệu cảnh báo sớm hữu ích. Dự phòng bằng fluconazole cho trẻ đẻ non cân nặng dưới 1500g có hiệu quả giảm tỷ lệ nhiễm nấm xâm lấn mà không gây tác dụng phụ nghiêm trọng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khuyến cáo nên áp dụng chiến lược dự phòng fluconazole cho nhóm trẻ nguy cơ cao tại các đơn vị NICU ở Việt Nam. Cần tiếp tục nghiên cứu đa trung tâm với quy mô lớn hơn để đánh giá lâu dài về hiệu quả và sự an toàn, cũng như theo dõi xu hướng kháng thuốc của nấm Candida.

4.1. Khuyến cáo lâm sàng dựa trên bằng chứng

Dựa trên kết quả nghiên cứu và tổng quan y văn, các khuyến cáo lâm sàng được đề xuất: (1) Chỉ định dự phòng fluconazole cho trẻ đẻ non cân nặng dưới 1500g, đặc biệt nhóm ELBW dưới 1000g; (2) Liều dự phòng 3 mg/kg, 2 lần/tuần, đường tĩnh mạch hoặc uống; (3) Thời gian dự phòng từ 72 giờ sau sinh đến 6 tuần hoặc đến khi ngừng nuôi ăn tĩnh mạch; (4) Theo dõi chức năng gan định kỳ 2 tuần/lần; (5) Nuôi cấy máu khi có nghi ngờ nhiễm nấm huyết; (6) Xét nghiệm β-D-glucan và mannan antigen hỗ trợ chẩn đoán sớm.

4.2. Hướng nghiên cứu tương lai và thách thức đặt ra

Nhiều hướng nghiên cứu cần được tiếp tục triển khai: (1) Nghiên cứu đa trung tâm quy mô lớn để xác định tỷ lệ nhiễm nấm toàn quốc; (2) Đánh giá xu hướng kháng fluconazole của các chủng Candida; (3) Nghiên cứu so sánh hiệu quả giữa fluconazole và echinocandin (micafungin, caspofungin); (4) Đánh giá tác động lâu dài của dự phòng fluconazole lên hệ vi sinh vật đường ruột và phát triển thần kinh; (5) Nghiên cứu chi phí - hiệu quả của chiến lược dự phòng. Thách thức chính bao gồm: nguy cơ kháng thuốc gia tăng, thiếu hắng chế giám sát nhiễm nấm toàn diện và chi phí điều trị tăng thêm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ y học đặc điểm dịch tễ học lâm sàng nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh và hiệu quả điều trị dự phòng bằng fluconazole trên trẻ đẻ non

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm trùng do nấm là một trong những bệnh lý khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt ở Việt Nam với đặc trƣng khí hậu nhiệt đới gió mùa là điều kiện sống lý tƣởng cho nấm. Nấm tồn tại ở khắp mọi nơi: trong môi trƣờng đất, nƣớc, không khí, trên động thực vật và cả trên cơ thể ngƣời. Khi gặp các điều kiện thuận lợi nhƣ thời tiết nóng ẩm, sức đề kháng cơ thể giảm… nấm sẽ phát triển và gây bệnh. Bệnh lý do nấm có thể gặp ở cả ngƣời lớn, trẻ em và cả trẻ sơ sinh [1], [2], [3], [4].

Nấm lây truyền chủ yếu qua da và niêm mạc. Ở trẻ sơ sinh, bệnh nấm có thể thứ phát do lây truyền mẹ sang con hoặc do nhiễm trùng bệnh viện. Nhiễm trùng bệnh viện là vấn đề rất thƣờng gặp ở trẻ sơ sinh và đây là nguyên nhân quan trọng hàng đầu làm gia tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian và tăng chi phí điều trị [5]. Đặc biệt, trẻ đẻ non, cân nặng thấp tỷ lệ mắc nhiễm trùng bệnh viện càng cao.

Trẻ sơ sinh non tháng có nhiều nguy cơ mắc nhiễm trùng bệnh viện do nấm nhƣ hệ miễn dịch chƣa hoàn chỉnh, tăng tính thấm của hàng rào da và niêm mạc, trẻ thƣờng đƣợc điều trị kháng sinh phổ rộng kéo dài, đặt catheter nuôi dƣỡng tĩnh mạch dài ngày, đo huyết áp động mạch xâm lấn, sử dụng corticosteroids sau sinh và các biện pháp hỗ trợ hô hấp nhƣ thở máy, thở NCPAP. Tác nhân gây bệnh chủ yếu là Candida albicans và Candida parapsilosis. Các nhiễm trùng do các loài nấm khác nhƣ Aspergillus, Cryptococcus, Kodaemea ohmeri hay Malassezia hiếm gặp hơn. Tuy nhiên nhiễm trùng do nấm thƣờng là diễn biến phức tạp với các biến chứng nặng nề và tỷ lệ tử vong cao [11], [12].

Hiện nay trên thế giới việc tiến hành điều trị dự phòng nhiễm nấm cho trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ đẻ non nằm điều trị nội trú tại bệnh viện bằng các thuốc kháng nấm nhƣ fluconazole đã đƣợc tiến hành tại nhiều nơi. Nhiều nghiên cứu cho thấy kết quả rõ rệt trong việc làm giảm tỷ lệ nhiễm nấm ở trẻ. 2 Ở Việt Nam hiện nay chúng tôi chƣa thấy nghiên cứu nào mô tả đặc điểm dịch tễ học lâm sàng của nhiễn nấm ở trẻ sơ sinh, cũng nhƣ chƣa có nghiên cứu nào tiến hành can thiệp điều trị dự phòng nhiễm nấm cho trẻ sơ sinh trong bệnh viện. Hiện tại cũng chƣa có hƣớng dẫn cụ thể nào về việc điều trị dự phòng nhiễm nấm cho trẻ đẻ non tại Việt Nam.

Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh và hiệu quả điều trị dự phòng bằng fluconazole trên trẻ đẻ non” với hai mục tiêu sau: 1. Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh điều trị tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi trung ương. Đánh giá hiệu quả dự phòng nhiễm nấm của fluconazole trên trẻ đẻ non. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.

ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC NẤM GÂY BỆNH Ở NGƢỜI Nấm (Fungi hoặc Mycetes) là những sinh vật, cơ thể đƣợc cấu tạo bởi một hoặc nhiều tế bào.000 loài nấm đã đƣợc mô tả cho đến nay, mặc dù tổng số loài ƣớc tính khoảng 1,5 triệu [1], [2], [3]. Vi nấm (Microfungi) là tất cả các loài nấm không thể quan sát đƣợc bằng mắt thƣờng. Để nghiên cứu vi nấm bắt buộc phải quan sát dƣới kính hiển vi và phải nuôi cấy trong các điều kiện vô khuẩn nhƣ đối với vi khuẩn. Căn cứ vào hình thái ngƣời ta chia vi nấm thành hai nhóm khác nhau: nhóm nấm men (Yeast) và nhóm nấm sợi (Filamentous fungi).

Hai nhóm này khác nhau về hình thái chứ không phải là những phân loại riêng biệt. Nhiều nấm men cũng có dạng sợi và rất khó phân biệt với nấm sợi. Ngoài ra còn có dạng lƣỡng hình (Dimorphic) có thể phát triển nhƣ nấm sợi (ở môi trƣờng) hoặc nấm men (ở ngƣời). Nấm không phải là sinh vật tự dƣỡng vì tế bào nấm không có diệp lục nên không thể tự tổng hợp đƣợc cacbonhydrat và protein từ các chất đơn giản.

Nấm là sinh vật dị dƣỡng, nấm sống theo kiểu hoại sinh trên những cơ thể động vật hay thực vật đã chết hoặc sống theo kiểu ký sinh trên những phần cơ thể sống khác, một số loài nấm có thể sống theo cả hai cách trên. Hình dạng đại thể của nấm Tế bào nấm phát triển rồi phân nhánh tạo nên sợi nấm, các sợi nấm tiếp tục phát triển phân nhánh tạo nên hệ sợi nấm. Trong sợi nấm có vách ngăn phân chia các tế bào nấm với nhau. Những hệ sợi nấm này tạo thành các khuẩn lạc mà mắt ngƣời bình thƣờng có thể quan sát đƣợc.

4 Theo chức năng, đặc điểm của từng hệ sợi nấm mà ngƣời ta thƣờng chia làm hai loại hệ sợi:  Hệ sợi nấm cơ chất: phát triển ăn sâu vào cơ chất (môi trƣờng), lấy thức ăn từ môi trƣờng xung quanh để dinh dƣỡng và phát triển.  Hệ sợi nấm không khí: phát triển trên bề mặt môi trƣờng và thƣờng nhô lên trên. Hệ sợi nấm này gồm những sợi nấm không có cơ quan sinh sản và những loại sợi nấm “không khí”, những sợi nấm này mang những cơ quan sinh sản vô tính hay hữu tính. Cấu tạo của tế bào nấm Lá giữa Thành tế bào Màng tế bào Thể lục lạp Nhân Ty thể Thể Cytosol Thể Ribosome Không bào Lƣới nội bào Thể Golgi Nguồn: Clinical Mycology 2nd Hình 1.

Cấu tạo tế bào nấm 5 1. Vỏ tế bào Vỏ tế bào nấm là một màng đƣợc cấu tạo bởi polysaccarit hoặc mucopolysaccarit. Lớp vỏ này bảo vệ tế bào nấm, giữ độ ẩm thích hợp. Cấu tạo hóa học của vỏ tế bào giống nhƣ cấu tạo của thành tế bào và có một số thành phần khác nhƣ mannan (poly-D-mandoza), photphomannan hoặc heoxoza (D-glucoza) và pentoza (D-xiloza, D-arabinoza) [1].

Thành tế bào Thành tế bào có nhiệm vụ giữ cho tế bào nấm có hình dạng nhất định. Thành tế bào đƣợc cấu tạo bởi hỗn hợp protit - polysaccarit. Trong hỗn hợp này thành phần polysaccarit thay đổi nhiều ít khác nhau đặc trƣng cho từng nhóm nấm và dựa vào đó có thể phân loại các nhóm nấm. Phần polysaccarit có cấu trúc phức tạp và có vai trò quan trọng trong miễn dịch.

Các thành phần cấu tạo chính của màng tế bào nấm bao gồm glucan, cellulose, chitine, chitosan, mannan, protein và lipid. Màng tế bào Hình 1. Cấu trúc thành tế bào nấm 6 1. Thể Lomasome Thể lomasome là một cơ quan chỉ có trong tế bào nấm, lomasome là một phần của tiền màng nguyên sinh chất (periplasma) nằm ở giữa thành tế bào và màng nguyên sinh chất.

Lomasome đƣợc xây dựng bởi một hệ màng xoắn, có liên quan đến sự tạo thành tế bào của sợi nấm. Ty thể Thể Lomasome Không bào Thành tế bào Màng nguyên sinh chất Nhân Hạch nhân Lƣới nội bào Màng nhân Thể Ribosome Nguồn: Slideshare. Vị trí của lomasome 1. Màng nguyên sinh chất Màng nguyên sinh chất của tế bào nấm có hai lớp, cấu tạo bởi hỗn hợp protit và lipit là chủ yếu, ngoài ra còn có một phần polysaccarit.

Màng nguyên sinh chất ngăn cách giữa thành tế bào và chất nguyên sinh. Trong tế bào nấm màng nguyên sinh chất thƣờng tạo ra lƣới nội nguyên sinh, màng nhân và màng của không bào [4]. Nguyên sinh chất (bào tương) Nguyên sinh chất trong tế bào nấm là một chất lỏng, có các thành phần chủ yếu là protit, ribonucleoprotein, lipid, glucid và nƣớc. Ở các tế bào nấm còn non bào tƣơng tƣơng đối thuần nhất, ở các tế bào nấm càng già càng có nhiều không bào dự trữ.

Ty thể Đƣợc cấu tạo bởi hai lớp màng, cấu trúc của hai lớp màng này giống nhƣ cấu trúc màng nguyên sinh chất. Trên bề mặt màng ty thể có những hạt nhỏ hình cầu (oxyxom), có chức năng sinh năng lƣợng (tổng hợp ATP) và giải phóng năng lƣợng. Nhân tế bào Bao bọc bên ngoài nhân tế bào nấm là màng nhân, bên trong chứa dịch nhân có chứa hạch nhân (nucleolus). Nhân tế bào nấm hình cầu hoặc hình bầu dục, đặc.

Nấm men chỉ có một nhân, nấm sợi có nhiều nhân. Nhân của nấm thƣờng nhỏ, khó thấy rõ dƣới kính hiển vi quang học. Trong hạch nhân của tế bào nấm có DNA nhƣ ở vi khuẩn, đƣợc tổ chức thành nhiễm sắc thể điển hình và có quá trình phân bào nguyên nhiễm (mitosis). Số lƣợng nhiễm sắc thể trong tế bào khác nhau tùy thuộc vào từng loại nấm.

Nhiễm sắc thể trong nhân thƣờng không dễ nhuộm màu, số lƣợng tƣơng đối nhỏ. Số lƣợng này là 6 ở các nấm Magnaporthe grisea, Paecilomyces fumosoroseus, Trichoderma reesei; là 7 ở các nấm Histoplasma capsulatum, Neurospora crassa, Phenaerchateae chrysosporium, Podospora anserina, là 8 ở các nấm Aspergillus nidulans, Aspergillus niger, Acremonium chrysogenum, Beauveria basiana, Lentinus edodes, là 10 ở nấm Penicillium janthinellum, là 11 ở nấm Schizophyllum commune, là 12 ở nấm Curvularia lunata, là 13 ở nấm Agaricus bisporus, là 15 ở nấm Cyanidioschyzon merolae và là 20 ở nấm Ustilago maydis… 8 1. Các thành phần khác Trong tế bào nấm còn có các cơ quan giống nhƣ trong tế bào các sinh vật có nhân thực (Eukaryote) khác. Đó là mạng nội chất (endoplasmic reticulum), dịch bào hay không bào (vacuolus), ribosome, bào nang (vesicle), thể golgi sinh bào nang (Golgi body, Golgi apparatus, dictyosome), các giọt lipid (lipid droplet), các tinh thể (chrystal) và các vi thể đƣờng kính 0,5 - 1,5 nm (microbody), các thể woronin đƣờng kính 0,2μm, thể chitosome đƣờng kính 40 - 70nm… Ngoài ra trong tế bào chất còn có các vi quản rỗng ruột, đƣờng kính 25nm (microtubule), các vi sợi đƣờng kính 5 - 8nm (microfilament), các thể màng biên ( plasmalemmasome), plasmit chứa các chất nhƣ protit, lipid, glucid, enzyme, muối vô cơ, các chất điện phân và các chất hữu cơ hòa tan.

Đặc điểm cấu trúc và sinh sản của nấm Nấm có hai bộ phận chính: bộ phận dinh dƣỡng và bộ phận sinh sản. Bộ phận dinh dưỡng của nấm Nấm gây bệnh thƣờng có kích thƣớc nhỏ, chỉ quan sát đƣợc dƣới kính hiển vi nên thƣờng gọi là vi nấm. Dựa vào hình thể, vi nấm đƣợc chia ra làm hai nhóm chính: Nấm men: cấu tạo đơn bào, có hình tròn hoặc bầu dục, kích thƣớc 3 - 15µm. Nấm sợi: gồm những sợi tơ nấm có cấu tạo đa bào.

Sợi nấm chia nhánh chằng chịt, ken chặt vào nhau tạo thành những khóm nấm. Nấm Candida khi ký sinh cũng tạo thành những sợi giả để xâm nhập sâu vào trong tổ chức. Cấu tạo sợi nấm (hypha): có hai loại là sợi không vách ngăn có đƣờng kính lớn (> 5 µm) và sợi có vách ngăn có đƣờng kính nhỏ (2 - 4 µm), trong ống tế bào có nguyên sinh chất và nhân [4].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ