Chương 1 TỔNG QUAN 1. TĂNG TRƯỞNG THỂ CHẤT CỦA TRẺ EM 1. Khái niệm Tăng trưởng là sự tăng kích thước của cơ thể hoặc của bất kỳ một bộ phận nào trong cơ thể. Tăng trưởng là một quá trình động với những thay đổi về tầm vóc và thành phần cơ thể.
Tăng trưởng là kết quả của quá trình tăng sản và phì đại (tăng số lượng và kích thước tế bào) cũng như quá trình chết tế bào theo chương trình [104], [157]. Khái niệm tăng trưởng thường được dùng để chỉ thay đổi về thể chất hoặc thể xác, còn phát triển thường dùng cho các quá trình phát triển về tâm sinh lý xã hội. Hai quá trình tăng trưởng và phát triển của trẻ em bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi trẻ trưởng thành. Quá trình tăng trưởng và phát triển trẻ em theo chiều hướng đi lên theo quy luật tiến hoá chủng loài và cá thể tiến hoá.
Tuy nhiên sự tăng trưởng và phát triển của các bộ phận và hệ thống trong cơ thể rất khác nhau về thời điểm bắt đầu, kết thúc cũng như tốc độ. Từ phôi thai đến người trưởng thành là một quá trình thay đổi vừa liên tục vừa không liên tục. Theo duy vật biện chứng những thay đổi về lượng đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất [48]. Do đó trong chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em cần có những cách tiếp cận khác nhau tùy theo giai đoạn hoặc thời kỳ phát triển của trẻ em.
Tăng trưởng của trẻ dưới 2 tuổi Trẻ em là cơ thể đang tăng trưởng, quá trình tăng trưởng thể chất là một quá trình liên tục từ phôi thai cho đến khi trưởng thành, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng cơ thể (chiều cao, cân nặng) và từng cơ quan không giống nhau trong mỗi giai đoạn phát triển tạo nên những quỹ đạo tăng trưởng khác nhau. Tăng trưởng là 5 một vấn đề liên quan với nhiều tính trạng, kích thước của cơ thể. Để đánh giá sự tăng trưởng về thể chất ở trẻ dưới 2 tuổi thường dựa vào các chỉ số: cân nặng, chiều dài, vòng đầu, vòng cánh tay. Tăng trưởng về cân nặng Cân nặng là số đo thường được tiến hành trong tất cả các công trình điều tra cơ bản cũng như thường ngày.
Một phần vì đó là kích thước tổng hợp cơ bản không thể thiếu để đánh giá về mặt thể lực, dinh dưỡng và sự tăng trưởng. Mặt khác, đó cũng là kích thước phổ cập, đơn giản, dễ đo [19]. Cân nặng của người nói lên khối lượng và trọng lượng hay độ lớn tổng hợp của toàn bộ cơ thể, nó có liên quan đến mức độ và tỷ lệ giữa sự hấp thu và tiêu hao. Trẻ được nuôi dưỡng tốt sẽ tăng cân.
Do đó cân nặng phần nào nói lên tình trạng thể lực, dinh dưỡng và sự tăng trưởng của trẻ nhất là khi được theo dõi trong nhiều tháng. Trong thời kỳ bào thai, cân nặng tăng nhiều nhất vào 3 tháng cuối của thai kỳ. Mức độ tăng cân của thai nhi phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng thể chất và dinh dưỡng của bà mẹ trước sinh, mức độ tăng cân trong thai kỳ của bà mẹ cũng như chức năng của rau thai và tử cung của bà mẹ. Cân nặng trung bình khi sinh của trẻ là 3000 gram, trẻ nam thường nặng hơn trẻ nữ từ 100 -150 g, con so thường nhẹ cân hơn con rạ.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến (2004) có cân nặng khi đẻ trẻ trai 3114 gram, trẻ nữ 3100 gram [62], nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Hương (2011) cho thấy cân nặng sơ sinh của trẻ nam 3100 gram, trẻ nữ 3000 gram [17]. Cân nặng tăng gấp đôi khi trẻ được 4-5 tháng và tăng gấp 3 lúc trẻ tròn 1tuổi. Từ 2-10 tuổi, cân nặng của trẻ tăng bình quân 2kg/năm [48]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến cho thấy trong 3 tháng đầu cân nặng của trẻ tăng rất nhanh, cân nặng tăng gấp đôi so với lúc đẻ đối với trẻ nam vào lúc 3 tháng, đối với trẻ nữ vào lúc 4 tháng tuổi.
Trẻ nam cân nặng tăng gấp 3 so với lúc đẻ khi trẻ được 12 6 tháng. Nhưng ở thời điểm này trẻ nữ chỉ tăng gấp 2,5 lần so với lúc đẻ. Từ năm thứ 2 trở đi cân nặng vẫn tiếp tục tăng nhưng tăng chậm hơn so với năm đầu [62]. Nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Hương (2011) cho thấy cân nặng trung bình của trẻ nam cao hơn trẻ nữ ở hầu hết các lứa tuổi [17].
Mức tăng trưởng cân nặng, chiều dài và vòng đầu của trẻ em từ 0-2 tuổi [104] Mức tăng chiều Mức tăng vòng Mức tăng cân Tháng tuổi cao đầu (g/ngày) (cm/tháng) (cm/tháng) 0-3 tháng 30 3,5 2,0 3-6 tháng 20 2,0 1,0 6-9 tháng 15 1,5 0,5 9-12 tháng 12 1,2 0,5 1-2 tuổi 8 1,0 0,25 Có thể ước tính cân nặng của trẻ em theo công thức [104]: Trẻ từ 1-6 tuổi: cân nặng (Kg) = 2 x tuổi (năm) + 8 1. Tăng trưởng về chiều cao (Chiều dài) Chiều cao là một trong những kích thước cơ bản nhất trong các cuộc điều tra về nhân trắc [19]. Chiều cao dùng để đánh giá sức lớn của trẻ em, hình thái tầm vóc của người trưởng thành. Chiều cao là số đo trung thành của tăng trưởng, chiều dài phản ánh tốt cuộc sống quá khứ và là bằng chứng phản ánh chế độ dinh dưỡng.
Trẻ thiếu dinh dưỡng kéo dài sẽ làm chậm phát triển chiều cao. Tốc độ tăng trưởng tăng nhanh nhất trong giai đoạn bào thai, tăng nhanh nhưng giảm nhanh trong giai đoạn nhũ nhi. Trong thời kỳ bào thai, chiều dài từ đỉnh đầu đến mông hoặc gót tăng nhanh nhất trong 3 tháng giữa của thai kỳ, còn cân nặng tăng nhiều nhất vào 3 tháng cuối thai kỳ. Trẻ sơ sinh khi mới đẻ có chiều dài trung bình khoảng 48-50 cm.
Trong năm đầu sau sinh, chiều dài tăng gấp rưỡi (từ 50 cm lúc sinh tăng lên 75 cm 7 lúc tròn 1 năm), đặc biệt trong 3 tháng đầu mỗi tháng chiều dài tăng lên từ 3,5- 3,8 cm, sau đó mỗi tháng tăng thêm từ 1-1,2 cm. Sang năm thứ hai, chiều dài tăng thêm 12 cm. Năm thứ ba tăng thêm 8 cm [48]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến (2004) cho thấy chiều dài khi sinh ở trẻ trai 49,84cm, trẻ gái 49,27cm, chiều dài của trẻ tăng rất nhanh trong 3 tháng đầu, mỗi tháng tăng trung bình 3- 4 cm, hết năm thứ nhất chiều dài tăng thêm 24,9cm ở trẻ thành phố và 24,2 cm ở trẻ nông thôn, chiều dài ở trẻ trai cao hơn trẻ gái [62].
Đo vòng đầu cho phép gián tiếp đánh giá có thể phát hiện sự bất thường thứ phát của não do các quá trình bệnh lý. Vì vậy Hội Nhi khoa Hoa Kỳ khuyến cáo đo vòng đầu khi thăm khám cho trẻ, đặc biệt là trẻ dưới 2 tuổi [167]. Trong thời kỳ bào thai, não là cơ quan được hình thành rất sớm và phát triển nhanh nhất. Ở thai nhi 2 tháng, chiều cao đầu bằng một nửa chiều cao đỉnh – mông.
Lúc mới sinh, trọng lượng não nặng khoảng 370-390g, chiếm 10-12% trọng lượng cơ thể, chu vi vòng đầu trung bình 34 cm (33-37 cm). Trong năm đầu, vòng đầu phát triển nhanh, nhất là 3 tháng đầu, mỗi tháng tăng trung bình 2 cm; sau đó mức độ tăng trưởng chậm dần, trẻ 2 tuổi vòng đầu khoảng 46- 47 cm [104]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến tại Hà Nội cho thấy vòng đầu đẻ trẻ trai 33,34 cm, trẻ gái 32,40 cm, vòng đầu tăng nhanh trong 3 tháng đầu tiên, sau đó tốc độ tăng chậm lại, vòng đầu trẻ trai lớn hơn trẻ gái [62]. WHO đã công bố chuẩn tăng trưởng cho trẻ em từ 0-5 tuổi vào năm 2006; nhưng qua khảo sát hệ thống các nghiên cứu lớn từ 55 nước và chủng tộc trên toàn thế giới cho thấy sự khác biệt giữa chuẩn tăng trưởng chiều dài, cân nặng của WHO 2006 là không đáng kể, nhưng với vòng đầu là đáng kể và có thể đưa đến nguy cơ chẩn đoán sai các trường hợp đầu to hoặc 8 đầu bé [73], [153].
Vì vậy mỗi quốc gia cần có số liệu tham chiếu vòng đầu trẻ em của nước mình. Vòng cánh tay Vòng cánh tay (VCT) là một trong những chỉ tiêu nhân trắc thường được sử dụng trong các cuộc điều tra thực địa. Nó cho phép đánh giá khối lượng các bắp thịt và nó cũng phản ánh tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Dựa vào chỉ số VCT có thể phân loại nhanh tình trạng dinh dưỡng tại cộng đồng.
WHO đã đưa ra ngưỡng đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em từ 1 -5 tuổi theo VCT: Bình thường: VCT ≥ 13,5 cm, VCT 11,5 đến dưới 12,5 cm: SDD cấp tính vừa, VCT < 11,5 cm: SDD cấp tính nặng [161]. Những nghiên cứu cho thấy những trẻ được nuôi dưỡng tốt VCT tăng nhanh, nhất là trong những năm đầu tiên của cuộc đời. Vòng cánh tay lúc mới đẻ của trẻ trai là 10,14 ± 0,99 cm, trẻ gái là 9,98 ± 0,86 cm. Trong năm đầu VCT phát triển nhanh, đến cuối năm thứ nhất đạt 13,5 – 14,0 cm, sau đó tăng chậm dần và thay đổi rất ít, đến 5 tuổi thì đạt 15 -16 cm [104] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến cho thấy VCT lúc mới sinh trẻ trai là 10,35 cm, trẻ gái là 10,05 cm, VCT phát triển nhanh trong năm đầu, đến cuối năm thứ nhất VCT đạt 13,76 – 14,08 cm, sau đó tăng chậm lại [62].
Khuynh hướng thế tục tăng trưởng Mô hình tăng trưởng của cơ thể không đứng yên mà thay đổi theo thời gian thông qua nhiều thế hệ, người ta gọi đó là biến đổi thế tục về tăng trưởng. Có thể quan sát các biến đổi thế tục về tăng trưởng thông qua biến đổi tầm vóc (chiều cao, cân nặng), ở trẻ em theo tuổi, biến đổi thời điểm trưởng thành tính dục. Mức tăng trưởng trong thời thơ ấu đã tăng lên đáng kể trong thời gian 50 - 100 năm qua. Nguyên nhân là thời kỳ tăng trưởng liên quan đến giai đoạn trước tuổi trưởng thành, do đó các nghiên cứu tập trung vào lứa tuổi đang phát triển.
Xu hướng thế tục đang có biểu hiện gia tăng lớn trong tỷ lệ tăng trưởng và trưởng 9 thành đã xảy ra ở tất cả các nước phát triển và đang phát triển. Sự gia tăng thế tục về chỉ số chiều cao ở trẻ em đã khác biệt rõ rệt, khoảng 1,5 cm/ thập kỷ. Tương tự, xu hướng thế tục trong cân nặng cũng theo chiều hướng tích cực, tỷ lệ trẻ sơ sinh có trọng lượng sinh ra ngày càng tăng. Chiều cao, cân nặng của trẻ em tăng đồng nghĩa với sự xuất hiện sớm tuổi dậy thì.