Tổng quan luận án

Bệnh Tay Chân Miệng (BTCM) là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây truyền chủ yếu qua đường tiêu hóa, gây ra bởi các vi rút thuộc giống Enterovirus, họ Picornaviridae, trong đó hai tác nhân phổ biến nhất là Coxsackievirus A16 (CA16) và Enterovirus 71 (EV71). Mặc dù phần lớn các ca bệnh diễn biến nhẹ và tự khỏi trong vòng 7–10 ngày, các trường hợp nhiễm EV71 có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm màng não vô khuẩn, viêm não - thân não, viêm cơ tim, phù phổi cấp và tử vong. Tại Việt Nam, dịch bệnh lưu hành quanh năm và có xu hướng gia tăng mạnh mẽ từ năm 2011 với 112.370 ca mắc và 169 ca tử vong trên 63 tỉnh/thành phố, trong đó khu vực phía Nam chiếm tới 60% số mắc và 85,8% số tử vong toàn quốc.

Tại tỉnh Hậu Giang, tình hình dịch tễ ghi nhận sự gia tăng đột biến từ năm 2011 với 1.545 ca mắc (tỷ lệ 215/100.000 dân) và năm 2012 với 1.573 ca mắc (tỷ lệ 201/100.000 dân), đưa Hậu Giang vào nhóm 24 tỉnh, thành phố có chỉ số mắc cao nhất cả nước. Trẻ em từ 1 đến 5 tuổi, đặc biệt là nhóm dưới 3 tuổi, chưa có khả năng tự thực hiện các hành vi vệ sinh cá nhân, khiến nguy cơ lây nhiễm phụ thuộc hoàn toàn vào kiến thức và thực hành của người trực tiếp chăm sóc. Trước khi nghiên cứu được triển khai, tỉnh Hậu Giang chưa có các nghiên cứu đánh giá toàn diện về thực trạng mắc bệnh, kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) phòng chống bệnh của người dân cũng như chưa xây dựng mô hình can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe có kiểm chứng tại cộng đồng và trường học.

Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Trương Tỷ, chuyên ngành Quản lý y tế (mã số: 9 72 08 01), thực hiện tại Học viện Quân y dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đào Xuân Vinh (hoàn thành năm 2021), được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu nêu trên.

Luận án xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng mắc bệnh Tay Chân Miệng ở trẻ 1–5 tuổi và kiến thức, thực hành về phòng, chống bệnh của người chăm sóc trẻ tại tỉnh Hậu Giang năm 2013.
  2. Đánh giá hiệu quả giải pháp truyền thông nâng cao kiến thức, thực hành phòng, chống bệnh của người chăm sóc trẻ tại hai trường mầm non của thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang (2014–2015).

Phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Trẻ em từ 1 đến 5 tuổi, người trực tiếp chăm sóc trẻ tại hộ gia đình (cha, mẹ, ông, bà, người giúp việc) và giáo viên/cô nuôi dạy trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non.
  • Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện tại 3 địa bàn trọng điểm của tỉnh Hậu Giang gồm huyện Phụng Hiệp, huyện Vị Thủy và thành phố Vị Thanh; nghiên cứu can thiệp triển khai tại 2 trường mầm non thuộc 2 phường của thành phố Vị Thanh.
  • Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn điều tra thực trạng cắt ngang năm 2013; giai đoạn can thiệp và đánh giá hiệu quả từ năm 2014 đến năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đặc điểm vi sinh học, dịch tễ học lâm sàng, yếu tố lây truyền và can thiệp hành vi phòng chống BTCM:

  • Đặc điểm tác nhân và cơ chế lây truyền: Tác giả phân tích cấu trúc Enterovirus theo phân loại của Solomon T. và cộng sự (2010), chỉ rõ các typ huyết thanh thuộc loài A, B, C, D; trong đó EV71 thuộc loài A với 11 phân nhóm gen (A, B1–B5, C1–C5). Các nghiên cứu của Chang L. và cộng sự (2004) chỉ ra tỷ lệ lây nhiễm EV71 thứ phát trong hộ gia đình lên tới 52% (lây cho anh chị em ruột 84%, anh chị em họ 83%, bố mẹ 41%, ông bà 28%). Tác giả dẫn chứng cơ chế thụ thể xâm nhập tế bào qua glycoprotein p-selectin ligand-1 (PSGL-1) trên bạch cầu và phân tử CD209 theo các công bố của Brown và cộng sự.
  • Dịch tễ học quốc tế: Tổng quan điểm lại các vụ dịch lớn tại châu Á - Thái Bình Dương: vụ dịch năm 1997 tại Sarawak (Malaysia) với 31 ca tử vong; năm 1998 tại Đài Loan với 90.000 ca mắc, 320 ca nặng và 55 ca tử vong (và 78 ca tử vong năm 1999); các đợt bùng phát tại Phụ Dương, An Huy (Trung Quốc) năm 2008 ghi nhận hàng nghìn ca mắc do EV71; cũng như số liệu báo cáo dịch tễ tại Singapore, Nhật Bản, Hungary, Bulgaria.
  • Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) quốc tế: Nghiên cứu của Ruttiya Charoenchokpanit và Tepanata Pumpaibool (2013) tại Bangkok (Thái Lan) trên 456 người chăm sóc chỉ ra 50,4% có kiến thức thấp, tương quan thuận giữa kiến thức và thái độ ($r = 0,193; p < 0,001$) cũng như giữa thái độ và hành vi ($r = 0,371; p < 0,001$). Nghiên cứu của Jakrapong Aiewtrakun và cộng sự (2010) tại Khon Kaen ghi nhận chỉ 3,5% người chăm sóc rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Nghiên cứu của WangLiHua và cộng sự (2010) tại Trung Quốc cho thấy giáo dục sức khỏe giúp nâng tỷ lệ kiến thức đúng từ 57,76% lên 84,3%. Các nghiên cứu khác của Chadaporn Inta và cs (2017), Liao và cs (2017) tại Hong Kong, Siti Aida Shaqirah Mahadzar và cs (2018), Mohammad Nasir Abdullag và cs (2019), Nik Nur Hidayah Mansur và Azwandi Ahmade (2020) tại Malaysia, Sherin Nithya Suria Prakash (2020) tại Ấn Độ đều phản ánh mức độ thực hành phòng bệnh còn hạn chế ở người chăm sóc.
  • Nghiên cứu dịch tễ học và lâm sàng tại Việt Nam: Nghiên cứu của Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh (2016) phản ánh tỷ lệ phân lập EV71 trong các ca bệnh nặng và tử vong giai đoạn 2011–2015 dao động từ 20,2% đến 67,6%. Hoàng Quốc Cường và cs (2014) tại Đồng Tháp chỉ ra lứa tuổi mắc trung bình là 1,5 tuổi, trong đó 61% tập trung ở nhóm 12–36 tháng. Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc và cs trên 169 ca tử vong toàn quốc năm 2011 cho thấy 87% là trẻ $\le 3$ tuổi, 69% là bé trai, 89% cư trú tại miền Nam và 85% trường hợp tử vong xảy ra từ tháng 5 đến tháng 10.
  • Nghiên cứu KAP và can thiệp tại Việt Nam: Nghiên cứu của Võ Thị Tiến và Tạ Văn Trầm (2012), Hồ Thị Thiên Ngân và cs (2013, 2014), Phan Trọng Lân và cs (2014) tại Lệ Chi (Gia Lâm, Hà Nội), Lê Quang Minh và Nguyễn Thanh Dương (2015), Lê Thị Lan Hương và cs (2013) tại Hà Nam, Trần Đỗ Hùng và Dương Thị Thuỳ Trang (2013) tại Cần Thơ, Huỳnh Kiều Chinh và Nguyễn Đỗ Nguyên (2013) tại Tây Ninh, Lê Thị Kim Ánh và cs (2014), Hoàng Quốc Cường và Nguyễn Ngọc Anh Tuấn (2019) tại Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Thị Nga và cs (2015) đều khẳng định khoảng cách lớn giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh của người dân và giáo viên mầm non.

Vị trí của luận án: Luận án của Trương Tỷ đặt trọng tâm vào một địa bàn thuộc khu vực Tây Nam Bộ có gánh nặng bệnh tật cao đột biến (Hậu Giang), tiến hành khảo sát dịch tễ học thực địa kết hợp điều tra KAP trên cỡ mẫu lớn ($n = 1.573$), từ đó thiết kế, thực nghiệm và đánh giá mô hình can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) phối hợp liên ngành Y tế - Giáo dục tại các trường mầm non theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Y tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án áp dụng khung lý thuyết dịch tễ học bệnh truyền nhiễm kết hợp với lý thuyết thay đổi hành vi sức khỏe. Quá trình lây truyền BTCM được phân tích qua mối tương tác giữa tác nhân (Enterovirus, đặc biệt là EV71, CA16), vật chủ cảm nhiễm (trẻ 1–5 tuổi chưa có miễn dịch đặc hiệu), môi trường và hành vi của người chăm sóc trẻ (nguồn lây gián tiếp qua bàn tay, đồ chơi, vật dụng, chất bài tiết). Can thiệp quản lý y tế dựa trên việc tác động vào chuỗi truyền nhiễm thông qua các kênh truyền thông trực tiếp, hướng dẫn kỹ năng thực hành vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường khử khuẩn Cloramin B và giám sát ca bệnh sớm tại cơ sở giáo dục mầm non.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng kết hợp hai thiết kế nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu mô tả cắt ngang (Mục tiêu 1):

    • Cỡ mẫu: Điều tra dịch tễ và KAP trên 1.573 trẻ từ 1–5 tuổi và người chăm sóc chính tại 3 đơn vị hành chính của tỉnh Hậu Giang năm 2013 gồm huyện Phụng Hiệp, huyện Vị Thủy và thành phố Vị Thanh.
    • Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu xác suất nhiều giai đoạn đại diện cho khu vực đô thị và nông thôn của tỉnh.
    • Nội dung thu thập: Đặc điểm nhân khẩu học - xã hội của người chăm sóc (tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, mức sống, mối quan hệ với trẻ); tiền sử mắc BTCM của trẻ; kiến thức về tác nhân, đường lây, triệu chứng điển hình, dấu hiệu nặng; thái độ và mức độ lo lắng; thực hành phòng bệnh (rửa tay bằng xà phòng, khử khuẩn đồ chơi, ăn chín uống chín, cách ly trẻ bệnh).
  2. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có so sánh trước - sau (Mục tiêu 2):

    • Địa bàn can thiệp: 2 trường mầm non thuộc 2 phường của thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2014–2015.
    • Nội dung can thiệp: Triển khai chương trình truyền thông - giáo dục sức khỏe đa kênh gồm: tập huấn kiến thức và kỹ năng cho giáo viên, nhân viên nuôi dạy trẻ và người chăm sóc chính; truyền thông trực tiếp qua các buổi họp phụ huynh, góc truyền thông tại trường; phân phát tài liệu bướm, tờ rơi; hướng dẫn quy trình rửa tay 6 bước bằng xà phòng và quy trình khử khuẩn đồ chơi, lớp học bằng dung dịch Cloramin B định kỳ; thiết lập hệ thống giám sát, phát hiện sớm và cách ly trẻ nghi mắc bệnh tại trường.
    • Chỉ số đánh giá: So sánh tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ đối tượng có kiến thức đạt, thái độ đúng và thực hành đạt giữa thời điểm trước can thiệp (2013) và sau can thiệp (2014–2015); tính toán Chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQ).

Công cụ và xử lý số liệu

  • Công cụ: Bộ câu hỏi phỏng vấn chuẩn hóa được thiết kế sẵn, bảng kiểm quan sát thực hành vệ sinh, phiếu điều tra dịch tễ ca bệnh và báo cáo giám sát định kỳ của trạm y tế, trung tâm y tế dự phòng.
  • Xử lý số liệu: Nhập liệu bằng phần mềm EpiData, phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS; sử dụng các thuật toán thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) và thống kê suy luận (kiểm định $\chi^2$, tính tỷ suất chênh OR, khoảng tin cậy 95%, so sánh tỷ lệ trước - sau can thiệp).
  • Kiểm soát sai số và đạo đức: Tập huấn điều tra viên, giám sát viên độc lập, thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi điều tra chính thức; đề tài được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của Học viện Quân y.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các y văn về sinh học phân tử, cơ chế bệnh sinh, dịch tễ học và các biện pháp can thiệp phòng chống BTCM:

  • Đặc điểm vi sinh và miễn dịch: Tác nhân chính gồm Coxsackievirus A16 và Enterovirus 71. Kháng thể thụ động từ mẹ truyền sang con giảm dần và đạt mức thấp nhất ở trẻ 6–11 tháng tuổi, sau đó tăng dần đến trên 5 tuổi. Tỷ lệ trẻ 1–4 tuổi có kháng thể kháng EV71 chỉ đạt 12% và CA16 là 27%, đồng nghĩa với 88% và 73% trẻ trong độ tuổi này có tính cảm nhiễm cao.
  • Biểu hiện lâm sàng và biến chứng: Triệu chứng điển hình là sốt, loét niêm mạc miệng, phát ban dạng phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông. Các biến chứng thần kinh nguy hiểm gồm viêm màng não vô khuẩn (chiếm 36,8% các ca biến chứng tại Việt Nam), viêm thân não (viêm não hình thoi), liệt mềm cấp tính; biến chứng suy hô hấp, suy tuần hoàn thường xuất hiện nhanh từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 của bệnh.
  • Tình hình dịch tễ: Số liệu của Cục Y tế Dự phòng và Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2011–2015 phản ánh sự lưu hành tập trung tại miền Nam:
Năm Mắc cả nước (ca) Tử vong cả nước (ca) Tỷ lệ mắc miền Nam (%) Tỷ lệ tử vong miền Nam (%)
2011 113.121 170 62,1% 85,3%
2012 157.533 45 55,7% 91,1%
2013 80.000 23 58,2% 91,3%
2014 76.000 8 73,0% 100,0%
2015 55.000 5 71,0% 100,0%
  • Dịch tễ học tại tỉnh Hậu Giang (2009–2012): Tổng số ca mắc BTCM tăng từ 7 ca (năm 2009) lên 25 ca (năm 2010), sau đó bùng phát lên 1.545 ca (năm 2011) và 1.573 ca (năm 2012). Ba địa phương có số mắc và tỷ lệ mắc/100.000 dân cao nhất toàn tỉnh là huyện Vị Thủy (489/100.000 năm 2011; 446/100.000 năm 2012), thành phố Vị Thanh (321/100.000 năm 2011; 411/100.000 năm 2012) và huyện Long Mỹ/Phụng Hiệp.
Địa phương tại Hậu Giang Số mắc năm 2009 Số mắc năm 2010 Số mắc năm 2011 Số mắc năm 2012 Tổng cộng (2009–2012)
Huyện Vị Thủy 1 3 545 497 1.046
Huyện Long Mỹ 2 6 432 230 670
Huyện Phụng Hiệp 1 8 305 335 649
Thành phố Vị Thanh 0 2 261 334 597
Huyện Châu Thành A 1 2 98 117 218
Huyện Châu Thành 0 1 100 116 217
Thị xã Ngã Bảy 2 3 88 83 176
Toàn tỉnh Hậu Giang 7 25 1.545 1.573 3.150

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết khung thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô tả kết hợp can thiệp y tế công cộng:

  • Xác định tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng nghiên cứu (trẻ 1–5 tuổi sinh sống tại địa bàn, người trực tiếp chăm sóc trẻ trên 18 tuổi đồng ý tham gia nghiên cứu).
  • Trình bày cấu trúc bộ chỉ số nghiên cứu phục vụ Mục tiêu 1 (đặc điểm nhân khẩu, tỷ lệ mắc bệnh, nguồn tiếp cận thông tin, tỷ lệ nhận biết triệu chứng, đường lây, biến chứng, thực hành rửa tay, vệ sinh đồ chơi, chăm sóc khi trẻ mắc bệnh) và Mục tiêu 2 (chỉ số thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành trước và sau can thiệp, chỉ số hiệu quả CSHQ).
  • Quy trình can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe tại 2 trường mầm non thuộc thành phố Vị Thanh: xây dựng tài liệu, tổ chức truyền thông trực tiếp, hướng dẫn thực hành rửa tay và khử khuẩn, thiết lập mạng lưới giám sát định kỳ.
  • Biện pháp hạn chế sai số (sai số nhớ lại, sai số do người phỏng vấn) và các nguyên tắc đạo đức y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trình bày kết quả điều tra thực trạng năm 2013 và hiệu quả can thiệp giai đoạn 2014–2015:

  • Thực trạng dịch tễ học năm 2013 tại Hậu Giang: Khảo sát 1.573 trẻ tại Phụng Hiệp, Vị Thủy và TP. Vị Thanh cho thấy bệnh phân bố tập trung ở nhóm 1–3 tuổi; số ca mắc gia tăng theo mùa, đỉnh dịch rơi vào các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10.
  • Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của người chăm sóc năm 2013:
    • Đa số người chăm sóc đã từng nghe về bệnh qua truyền hình và cán bộ y tế, tuy nhiên tỷ lệ hiểu biết đúng và đầy đủ về tác nhân gây bệnh (vi rút), các đường lây truyền qua dịch tiết và phân còn thấp.
    • Tỷ lệ nhận biết dấu hiệu biến chứng nặng (giật mình, sốt cao khó hạ, run chi, thở nhanh) ở mức hạn chế.
    • Về thực hành: Tỷ lệ người chăm sóc thường xuyên rửa tay bằng xà phòng trước khi cho trẻ ăn, sau khi thay tã lót và thực hiện lau rửa đồ chơi bằng dung dịch sát khuẩn định kỳ đạt tỷ lệ thấp trước can thiệp.
  • Hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe (2014–2015):
    • Thay đổi kiến thức: Tỷ lệ đối tượng biết đúng về bệnh, nhận biết đầy đủ các triệu chứng khởi phát, nhận biết các đường lây truyền và các dấu hiệu nguy hiểm tăng lên rõ rệt sau can thiệp so với trước can thiệp ($p < 0,05$).
    • Thay đổi thái độ: Tỷ lệ người chăm sóc thể hiện sự quan tâm, chủ động phòng ngừa và ủng hộ việc cách ly trẻ bệnh tại nhà tăng cao sau can thiệp.
    • Thay đổi thực hành: Tỷ lệ người chăm sóc thực hành đúng kỹ thuật rửa tay bằng xà phòng, vệ sinh khử khuẩn đồ chơi, sàn nhà và xử trí đúng khi trẻ có dấu hiệu mắc bệnh tăng lên đáng kể sau thời gian can thiệp.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả phân tích, so sánh các phát hiện nghiên cứu với các công trình trong nước và quốc tế:

  • Về thực trạng mắc bệnh và đặc điểm dịch tễ: Bàn luận về tính quy luật theo mùa của dịch tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vai trò của điều kiện tự nhiên, sông ngòi, tập quán sinh hoạt và nguồn nước sinh hoạt đối với sự lây truyền Enterovirus. Tác giả phân tích lý do số mắc tại Hậu Giang tăng đột biến từ năm 2011 do sự xâm nhập của các phân nhóm chủng EV71 độc lực cao kết hợp với miễn dịch cộng đồng ở trẻ dưới 5 tuổi còn thấp.
  • Về kiến thức, thái độ và thực hành: Đối chiếu thực trạng KAP của người dân Hậu Giang với các nghiên cứu của Võ Thị Tiến, Phan Trọng Lân, Lê Thị Lan Hương, Huỳnh Kiều Chinh và các tác giả quốc tế (Ruttiya Charoenchokpanit, Jakrapong Aiewtrakun). Bàn luận về khoảng cách giữa "biết" và "làm", chỉ ra rằng truyền thông đại chúng chỉ cung cấp thông tin ban đầu, muốn thay đổi hành vi rửa tay và khử khuẩn cần có các can thiệp trực tiếp, hướng dẫn thực hành và tạo điều kiện sẵn có về xà phòng, nước sạch và hóa chất sát khuẩn.
  • Về hiệu quả và tính bền vững của mô hình can thiệp: Khẳng định tính khả thi của mô hình truyền thông phối hợp liên ngành Y tế - Giáo dục tại trường mầm non. Việc lồng ghép nội dung phòng chống dịch vào hoạt động giảng dạy của giáo viên và các buổi họp phụ huynh đem lại hiệu quả bền vững với chi phí thấp. Tác giả cũng phân tích khả năng duy trì các biện pháp vệ sinh tại trường học và hộ gia đình sau khi kết thúc đề tài.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và khoa học

  • Cung cấp bức tranh dịch tễ học toàn diện, có hệ thống về thực trạng mắc bệnh Tay Chân Miệng ở trẻ 1–5 tuổi tại tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2011–2015, bổ sung dữ liệu thực địa quan trọng cho hệ thống dịch tễ học bệnh truyền nhiễm tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Cung cấp bằng chứng khoa học định lượng về mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành của người chăm sóc trẻ với nguy cơ lây truyền BTCM tại hộ gia đình và cơ sở giáo dục mầm non.

Đóng góp về thực tiễn và quản lý y tế

  • Xây dựng, triển khai và chứng minh tính hiệu quả của mô hình can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe phối hợp liên ngành Y tế và Giáo dục tại các trường mầm non đô thị.
  • Bộ tài liệu truyền thông, quy trình hướng dẫn thực hành vệ sinh rửa tay 6 bước và khử khuẩn đồ chơi bằng Cloramin B được chuẩn hóa, có thể áp dụng và nhân rộng cho các trường mầm non và cộng đồng dân cư tại các địa phương khác có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Đối với ngành Y tế: Tiếp tục duy trì hệ thống giám sát dịch tễ chủ động, phát hiện sớm các ca bệnh tại cộng đồng; tăng cường tập huấn chuyên môn cho cán bộ y tế tuyến cơ sở về chẩn đoán sớm các dấu hiệu cảnh báo biến chứng nặng của BTCM.
  2. Đối với ngành Giáo dục và Đào tạo: Duy trì Kế hoạch phối hợp liên ngành Y tế - Giáo dục; đưa nội dung truyền thông phòng chống dịch vào chương trình sinh hoạt định kỳ của trường mầm non; đảm bảo đầy đủ xà phòng, nước sạch và thực hiện quy trình khử khuẩn đồ chơi, lớp học hàng tuần.
  3. Đối với chính quyền địa phương: Đảm bảo nguồn kinh phí cho công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm, hỗ trợ hóa chất khử khuẩn và cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch cho người dân nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Nghiên cứu mô tả cắt ngang năm 2013 dựa trên việc phỏng vấn người chăm sóc có thể gặp sai số nhớ lại (recall bias) đối với các thông tin về tiền sử mắc bệnh và triệu chứng ban đầu của trẻ.
    • Can thiệp truyền thông mới chỉ thử nghiệm tại 2 trường mầm non thuộc khu vực đô thị (thành phố Vị Thanh), chưa mở rộng can thiệp tại các điểm trường lẻ ở vùng nông thôn sâu, nơi điều kiện cấp thoát nước và xà phòng còn nhiều khó khăn.
    • Đề tài chưa kết hợp kỹ thuật sinh học phân tử để giải trình tự gen các chủng vi rút lưu hành tại Hậu Giang trong giai đoạn can thiệp mà chủ yếu sử dụng số liệu vi rút học từ Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Triển khai nhân rộng mô hình can thiệp truyền thông liên ngành ra toàn bộ các trường mầm non, nhóm trẻ gia đình trên địa bàn toàn tỉnh Hậu Giang và đánh giá hiệu quả dài hạn.
    • Kết hợp nghiên cứu dịch tễ học can thiệp với giám sát vi sinh học phân tử nhằm theo dõi sự biến đổi di truyền của các phân nhóm gen EV71 lưu hành tại địa phương.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nhà quản lý y tế và y tế dự phòng: Cung cấp mô hình can thiệp can thiệp hành vi có chi phí - hiệu quả cao, làm căn cứ xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm cấp tỉnh và khu vực.
  • Đối với cán bộ y tế cơ sở và y tế trường học: Là tài liệu tham khảo thực hành chi tiết về phương pháp truyền thông, biểu mẫu giám sát dịch tễ và kỹ thuật khử khuẩn phòng lây nhiễm chéo tại cơ sở chăm sóc trẻ.
  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên sau đại học ngành Quản lý y tế, Y tế công cộng, Y học dự phòng: Tham khảo về phương pháp thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa mô tả cắt ngang và can thiệp cộng đồng có so sánh trước - sau, phương pháp xử lý số liệu và đánh giá chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQ).

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao bệnh Tay Chân Miệng do chủng Enterovirus 71 (EV71) lại nguy hiểm hơn các chủng khác?

EV71 có đặc tính hướng thần kinh độc lực cao. Khác với Coxsackievirus A16 thường gây thể bệnh nhẹ và tự hồi phục, nhiễm EV71 dễ gây ra các tổn thương thần kinh trung ương nghiêm trọng như viêm thân não, viêm màng não vô khuẩn, liệt mềm cấp tính, đồng thời kích hoạt các biến chứng suy tuần hoàn, suy hô hấp cấp và phù phổi thần kinh diễn tiến nhanh dẫn đến tử vong.

2. Tỷ lệ lây nhiễm EV71 thứ phát giữa các thành viên trong gia đình theo ghi nhận y văn là bao nhiêu?

Theo công trình theo dõi dọc của Chang L. và cộng sự (2004) được luận án trích dẫn, tỷ lệ lây nhiễm EV71 chung cho các thành viên tiếp xúc trong hộ gia đình là 52%; trong đó tỷ lệ lây nhiễm cao nhất là ở anh chị em ruột (84%) và anh chị em họ (83%), ở bố mẹ là 41%, ông bà là 28% và cô chú là 26%.

3. Tình hình mắc bệnh Tay Chân Miệng tại tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2009–2012 có đặc điểm gì nổi bật?

Giai đoạn 2009–2010, số ca mắc tại Hậu Giang rất thấp (7 ca năm 2009 và 25 ca năm 2010). Tuy nhiên, từ năm 2011 dịch bùng phát mạnh với 1.545 ca (tỷ lệ 215/100.000 dân) và năm 2012 là 1.573 ca (tỷ lệ 201/100.000 dân), đưa Hậu Giang vào nhóm 24 tỉnh có tỷ lệ mắc cao nhất cả nước. Các địa phương có số ca mắc cao nhất là huyện Vị Thủy, huyện Phụng Hiệp và thành phố Vị Thanh.

4. Nội dung trọng tâm của giải pháp can thiệp được triển khai tại 2 trường mầm non thành phố Vị Thanh là gì?

Giải pháp can thiệp là mô hình truyền thông - giáo dục sức khỏe phối hợp liên ngành Y tế - Giáo dục, tập trung vào: tập huấn nâng cao kiến thức nhận biết triệu chứng và dấu hiệu nặng cho giáo viên và người chăm sóc; hướng dẫn thực hành kỹ năng rửa tay bằng xà phòng và khử khuẩn đồ chơi/sàn nhà bằng Cloramin B; truyền thông trực tiếp qua các buổi họp phụ huynh; thiết lập quy trình giám sát, phát hiện sớm và cách ly trẻ bệnh tại trường.

5. Kết quả can thiệp giai đoạn 2014–2015 mang lại những chuyển biến gì về mặt thực hành?

Sau can thiệp, tỷ lệ người chăm sóc thực hành đúng các biện pháp phòng bệnh (rửa tay bằng xà phòng đúng thời điểm, lau rửa vệ sinh đồ chơi cho trẻ định kỳ bằng dung dịch khử khuẩn, cho trẻ ăn chín uống chín và cách ly trẻ đúng quy định khi có dấu hiệu bệnh) tăng lên rõ rệt và có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp ($p < 0,05$).

Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của Trương Tỷ đã phản ánh toàn diện thực trạng dịch tễ học bệnh Tay Chân Miệng và khoảng trống trong kiến thức, thực hành phòng bệnh của người chăm sóc trẻ 1–5 tuổi tại tỉnh Hậu Giang năm 2013. Luận án đã thiết kế và thử nghiệm thành công mô hình can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe phối hợp liên ngành Y tế - Giáo dục tại các trường mầm non thành phố Vị Thanh giai đoạn 2014–2015, chứng minh hiệu quả nâng cao rõ rệt kiến thức, thái độ và thực hành vệ sinh phòng bệnh. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng cho công tác quản lý y tế, giúp định hình các can thiệp y tế công cộng kiểm soát bệnh truyền nhiễm tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.