Tổng quan luận án
Viêm phổi liên quan thở máy (Ventilator-associated pneumonia - VPTM) là một trong những dạng nhiễm khuẩn bệnh viện phổ biến và nặng nề nhất tại các đơn vị hồi sức - cấp cứu (HSCC). Bệnh lý này làm kéo dài thời gian nằm viện, gia tăng chi phí điều trị và làm tăng đáng kể tỷ lệ tử vong ở người bệnh có can thiệp thông khí hỗ trợ từ 48 giờ trở lên. Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, cơ sở chuyên khoa Nhi tuyến cuối với hơn 1.500 giường bệnh nội trú và 200 giường hồi sức, công tác kiểm soát nhiễm khuẩn đã được triển khai từ năm 2000 nhưng nhiễm khuẩn hô hấp liên quan đến thở máy vẫn là thách thức lâm sàng phức tạp. Trước thời điểm nghiên cứu, các công trình trong nước chủ yếu tập trung vào đối tượng người lớn hoặc trẻ sơ sinh (như công trình năm 2012 của Lê Kiến Ngãi ghi nhận tỷ lệ mới mắc VPTM ở trẻ sơ sinh là 25,1% và mật độ mới mắc là 31,7/1.000 ngày thở máy). Nhóm bệnh nhi ngoài lứa tuổi sơ sinh (từ 1 tháng tuổi đến 17 tuổi) có sự khác biệt rõ rệt về đặc điểm giải phẫu, sinh lý, mô hình bệnh tật và nguy cơ can thiệp nhưng chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống.
Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Lê Xuân Ngọc, chuyên ngành Dịch tễ học (mã số 62.17), thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Như Dương và PGS. Lê Thanh Hải tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương năm 2017, được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này với ba mục tiêu cụ thể:
- Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học của viêm phổi liên quan thở máy ở trẻ ngoài tuổi sơ sinh tại khoa Hồi sức – Cấp cứu, Bệnh viện Nhi Trung ương, năm 2013-2015.
- Xác định một số yếu tố nguy cơ của viêm phổi liên quan thở máy ở trẻ ngoài tuổi sơ sinh tại khoa Hồi sức – Cấp cứu, Bệnh viện Nhi Trung ương, năm 2013-2015.
- Xác định căn nguyên, đặc điểm kháng kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm phổi liên quan thở máy ở trẻ ngoài tuổi sơ sinh tại khoa Hồi sức – Cấp cứu, Bệnh viện Nhi Trung ương, năm 2013-2015.
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhi từ 1 tháng tuổi đến 17 tuổi được điều trị và thở máy tại Khoa Hồi sức – Cấp cứu, Bệnh viện Nhi Trung ương trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 12 năm 2015. Các phân tích vi sinh và sinh học phân tử được phối hợp thực hiện tại Khoa Vi sinh (Bệnh viện Nhi Trung ương) và Phòng nghiên cứu Kháng sinh - Khoa Vi khuẩn (Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng hợp toàn diện lịch sử nghiên cứu và thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện từ thời cổ đại đến hiện đại: từ các khuyến nghị cách ly ban đầu của Hippocrates và Avicenna (thế kỷ X), các quan sát về sốt hậu sản của Wender Oliver Holmes (1843) và Philippe-Ignace Semmelweis (1860), các ghi chép dịch tễ và quản trị bệnh viện của Florence Nightingale và William Farr (1863), đến các phát kiến vi sinh và sát khuẩn của Louis Pasteur và Joseph Lister (1859-1867). Sự hình thành hệ thống giám sát hiện đại được đánh dấu bằng các hướng dẫn của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ (US-CDC) từ năm 1958, sự ra đời của Hội các nhà thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn (APIC) năm 1972 và Mạng lưới An toàn Chăm sóc Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NHSN).
Theo các báo cáo dịch tễ học quốc tế, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện chung tại các nước thu nhập cao dao động từ 5% đến 12% (trung bình 7,6%), trong khi tại các nước có thu nhập thấp và trung bình dao động từ 5,7% đến 19,9% (trung bình 10,1/100 bệnh nhân). Báo cáo của Hiệp hội Kiểm soát Nhiễm khuẩn Bệnh viện Quốc tế (INICC) giai đoạn 2007-2012 từ 503 khoa hồi sức cho thấy tỷ lệ VPTM ở các nước thu nhập thấp và trung bình cao gấp 15 lần so với các quốc gia phát triển.
Tại Việt Nam, các cuộc điều tra cắt ngang toàn quốc các năm 1998, 2001 và 2005 ghi nhận tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện dao động từ 5,7% đến 11,5%, trong đó viêm phổi bệnh viện luôn chiếm tỷ lệ cao nhất (41,8% - 55,4%). Tại các đơn vị HSCC, các công trình của Nguyễn Việt Hùng và Nguyễn Gia Bình (2006-2007), Trương Anh Thư (2012), Trần Hữu Thông (2013) tại Bệnh viện Bạch Mai; Hà Mạnh Tuấn và Hoàng Trọng Kim, Nguyễn Thị Lệ Thúy và Hoàng Trọng Kim tại Bệnh viện Nhi Đồng 1; cùng các nghiên cứu của Khu Thị Khánh Dung (2005), Lê Thanh Duyên (2008), Phạm Thị Thanh Tâm (2012), Vũ Văn Ngọ (2000) tại Bệnh viện Nhi Trung ương đều khẳng định gánh nặng lớn của viêm phổi bệnh viện.
Tuy nhiên, các nghiên cứu nhi khoa trước đây phần lớn dừng lại ở thiết kế cắt ngang mô tả, gộp chung nhiều nhóm tuổi hoặc chỉ tập trung vào nhóm sơ sinh (Lê Kiến Ngãi, 2016). Luận án của Lê Xuân Ngọc định vị là công trình nghiên cứu dịch tễ học chuyên biệt cho trẻ ngoài tuổi sơ sinh, sử dụng thiết kế kết hợp giữa theo dõi thuần tập tiến cứu, phân tích bệnh - chứng để xác định yếu tố nguy cơ và khảo sát sinh học phân tử về các gen kháng kháng sinh nhóm carbapenemase (OXA, NDM-1).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các khái niệm chuẩn hóa về nhiễm khuẩn bệnh viện của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và tiêu chuẩn chẩn đoán viêm phổi liên quan thở máy cập nhật tháng 1/2014 của US-CDC. Khung phân tích dịch tễ học bao gồm ba cơ chế sinh bệnh học chính của VPTM: hiện tượng hít vi thể (microaspiration) dịch tiết hầu họng hoặc dịch trào ngược dạ dày vào đường hô hấp dưới; sự hình thành màng sinh học (biofilm) trong lòng và xung quanh bóng chèn ống nội khí quản; và sự suy giảm các hàng rào bảo vệ cơ học, miễn dịch tế bào (đại thực bào phế nang) và thể dịch tại chỗ. Đánh giá mức độ nặng của bệnh nhân được chuẩn hóa bằng thang điểm nguy cơ tử vong ở trẻ em PRISM III (Pediatric Risk of Mortality Score) trong 24 giờ đầu nhập viện.
Phương pháp nghiên cứu được xây dựng tương ứng với ba mục tiêu:
- Mục tiêu 1: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả theo dõi dọc trên một thuần tập bệnh nhi thở máy tại khoa HSCC để xác định tỷ lệ mới mắc tích lũy, tỷ suất mật độ mới mắc (tính trên 1.000 ngày thở máy), phân bố theo thời gian, mùa, lứa tuổi, giới tính, bệnh nền và tỷ lệ tử vong.
- Mục tiêu 2: Thiết kế nghiên cứu bệnh - chứng (case-control study) lồng trong thuần tập nhằm xác định các yếu tố nguy cơ độc lập gây VPTM, phân tích qua hai bước: phân tích đơn biến để tính tỷ suất chênh (Odds Ratio - OR) và khoảng tin cậy 95% (95% CI), sau đó đưa các biến có ý nghĩa thống kê vào mô hình hồi quy logistic đa biến.
- Mục tiêu 3: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả vi sinh và sinh học phân tử trong phòng thí nghiệm. Mẫu bệnh phẩm dịch hút phế quản qua ống nội khí quản được thu thập theo quy trình vô trùng, tiến hành nuôi cấy định danh vi khuẩn, xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và thực hiện kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase (PCR) để phát hiện các gen kháng carbapenemase họ Oxacillinase (OXA-23, OXA-51, OXA-58) và gen New Delhi Metallo-beta-lactamase 1 (NDM-1).
Tiêu chuẩn chẩn đoán VPTM của US-CDC (2014) được áp dụng cụ thể: Bệnh nhân có thông khí nhân tạo qua nội khí quản hoặc mở khí quản từ 48 giờ trở lên; có hình ảnh X-quang phổi thâm nhiễm mới, tiến triển dai dẳng, đông đặc, tạo hang hoặc bóng khí (đối với trẻ $\le$ 1 tuổi); kèm theo các dấu hiệu suy giảm trao đổi khí (PaO2/FiO2 $\le$ 240, SpO2 < 94%) và thỏa mãn ít nhất ba tiêu chuẩn lâm sàng/cận lâm sàng (sốt hoặc hạ thân nhiệt, biến đổi số lượng bạch cầu < 4.000/mm³ hoặc $\ge$ 15.000/mm³ kèm chuyển trái, tăng tiết đờm mủ, ran phổi, cơn ngừng thở hoặc nhịp thở nhanh, nhịp tim bất thường).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về nhiễm khuẩn bệnh viện và viêm phổi liên quan thở máy. Tác giả điểm lại định nghĩa, phân loại và gánh nặng kinh tế - y tế của nhiễm khuẩn bệnh viện trên thế giới và tại Việt Nam. Trọng tâm của chương phân tích dịch tễ học, các cơ chế sinh bệnh học của VPTM và tổng hợp các nghiên cứu về yếu tố nguy cơ trên quần thể nhi khoa quốc tế.
| Tác giả / Tài liệu tham khảo |
Yếu tố nguy cơ ghi nhận |
Chỉ số liên quan (OR / RR) |
Giá trị 95% KTC / p |
| Torres [129] |
Đặt lại ống nội khí quản Hút dịch dạ dày Thở máy > 3 ngày Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Thở máy áp lực dương cuối kỳ thở ra (PEEP) |
OR = 5,0 OR = 5,1 OR = 1,2 OR = 1,9 OR = 1,9 |
3,48 - 7,04 3,28 - 7,77 1,15 - 1,19 1,38 - 2,59 1,30 - 2,64 |
| Fayon [51] |
Dùng thuốc ức chế miễn dịch Suy giảm miễn dịch Thuốc ức chế thần kinh cơ |
OR = 4,8 OR = 6,9 OR = 11,4 |
p = 0,04 p = 0,06 p = 0,002 |
| Elward [49] |
Bệnh lý bẩm sinh / Di truyền Vận chuyển bệnh nhân ra ngoài khoa HSCC Đặt lại nội khí quản |
OR = 2,4 OR = 8,9 OR = 2,7 |
1,01 - 5,46 3,82 - 20,74 1,18 - 6,21 |
| Almuneef [24] |
Sử dụng kháng sinh trước đó Nuôi dưỡng bằng đường ruột liên tục Nội soi phế quản |
OR = 2,5 OR = 2,3 OR = 5,0 |
1,11 - 5,41 1,09 - 4,80 1,67 - 15,27 |
| Xie [142] |
Trẻ trai Hôn mê Dùng thuốc chống acid dạ dày Dùng thuốc kháng sinh Mở khí quản |
RR = 1,5 RR = 2,1 RR = 1,4 RR = 5,1 RR = 1,4 |
p < 0,001 p < 0,001 p < 0,001 p < 0,001 p = 0,014 |
| Awasthi [26] |
Thở máy trên 4 ngày |
OR = 3,8 |
1,41 - 10,02 |
Chương này cũng phân tích sâu các cơ chế đề kháng kháng sinh ở vi khuẩn Gram âm (tiết men ESBL, AmpC, men carbapenemase nhóm KPC, NDM-1, OXA), vi khuẩn Gram dương (MRSA, VRE) và đánh giá hiệu quả của các gói can thiệp dự phòng VPTM dựa trên bằng chứng (gói IHI - Institute for Healthcare Improvement).
Chương 2. Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu tại Khoa Hồi sức – Cấp cứu, Bệnh viện Nhi Trung ương (quy mô 35 giường bệnh, 25 giường thở máy, tiếp nhận trung bình 1.300 bệnh nhân mỗi năm). Tác giả mô tả chi tiết:
- Đối tượng và tiêu chuẩn lựa chọn: Toàn bộ bệnh nhân từ 1 tháng tuổi đến 17 tuổi có chỉ định thở máy qua nội khí quản hoặc mở khí quản điều trị tại khoa trong thời gian nghiên cứu.
- Quy trình thu thập thông tin và bệnh phẩm: Theo dõi bệnh nhân hàng ngày từ khi bắt đầu thở máy đến khi rút ống, chuyển khoa hoặc tử vong; ghi nhận biến số lâm sàng, cận lâm sàng, thủ thuật can thiệp và chỉ số PRISM III trong 24 giờ đầu. Lấy dịch hút nội khí quản ngay khi xuất hiện các triệu chứng nghi ngờ VPTM theo tiêu chuẩn US-CDC (2014).
- Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh và sinh học phân tử: Định danh vi khuẩn và làm kháng sinh đồ theo hướng dẫn chuẩn thức. Chiết tách DNA và thực hiện kỹ thuật PCR đa mồi (multiplex PCR) với các cặp mồi đặc hiệu để xác định các gen blaOXA-23-like, blaOXA-51-like, blaOXA-58-like và gen blaNDM-1 trên các chủng Acinetobacter spp. phân lập được.
- Xử lý số liệu và y đức: Sử dụng phần mềm thống kê chuyên dụng; tính toán các chỉ số dịch tễ học mô tả, kiểm định chi bình phương, Fisher's exact test, tính tỷ suất chênh OR và mô hình hồi quy đa biến logistic; nghiên cứu được thông qua hội đồng đạo đức với sự đồng thuận tham gia của đại diện bệnh nhi.
Chương 3. Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng thực nghiệm theo ba nhóm nội dung chính:
- Đặc điểm dịch tễ học: Xác định tỷ lệ mắc tích lũy và tỷ suất mật độ mới mắc VPTM trên 1.000 ngày thở máy; mô tả cơ cấu phân bố theo tháng tuổi (tập trung phân tích nhóm $\le$ 1 tuổi), giới tính, mùa trong năm, nơi chuyển bệnh nhân đến khoa HSCC, thời gian nằm viện trước thở máy, tình trạng dinh dưỡng và thang điểm PRISM III-24; phân tích tỷ lệ tử vong và các yếu tố liên quan đến tiên lượng tử vong (thời gian xuất hiện VPTM khởi phát sớm hay muộn, bệnh nền, suy giảm miễn dịch).
- Yếu tố nguy cơ: Trình bày kết quả phân tích đơn biến trên các biến số cá thể (tuổi, giới, suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch, bệnh nền) và các biến số can thiệp điều trị (thời gian nằm viện trước đặt ống, loại thuốc sử dụng trước thở máy, tiền sử dùng và đổi kháng sinh, đặt lại nội khí quản, số lần hút đờm trung bình/ngày, mở khí quản, thủ thuật can thiệp mạch máu, nuôi dưỡng tĩnh mạch, vận chuyển ra ngoài khoa HSCC, số ngày thở máy trước khi mắc bệnh). Tổng hợp bảng phân tích hồi quy đa biến chỉ ra các yếu tố nguy cơ độc lập có ý nghĩa thống kê.
- Căn nguyên vi sinh và tính kháng thuốc: Xác định phổ vi khuẩn gây VPTM ở trẻ ngoài tuổi sơ sinh (tỷ lệ ưu thế của trực khuẩn Gram âm so với cầu khuẩn Gram dương); phân bố vi khuẩn theo nhóm tuổi, loại VPTM (khởi phát sớm trước ngày thứ 5 và khởi phát muộn từ ngày thứ 5 trở đi), theo khoa đặt nội khí quản và kết quả điều trị. Phân tích mức độ kháng kháng sinh chi tiết của ba tác nhân hàng đầu: Acinetobacter spp., Pseudomonas aeruginosa và Klebsiella pneumoniae đối với các nhóm cephalosporin thế hệ III, aminoglycoside, fluoroquinolone, carbapenem và colistin. Trình bày tỷ lệ phân bố các tổ hợp gen blaOXA (OXA-23, OXA-51, OXA-58), gen blaNDM-1 và mức độ kháng kháng sinh tương ứng của các chủng mang gen.
Chương 4. Bàn luận
Chương 4 đối chiếu, thảo luận các kết quả nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:
- Bàn luận về tỷ lệ mắc, mật độ mới mắc và tỷ lệ tử vong của VPTM ở trẻ ngoài tuổi sơ sinh, làm rõ sự khác biệt giữa nhóm bệnh nhi này với nhóm trẻ sơ sinh và người lớn.
- Phân tích cơ chế tác động của các yếu tố nguy cơ cá thể và can thiệp điều trị, đặc biệt là các biến số giữ vai trò độc lập trong mô hình đa biến như thời gian thở máy kéo dài, đặt lại ống nội khí quản, hút đờm nhiều lần và việc di chuyển bệnh nhân ra ngoài khoa hồi sức.
- Thảo luận sự thay đổi của mô hình căn nguyên vi sinh vật tại Khoa HSCC - Bệnh viện Nhi Trung ương qua các giai đoạn; lý giải tính chất kháng kháng sinh nghiêm trọng của các chủng trực khuẩn Gram âm không lên men đường.
- Phân tích ý nghĩa dịch tễ học và sinh học phân tử của sự lan truyền các gen carbapenemase (đặc biệt là gen ngoại lai NDM-1 và tổ hợp gen OXA) trong môi trường hồi sức nhi khoa.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận dịch tễ học và thực tiễn lâm sàng kiểm soát nhiễm khuẩn:
- Về mặt lý luận và dịch tễ học: Cung cấp bộ số liệu dịch tễ học theo dõi dọc đầu tiên tại Việt Nam về viêm phổi liên quan thở máy chuyên biệt trên nhóm trẻ ngoài tuổi sơ sinh (từ 1 tháng đến 17 tuổi) tại đơn vị hồi sức cấp cứu tuyến cao nhất. Xác lập mô hình phân tích đa biến làm rõ các yếu tố nguy cơ độc lập tác động đến khả năng mắc bệnh và tử vong do VPTM ở trẻ em.
- Về mặt vi sinh và sinh học phân tử: Cập nhật cơ cấu căn nguyên gây bệnh với sự chiếm ưu thế tuyệt đối của trực khuẩn Gram âm đa kháng thuốc (Acinetobacter spp., P. aeruginosa, K. pneumoniae). Lần đầu tiên cung cấp dữ liệu phân tử về sự hiện diện và đồng phân bố của các gen kháng carbapenem họ OXA (OXA-23, OXA-51, OXA-58) và gen NDM-1 trên các chủng Acinetobacter spp. gây VPTM ở bệnh nhi ngoài tuổi sơ sinh tại Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn y tế: Đưa ra các bằng chứng khoa học phục vụ việc xây dựng quy trình giám sát nhiễm khuẩn, hướng dẫn lựa chọn phác đồ kháng sinh kinh nghiệm ban đầu và đề xuất áp dụng các gói can thiệp kiểm soát nhiễm khuẩn đường thở thích hợp cho bệnh nhi thở máy tại các khoa hồi sức nhi khoa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại một trung tâm hồi sức cấp cứu nhi khoa duy nhất (đơn trung tâm tại Bệnh viện Nhi Trung ương), nơi tiếp nhận nhiều ca bệnh nặng và chuyển tuyến phức tạp, do đó các chỉ số dịch tễ học có thể chưa phản ánh đầy đủ mô hình VPTM tại các bệnh viện tuyến dưới hoặc đa khoa. Mẫu bệnh phẩm vi sinh thu thập chủ yếu bằng phương pháp hút dịch nội khí quản không xâm lấn, có thể gặp hiện tượng tạp nhiễm hoặc phản ánh tình trạng khuẩn lạc hóa đường hô hấp trên.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng nghiên cứu đa trung tâm tại các đơn vị hồi sức nhi khoa trên toàn quốc; áp dụng các kỹ thuật lấy mẫu bảo vệ sâu (như rửa phế quản phế nang có bảo vệ - PBAL hoặc chải phế quản qua nội soi - PSB) để tăng độ đặc hiệu chẩn đoán vi sinh; đồng thời triển khai nghiên cứu can thiệp đánh giá hiệu quả của các gói dự phòng VPTM chuyên biệt cho trẻ ngoài tuổi sơ sinh.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị cao cho:
- Bác sĩ hồi sức cấp cứu nhi khoa và truyền nhiễm: Tham khảo tiêu chuẩn chẩn đoán, đánh giá các yếu tố nguy cơ lâm sàng, nhận định sớm tiên lượng tử vong theo thang điểm PRISM III-24 và định hướng sử dụng kháng sinh hợp lý trước tình trạng kháng thuốc phức tạp của trực khuẩn Gram âm.
- Cán bộ kiểm soát nhiễm khuẩn và dịch tễ học bệnh viện: Sử dụng các chỉ số mật độ mới mắc trên 1.000 ngày thở máy làm cơ sở đối chuẩn (benchmarking), thiết kế các danh mục kiểm tra (checklist) can thiệp dự phòng đường thở và tối ưu hóa quy trình chăm sóc ống nội khí quản.
- Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Y học, Dịch tễ học, Vi sinh vật học: Tham khảo khung thiết kế kết hợp dịch tễ học lâm sàng với sinh học phân tử, phương pháp xây dựng mô hình hồi quy đa biến và kỹ thuật xác định gen kháng thuốc.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án áp dụng bộ tiêu chuẩn nào để xác định ca bệnh viêm phổi liên quan thở máy (VPTM)?
Luận án sử dụng bộ tiêu chuẩn chẩn đoán VPTM của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ (US-CDC) ban hành và cập nhật tháng 1/2014, tích hợp các tiêu chí hình ảnh X-quang phổi mới hoặc tiến triển, biến đổi trao đổi khí (PaO2/FiO2 $\le$ 240, SpO2 < 94%) và các triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm đờm, máu đặc trưng cho từng nhóm tuổi bệnh nhi.
2. Thiết kế nghiên cứu dịch tễ học nào đã được sử dụng trong luận án?
Nghiên cứu kết hợp ba thiết kế: thiết kế dịch tễ học mô tả theo dõi dọc trên thuần tập bệnh nhân thở máy (cho Mục tiêu 1), thiết kế nghiên cứu bệnh - chứng lồng trong thuần tập để xác định yếu tố nguy cơ (cho Mục tiêu 2), và thiết kế mô tả phân tích phòng thí nghiệm kết hợp kỹ thuật PCR sinh học phân tử (cho Mục tiêu 3).
3. Nhóm căn nguyên vi sinh vật nào chiếm ưu thế gây VPTM ở trẻ ngoài tuổi sơ sinh?
Căn nguyên gây bệnh chủ yếu là các trực khuẩn Gram âm đa kháng thuốc, trong đó nổi bật là Acinetobacter spp., Pseudomonas aeruginosa và Klebsiella pneumoniae; cầu khuẩn Gram dương phân lập được chủ yếu là Staphylococcus aureus (bao gồm MRSA).
4. Những gen kháng kháng sinh nào được luận án phân tích sinh học phân tử trên các chủng Acinetobacter spp.?
Luận án thực hiện kỹ thuật PCR để phát hiện các gen kháng carbapenem thuộc nhóm Oxacillinase bao gồm blaOXA-23, blaOXA-51, blaOXA-58 và gen mã hóa men metallo-beta-lactamase blaNDM-1 (New Delhi Metallo-beta-lactamase 1).
5. Điểm khác biệt cơ bản giữa VPTM khởi phát sớm và VPTM khởi phát muộn theo cơ sở lý thuyết của luận án là gì?
VPTM khởi phát sớm xuất hiện trong vòng 4 ngày đầu thở máy, thường do các vi khuẩn cộng đồng còn nhạy cảm kháng sinh; trong khi VPTM khởi phát muộn xuất hiện từ ngày thở máy thứ 5 trở đi, chủ yếu do các chủng vi khuẩn bệnh viện kháng đa thuốc (MDR) gây nên, dẫn đến tỷ lệ thất bại điều trị và nguy cơ tử vong cao hơn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Lê Xuân Ngọc đã mô tả một cách hệ thống đặc điểm dịch tễ học, các yếu tố nguy cơ và căn nguyên vi sinh vật gây viêm phổi liên quan thở máy ở trẻ ngoài tuổi sơ sinh tại Khoa Hồi sức – Cấp cứu, Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2013-2015. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ mô hình bệnh tật phức tạp, tỷ lệ đề kháng kháng sinh nghiêm trọng của các chủng trực khuẩn Gram âm và sự phân bố của các gen kháng carbapenemase (OXA, NDM-1). Đây là công trình dịch tễ học lâm sàng có giá trị thực tiễn cao, cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy phục vụ công tác kiểm soát nhiễm khuẩn và nâng cao chất lượng điều trị hồi sức nhi khoa tại Việt Nam.