ĐẶT VẤN ĐỀ Suy dinh dƣỡng (SDD) là tình trạng bệnh lý xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein và năng lƣợng, thƣờng kèm theo tác động của nhiễm khuẩn và ngƣợc lại thƣờng tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn phát triển và làm cho tình trạng thiếu dinh dƣỡng càng nặng thêm. SDD là vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn cầu, chủ yếu xảy ra ở châu Phi và châu Á. SDD ở trẻ em dƣới 5 tuổi không những làm trẻ chậm phát triển thể chất, trí tuệ mà còn làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC), tiêu chảy và dẫn đến tử vong [1],[2]. Theo ƣớc tính có khoảng 45% số ca tử vong trên toàn cầu ở trẻ em dƣới 5 tuổi là do SDD [3].
Ở nƣớc ta trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều thành tựu trong công tác phòng chống SDD, nhƣng tỷ lệ SDD ở trẻ em dƣới 5 tuổi vẫn còn ở mức cao, đặc biệt là SDD thể thấp còi là 23,2%, thể nhẹ cân là 12,8% (năm 2018) [4]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em, chiếm 15-16% tỷ lệ tử vong dƣới 5 tuổi [5] và cũng là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong ở các nƣớc đang phát triển ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em dƣới 5 tuổi [6]. Tại Việt Nam, NKHHC cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em, chiếm 44% trong số các bệnh gây tử vong cho trẻ ở độ tuổi này [7]. NKHHC có tỷ lệ mắc cao và tái diễn nhiều lần trong năm, gây tốn kém về chi phí điều trị và thời gian chăm sóc trẻ của các bà mẹ, là gánh nặng đối với ngành y tế [8].
NKHHC có liên quan đến các yếu tố nguy cơ khác nhau bao gồm các yếu tố: dinh dƣỡng, nhân khẩu học, môi trƣờng và kinh tế xã hội [9],[10]. Nếu các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi đƣợc thông qua việc thực hiện các chiến lƣợc can thiệp khác nhau thì gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng có thể đƣợc giảm bớt. Bệnh tiêu chảy là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới ở trẻ em. Mỗi ngày trên toàn cầu có 1400 trẻ em dƣới 5 tuổi tử vong do tiêu chảy [11].
Suy dinh dƣỡng (SDD) và tiêu chảy tạo thành một vòng xoắn bệnh lý, tiêu chảy dẫn đến suy dinh dƣỡng và suy dinh dƣỡng làm tăng nguy cơ mắc tiêu 2 chảy, ảnh hƣởng đến sự tăng trƣởng của trẻ. Farzana F và cs (2013) nghiên cứu trên 2324 trẻ dƣới 5 tuổi tại Bangladesh bị tiêu chảy cho thấy trẻ tiêu chảy có mức độ vừa và nặng có xu hƣớng bị suy dinh dƣỡng nhiều hơn so với trẻ tiêu chảy nhẹ [12]. Mối liên quan giữa tiêu chảy và suy dinh dƣỡng là gánh nặng về kinh tế đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Táo bón là một tình trạng rối loạn tiêu hóa thƣờng gặp ở trẻ em.
Đây là vấn đề sức khoẻ cộng đồng ngày càng tăng trên toàn thế giới. Táo bón kéo dài nếu không đƣợc chăm sóc dinh dƣỡng, điều trị và theo dõi hợp lý có thể dẫn đến các biến chứng gây ảnh hƣởng đến sự phát triển thể chất, tâm lý cho trẻ, tác động đáng kể đến y tế, xã hội, kinh tế, thậm chí có thể gây viêm đƣờng tiêu hóa [14], làm cho trẻ biếng ăn, ảnh hƣởng đến sức đề kháng của cơ thể. Nguyên nhân gây táo bón rất đa dạng nhƣng chủ yếu táo bón do nguyên nhân chức năng chiếm 90 - 95 % [15]. Tỷ lệ mắc táo bón chức năng ở trẻ em dao động từ 0,7% - 29 % ở cả các nƣớc phát triển và đang phát triển với các yếu tố nguy cơ nhƣ căng thẳng tâm lý, thói quen ăn uống [16].
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ mắc táo bón ở trẻ 36-48 tháng tuổi là 54,9% (năm 2009) [17], 92,5 % trẻ mắc bệnh táo bón chức tại phòng khám tại bệnh viện Nhi Trung Ƣơng (năm 2013) [18]. Một trong những phƣơng pháp hỗ trợ điều trị táo bón an toàn và mang lại hiệu quả kéo dài là sử dụng probiotic. “Probiotic” là những vi khuẩn sống, khi sử dụng với một số lƣợng thích hợp sẽ có lợi cho sức khỏe con ngƣời. Probiotic đƣợc chứng minh có vai trò quan trọng trong giảm các triệu chứng bệnh táo bón [19],[20].
Lactobacillus casei Shirota (LcS) là một chủng vi khuẩn có lợi đƣợc nghiên cứu và đƣợc sử dụng tại Nhật Bản từ năm 1935. LcS đã đƣợc nghiên cứu về hiệu quả liên quan đến miễn dịch [21],[22] trong phòng và điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp [23],[24], trong sự tăng trƣởng của trẻ [25], phòng và điều trị tiêu chảy [26], [27], phòng và điều trị táo bón trên các đối tƣợng khác nhau [28],[19]. Tại 3 Việt Nam, hiện chƣa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của Lactobacilluss casei Shirota đến tình trạng dinh dƣỡng, tiêu hóa và NKHHC ở trẻ 3-5 tuổi, bổ sung Lactobacilluss casei Shirota thì hiệu quả lên tỷ lệ mắc mới tích lũy táo bón, tiêu chảy, NKHHC nhƣ thế nào và có cải thiện tình trạng táo bón, dinh dƣỡng ở những trẻ táo bón chức năng hay không. Đây là những câu hỏi rất cần lời giải đáp.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với 3 mục tiêu: 1. Mô tả tình trạng dinh dưỡng, tiêu hóa và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3-5 tuổi tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa, năm 2017. Đánh giá hiệu quả của Lactobacillus casei Shirota lên tỷ lệ mắc mới về táo bón, tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3-5 tuổi tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa. Đánh giá hiệu quả Lactobacillus casei Shirota lên cải thiện táo bón, tình trạng dinh dưỡng ở trẻ 3-5 tuổi bị mắc táo bón chức năng tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa.
Tình trạng dinh dƣỡng trẻ em 1. Khái niệm về tình trạng dinh dƣỡng Tình trạng dinh dƣỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dƣỡng của cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dƣỡng của cơ thể. Cơ thể sử dụng các chất dinh dƣỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác nhƣ sinh hoá, sinh lý trong quá trình chuyển hoá.
Việc sử dụng thực phẩm phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể. Tình trạng dinh dƣỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ. Khi cơ thể có tình trạng dinh dƣỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dƣỡng), là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dƣỡng, hoặc cả hai. Tình trạng dinh dƣỡng của một quần thể dân cƣ đƣợc thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề về dinh dƣỡng.
Tình trạng dinh dƣỡng của trẻ em dƣới 5 tuổi thƣờng đƣợc coi là đại diện cho tình hình dinh dƣỡng và thực phẩm của một cộng đồng. Các tỷ lệ trên phản ánh tình trạng dinh dƣỡng của toàn bộ quần thể dân cƣ ở cộng đồng đó, và có thể sử dụng để so sánh với số liệu của quốc gia hoặc các cộng đồng khác. Theo tổ chức Y tế Thế giới, các số đo nhân trắc (cân nặng, chiều cao) quan trọng để đánh giá tình trạng dinh dƣỡng trẻ em và khuyến cáo 3 chỉ tiêu nên dùng là: cân nặng/tuổi (CN/T), chiều cao/tuổi (CC/T) và cân nặng/chiều cao (CN/CC) [29],[30]. Suy dinh dƣỡng trẻ em Suy dinh dƣỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lƣợng và các vi chất dinh dƣỡng.
Bệnh hay gặp ở trẻ em dƣới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhƣng ít nhiều ảnh hƣởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ. SDD năng lƣợng protein thƣờng kèm theo các bệnh nhiễm khuẩn [31]. Ngu ên nh n su dinh dưỡng trẻ em Năm 1998, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã phát triển mô hình nguyên nhân SDD [32]. Một số tổ chức và quốc gia khác nhau cũng đã có những 5 mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD riêng, hoặc phát triển mô hình mới dựa trên mô hình của UNICEF.
Nhƣng hiện tại, mô hình nguyên nhân hậu quả SDD của UNICEF là mô hình đƣợc sử dụng rộng rãi nhất. Mô hình này cho thấy nguyên nhân của SDD rất đa dạng, liên quan chặt chẽ với các vấn đề y tế, lƣơng thực thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình. Mô hình này chỉ ra các nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD đƣợc cho là do bị thiếu ăn, ăn uống không hợp lý và bệnh tật [32].
Ăn uống, sữa mẹ và thức ăn bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời điểm mắc và thể loại SDD. Những quan niệm sai lầm của ngƣời mẹ hoặc gia đình trong chăm sóc dinh dƣỡng, thai sản, trong nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung đều là những nguyên nhân trực tiếp. Trẻ không đƣợc bú sữa mẹ, hoặc bú chai nhƣng số lƣợng sữa không đủ, dụng cụ không đảm bảo vệ sinh đều có thể dẫn đến SDD. Khi cho ăn bổ sung muộn, hoặc cho ăn bổ sung quá sớm, hoặc cho trẻ ăn thức ăn đặc quá muộn, số lƣợng không đủ và năng lƣợng, protein thấp cũng dễ dẫn tới SDD.
Các bệnh nhiễm khuẩn (gồm nhiễm vi khuẩn, vi rút và ký sinh trùng) đều có thể dẫn đến SDD và ngƣợc lại, SDD khiến trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và vòng xoắn bệnh lý này cứ thế tiếp diễn nếu không có can thiệp hoặc xử trí phù hợp. Nhiễm khuẩn đƣờng tiêu hóa, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hƣởng rất trầm trọng đến tình trạng dinh dƣỡng của đứa trẻ. Nhiễm khuẩn dẫn đến các tổn thƣơng đƣờng tiêu hóa, do đó làm giảm hấp thu, đặc biệt các vi chất dinh dƣỡng, làm cho kháng nguyên và các vi khuẩn đi qua nhiều hơn. Nhiễm khuẩn làm tăng hao hụt các chất dinh dƣỡng, trẻ ăn kém hơn do giảm ngon miệng.
Nguyên nhân tiềm tàng/quan trọng của SDD là dịch vụ chăm sóc y tế và vệ sinh môi trƣờng yếu kém, dịch vụ chăm sóc bà mẹ và trẻ em chƣa thỏa đáng. Các bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ em, kiến thức của ngƣời chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc của gia đình, các vấn đề nƣớc sạch, vệ sinh môi trƣờng và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh đƣợc xếp vào nhóm nguyên nhân này.