Luận án tiến sĩ hiệu quả của lactobacillus casei shirota lên tình trạng dinh dưỡng tiêu hóa và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3 5 tuổi tại 4 xã tỉnh thanh hóa

Tài liệu Hiệu quả của lactobacillus casei shirota đối với dinh dưỡng, tiêu hóa tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Trường đại học

Viện Dinh Dưỡng

Chuyên ngành

Dinh Dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ

2022

178
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. KẾT LUẬN

5. ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ ĐĂNG LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Lactobacillus Casei Shirota và tình trạng dinh dưỡng tiêu hóa nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ 3 5 tuổi tại Thanh Hóa

Lactobacillus Casei Shirota (LcS) là một chủng probiotic được nghiên cứu rộng rãi về khả năng cải thiện hệ vi sinh đường ruột và tăng cường hệ miễn dịch. Nghiên cứu này tập trung vào hiệu quả của LcS đối với dinh dưỡng trẻ em, tiêu hóa trẻ em, và nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ 3-5 tuổi tại Thanh Hóa. Tình trạng suy dinh dưỡngnhiễm khuẩn hô hấp cấp là những vấn đề nghiêm trọng ở trẻ em, đặc biệt tại các khu vực nông thôn. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của LcS trong việc giảm tỷ lệ táo bón, tiêu chảy, và nhiễm khuẩn hô hấp, đồng thời cải thiện tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em.

1.1. Tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe trẻ em tại Thanh Hóa

Tại Thanh Hóa, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi vẫn ở mức cao, đặc biệt là suy dinh dưỡng thể thấp còinhẹ cân. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em, chiếm 44% số ca tử vong. Tiêu chảytáo bón cũng là những vấn đề phổ biến, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu hiệu quả của Lactobacillus Casei Shirota trong việc cải thiện các vấn đề này.

1.2. Vai trò của probiotics trong cải thiện sức khỏe trẻ em

Probiotics như Lactobacillus Casei Shirota đã được chứng minh có khả năng cân bằng hệ vi sinh đường ruột, tăng cường hệ miễn dịch, và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn hô hấp. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của LcS trong việc giảm tỷ lệ táo bón, tiêu chảy, và nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ 3-5 tuổi tại Thanh Hóa.

II. Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 4 xã tại Thanh Hóa, với đối tượng là trẻ em từ 3-5 tuổi. Thiết kế nghiên cứu bao gồm hai nhóm: nhóm can thiệp được bổ sung Lactobacillus Casei Shirota và nhóm chứng không được bổ sung. Các chỉ số về tình trạng dinh dưỡng, tiêu hóa, và nhiễm khuẩn hô hấp được theo dõi trong 12 tuần can thiệp và 4 tuần sau khi dừng can thiệp.

2.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 4 xã tại Thanh Hóa, với đối tượng là trẻ em từ 3-5 tuổi. Các xã được lựa chọn dựa trên tỷ lệ suy dinh dưỡngnhiễm khuẩn hô hấp cao. Trẻ em được chia thành hai nhóm: nhóm can thiệp được bổ sung Lactobacillus Casei Shirota và nhóm chứng không được bổ sung.

2.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu về tình trạng dinh dưỡng, tiêu hóa, và nhiễm khuẩn hô hấp được thu thập thông qua các cuộc khảo sát và kiểm tra sức khỏe định kỳ. Các chỉ số được đánh giá bao gồm tỷ lệ táo bón, tiêu chảy, và nhiễm khuẩn hô hấp, cũng như các chỉ số nhân trắc như cân nặngchiều cao.

III. Kết quả nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của Lactobacillus Casei Shirota

Kết quả nghiên cứu cho thấy Lactobacillus Casei Shirota có hiệu quả đáng kể trong việc giảm tỷ lệ táo bón, tiêu chảy, và nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ 3-5 tuổi tại Thanh Hóa. Ngoài ra, LcS cũng giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng và tăng cường sức đề kháng ở trẻ em.

3.1. Hiệu quả của LcS đối với táo bón và tiêu chảy

Nhóm can thiệp được bổ sung Lactobacillus Casei Shirota có tỷ lệ táo bóntiêu chảy thấp hơn đáng kể so với nhóm chứng. LcS giúp cân bằng hệ vi sinh đường ruột, cải thiện chức năng tiêu hóa và giảm nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến tiêu hóa.

3.2. Hiệu quả của LcS đối với nhiễm khuẩn hô hấp

Nhóm can thiệp cũng có tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp thấp hơn so với nhóm chứng. Lactobacillus Casei Shirota giúp tăng cường hệ miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh hô hấp và cải thiện sức khỏe tổng thể của trẻ.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu này khẳng định hiệu quả của Lactobacillus Casei Shirota trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng, tiêu hóa, và nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ 3-5 tuổi tại Thanh Hóa. Việc bổ sung LcS vào chế độ ăn hàng ngày của trẻ có thể là một giải pháp hiệu quả để giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và các bệnh liên quan đến tiêu hóa và hô hấp.

4.1. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng khoa học về hiệu quả của Lactobacillus Casei Shirota trong việc cải thiện sức khỏe trẻ em. Việc áp dụng LcS vào chế độ ăn hàng ngày của trẻ có thể giúp giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, táo bón, tiêu chảy, và nhiễm khuẩn hô hấp, đặc biệt tại các khu vực nông thôn như Thanh Hóa.

4.2. Khuyến nghị cho các nghiên cứu trong tương lai

Cần có thêm các nghiên cứu dài hạn để đánh giá hiệu quả lâu dài của Lactobacillus Casei Shirota đối với sức khỏe trẻ em. Ngoài ra, việc phổ biến kiến thức về probioticsdinh dưỡng hợp lý cho các bậc phụ huynh cũng là một yếu tố quan trọng để cải thiện sức khỏe trẻ em.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ hiệu quả của lactobacillus casei shirota lên tình trạng dinh dưỡng tiêu hóa và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3 5 tuổi tại 4 xã tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Suy dinh dƣỡng (SDD) là tình trạng bệnh lý xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein và năng lƣợng, thƣờng kèm theo tác động của nhiễm khuẩn và ngƣợc lại thƣờng tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn phát triển và làm cho tình trạng thiếu dinh dƣỡng càng nặng thêm. SDD là vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn cầu, chủ yếu xảy ra ở châu Phi và châu Á. SDD ở trẻ em dƣới 5 tuổi không những làm trẻ chậm phát triển thể chất, trí tuệ mà còn làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC), tiêu chảy và dẫn đến tử vong [1],[2]. Theo ƣớc tính có khoảng 45% số ca tử vong trên toàn cầu ở trẻ em dƣới 5 tuổi là do SDD [3].

Ở nƣớc ta trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều thành tựu trong công tác phòng chống SDD, nhƣng tỷ lệ SDD ở trẻ em dƣới 5 tuổi vẫn còn ở mức cao, đặc biệt là SDD thể thấp còi là 23,2%, thể nhẹ cân là 12,8% (năm 2018) [4]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em, chiếm 15-16% tỷ lệ tử vong dƣới 5 tuổi [5] và cũng là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong ở các nƣớc đang phát triển ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em dƣới 5 tuổi [6]. Tại Việt Nam, NKHHC cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em, chiếm 44% trong số các bệnh gây tử vong cho trẻ ở độ tuổi này [7]. NKHHC có tỷ lệ mắc cao và tái diễn nhiều lần trong năm, gây tốn kém về chi phí điều trị và thời gian chăm sóc trẻ của các bà mẹ, là gánh nặng đối với ngành y tế [8].

NKHHC có liên quan đến các yếu tố nguy cơ khác nhau bao gồm các yếu tố: dinh dƣỡng, nhân khẩu học, môi trƣờng và kinh tế xã hội [9],[10]. Nếu các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi đƣợc thông qua việc thực hiện các chiến lƣợc can thiệp khác nhau thì gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng có thể đƣợc giảm bớt. Bệnh tiêu chảy là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới ở trẻ em. Mỗi ngày trên toàn cầu có 1400 trẻ em dƣới 5 tuổi tử vong do tiêu chảy [11].

Suy dinh dƣỡng (SDD) và tiêu chảy tạo thành một vòng xoắn bệnh lý, tiêu chảy dẫn đến suy dinh dƣỡng và suy dinh dƣỡng làm tăng nguy cơ mắc tiêu 2 chảy, ảnh hƣởng đến sự tăng trƣởng của trẻ. Farzana F và cs (2013) nghiên cứu trên 2324 trẻ dƣới 5 tuổi tại Bangladesh bị tiêu chảy cho thấy trẻ tiêu chảy có mức độ vừa và nặng có xu hƣớng bị suy dinh dƣỡng nhiều hơn so với trẻ tiêu chảy nhẹ [12]. Mối liên quan giữa tiêu chảy và suy dinh dƣỡng là gánh nặng về kinh tế đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Táo bón là một tình trạng rối loạn tiêu hóa thƣờng gặp ở trẻ em.

Đây là vấn đề sức khoẻ cộng đồng ngày càng tăng trên toàn thế giới. Táo bón kéo dài nếu không đƣợc chăm sóc dinh dƣỡng, điều trị và theo dõi hợp lý có thể dẫn đến các biến chứng gây ảnh hƣởng đến sự phát triển thể chất, tâm lý cho trẻ, tác động đáng kể đến y tế, xã hội, kinh tế, thậm chí có thể gây viêm đƣờng tiêu hóa [14], làm cho trẻ biếng ăn, ảnh hƣởng đến sức đề kháng của cơ thể. Nguyên nhân gây táo bón rất đa dạng nhƣng chủ yếu táo bón do nguyên nhân chức năng chiếm 90 - 95 % [15]. Tỷ lệ mắc táo bón chức năng ở trẻ em dao động từ 0,7% - 29 % ở cả các nƣớc phát triển và đang phát triển với các yếu tố nguy cơ nhƣ căng thẳng tâm lý, thói quen ăn uống [16].

Tại Việt Nam, một số nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ mắc táo bón ở trẻ 36-48 tháng tuổi là 54,9% (năm 2009) [17], 92,5 % trẻ mắc bệnh táo bón chức tại phòng khám tại bệnh viện Nhi Trung Ƣơng (năm 2013) [18]. Một trong những phƣơng pháp hỗ trợ điều trị táo bón an toàn và mang lại hiệu quả kéo dài là sử dụng probiotic. “Probiotic” là những vi khuẩn sống, khi sử dụng với một số lƣợng thích hợp sẽ có lợi cho sức khỏe con ngƣời. Probiotic đƣợc chứng minh có vai trò quan trọng trong giảm các triệu chứng bệnh táo bón [19],[20].

Lactobacillus casei Shirota (LcS) là một chủng vi khuẩn có lợi đƣợc nghiên cứu và đƣợc sử dụng tại Nhật Bản từ năm 1935. LcS đã đƣợc nghiên cứu về hiệu quả liên quan đến miễn dịch [21],[22] trong phòng và điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp [23],[24], trong sự tăng trƣởng của trẻ [25], phòng và điều trị tiêu chảy [26], [27], phòng và điều trị táo bón trên các đối tƣợng khác nhau [28],[19]. Tại 3 Việt Nam, hiện chƣa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của Lactobacilluss casei Shirota đến tình trạng dinh dƣỡng, tiêu hóa và NKHHC ở trẻ 3-5 tuổi, bổ sung Lactobacilluss casei Shirota thì hiệu quả lên tỷ lệ mắc mới tích lũy táo bón, tiêu chảy, NKHHC nhƣ thế nào và có cải thiện tình trạng táo bón, dinh dƣỡng ở những trẻ táo bón chức năng hay không. Đây là những câu hỏi rất cần lời giải đáp.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với 3 mục tiêu: 1. Mô tả tình trạng dinh dưỡng, tiêu hóa và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3-5 tuổi tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa, năm 2017. Đánh giá hiệu quả của Lactobacillus casei Shirota lên tỷ lệ mắc mới về táo bón, tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3-5 tuổi tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa. Đánh giá hiệu quả Lactobacillus casei Shirota lên cải thiện táo bón, tình trạng dinh dưỡng ở trẻ 3-5 tuổi bị mắc táo bón chức năng tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa.

Tình trạng dinh dƣỡng trẻ em 1. Khái niệm về tình trạng dinh dƣỡng Tình trạng dinh dƣỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dƣỡng của cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dƣỡng của cơ thể. Cơ thể sử dụng các chất dinh dƣỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác nhƣ sinh hoá, sinh lý trong quá trình chuyển hoá.

Việc sử dụng thực phẩm phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể. Tình trạng dinh dƣỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ. Khi cơ thể có tình trạng dinh dƣỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dƣỡng), là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dƣỡng, hoặc cả hai. Tình trạng dinh dƣỡng của một quần thể dân cƣ đƣợc thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề về dinh dƣỡng.

Tình trạng dinh dƣỡng của trẻ em dƣới 5 tuổi thƣờng đƣợc coi là đại diện cho tình hình dinh dƣỡng và thực phẩm của một cộng đồng. Các tỷ lệ trên phản ánh tình trạng dinh dƣỡng của toàn bộ quần thể dân cƣ ở cộng đồng đó, và có thể sử dụng để so sánh với số liệu của quốc gia hoặc các cộng đồng khác. Theo tổ chức Y tế Thế giới, các số đo nhân trắc (cân nặng, chiều cao) quan trọng để đánh giá tình trạng dinh dƣỡng trẻ em và khuyến cáo 3 chỉ tiêu nên dùng là: cân nặng/tuổi (CN/T), chiều cao/tuổi (CC/T) và cân nặng/chiều cao (CN/CC) [29],[30]. Suy dinh dƣỡng trẻ em Suy dinh dƣỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lƣợng và các vi chất dinh dƣỡng.

Bệnh hay gặp ở trẻ em dƣới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhƣng ít nhiều ảnh hƣởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ. SDD năng lƣợng protein thƣờng kèm theo các bệnh nhiễm khuẩn [31]. Ngu ên nh n su dinh dưỡng trẻ em Năm 1998, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã phát triển mô hình nguyên nhân SDD [32]. Một số tổ chức và quốc gia khác nhau cũng đã có những 5 mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD riêng, hoặc phát triển mô hình mới dựa trên mô hình của UNICEF.

Nhƣng hiện tại, mô hình nguyên nhân hậu quả SDD của UNICEF là mô hình đƣợc sử dụng rộng rãi nhất. Mô hình này cho thấy nguyên nhân của SDD rất đa dạng, liên quan chặt chẽ với các vấn đề y tế, lƣơng thực thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình. Mô hình này chỉ ra các nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD đƣợc cho là do bị thiếu ăn, ăn uống không hợp lý và bệnh tật [32].

Ăn uống, sữa mẹ và thức ăn bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời điểm mắc và thể loại SDD. Những quan niệm sai lầm của ngƣời mẹ hoặc gia đình trong chăm sóc dinh dƣỡng, thai sản, trong nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung đều là những nguyên nhân trực tiếp. Trẻ không đƣợc bú sữa mẹ, hoặc bú chai nhƣng số lƣợng sữa không đủ, dụng cụ không đảm bảo vệ sinh đều có thể dẫn đến SDD. Khi cho ăn bổ sung muộn, hoặc cho ăn bổ sung quá sớm, hoặc cho trẻ ăn thức ăn đặc quá muộn, số lƣợng không đủ và năng lƣợng, protein thấp cũng dễ dẫn tới SDD.

Các bệnh nhiễm khuẩn (gồm nhiễm vi khuẩn, vi rút và ký sinh trùng) đều có thể dẫn đến SDD và ngƣợc lại, SDD khiến trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và vòng xoắn bệnh lý này cứ thế tiếp diễn nếu không có can thiệp hoặc xử trí phù hợp. Nhiễm khuẩn đƣờng tiêu hóa, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hƣởng rất trầm trọng đến tình trạng dinh dƣỡng của đứa trẻ. Nhiễm khuẩn dẫn đến các tổn thƣơng đƣờng tiêu hóa, do đó làm giảm hấp thu, đặc biệt các vi chất dinh dƣỡng, làm cho kháng nguyên và các vi khuẩn đi qua nhiều hơn. Nhiễm khuẩn làm tăng hao hụt các chất dinh dƣỡng, trẻ ăn kém hơn do giảm ngon miệng.

Nguyên nhân tiềm tàng/quan trọng của SDD là dịch vụ chăm sóc y tế và vệ sinh môi trƣờng yếu kém, dịch vụ chăm sóc bà mẹ và trẻ em chƣa thỏa đáng. Các bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ em, kiến thức của ngƣời chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc của gia đình, các vấn đề nƣớc sạch, vệ sinh môi trƣờng và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh đƣợc xếp vào nhóm nguyên nhân này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Hiệu quả của Lactobacillus Casei Shirota đối với dinh dưỡng, tiêu hóa và nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ 3-5 tuổi tại Thanh Hóa là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào vai trò của chủng lợi khuẩn Lactobacillus Casei Shirota trong việc cải thiện sức khỏe dinh dưỡng, hỗ trợ tiêu hóa và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ nhỏ. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng khoa học về lợi ích của probiotic trong việc tăng cường hệ miễn dịch và sức khỏe tổng thể cho trẻ em, đặc biệt trong độ tuổi từ 3 đến 5.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe và dinh dưỡng, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu mật độ xương, tình trạng vitamin D và một số markers chu chuyển xương ở trẻ từ 6 đến 14 tuổi tại thành phố Cần Thơ, nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về vai trò của vitamin D và sức khỏe xương ở trẻ em. Ngoài ra, Nghiên cứu tình hình thai to và các yếu tố liên quan ở các sản phụ tại BV Phụ sản TP Cần Thơ năm 2014-2015 cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu thêm về các vấn đề sức khỏe liên quan đến dinh dưỡng trong giai đoạn mang thai. Cuối cùng, Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở Trung tâm Y tế huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang năm 2021 cung cấp góc nhìn về việc tuân thủ điều trị và quản lý sức khỏe trong cộng đồng.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe và dinh dưỡng ở nhiều độ tuổi và nhóm đối tượng khác nhau.