Luận án tiến sĩ hiệu quả của lactobacillus casei shirota lên tình trạng dinh dưỡng tiêu hóa và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 35 tuổi tại 4 xã tỉnh thanh hóa

Tài liệu Hiệu quả của lactobacillus casei shirota lên dinh dưỡng, tiêu hóa và n tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Trường đại học

Viện Dinh dưỡng Quốc gia

Chuyên ngành

Dinh dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sỹ

2017

180
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. KẾT LUẬN

5. ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ ĐĂNG LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào hiệu quả của Lactobacillus Casei Shirota lên dinh dưỡng, tiêu hóanhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em 3-5 tuổi tại Thanh Hóa. Suy dinh dưỡngnhiễm khuẩn hô hấp cấp là những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng ở trẻ em, đặc biệt tại các khu vực đang phát triển. Probiotics, đặc biệt là Lactobacillus Casei Shirota, được xem là giải pháp tiềm năng để cải thiện tình trạng này. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của Lactobacillus Casei Shirota lên tỷ lệ mắc mới táo bón, tiêu chảynhiễm khuẩn hô hấp cấp, đồng thời cải thiện tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em.

1.1. Tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe trẻ em

Suy dinh dưỡng là vấn đề phổ biến ở trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt tại các khu vực nghèo. Nó không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất mà còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt là nhiễm khuẩn hô hấp cấp. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nhiễm khuẩn hô hấp cấp là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em. Nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết của các biện pháp can thiệp dinh dưỡng và sức khỏe để giảm thiểu gánh nặng bệnh tật.

1.2. Vai trò của probiotics trong cải thiện sức khỏe

Probiotics, đặc biệt là Lactobacillus Casei Shirota, đã được chứng minh có tác dụng tích cực lên hệ tiêu hóahệ hô hấp. Chúng giúp cân bằng hệ vi sinh đường ruột, tăng cường miễn dịch và giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của Lactobacillus Casei Shirota trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng và giảm tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến tiêu hóahô hấp ở trẻ em.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên trẻ em 3-5 tuổi tại 4 xã thuộc tỉnh Thanh Hóa. Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc sử dụng Lactobacillus Casei Shirota trong 12 tuần và theo dõi các chỉ số về dinh dưỡng, tiêu hóanhiễm khuẩn hô hấp. Các biến số được đo lường bao gồm tỷ lệ mắc mới táo bón, tiêu chảynhiễm khuẩn hô hấp cấp, cũng như sự thay đổi về cân nặng và chiều cao của trẻ.

2.1. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng. Cỡ mẫu được tính toán dựa trên tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến tiêu hóahô hấp ở trẻ em tại khu vực nghiên cứu. Trẻ em được chia thành hai nhóm: nhóm can thiệp sử dụng Lactobacillus Casei Shirota và nhóm chứng không sử dụng.

2.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua các bảng câu hỏi và khám lâm sàng định kỳ. Các chỉ số về dinh dưỡng, tiêu hóanhiễm khuẩn hô hấp được ghi nhận và phân tích bằng các phương pháp thống kê phù hợp. Kết quả được so sánh giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng để đánh giá hiệu quả của Lactobacillus Casei Shirota.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy Lactobacillus Casei Shirota có hiệu quả đáng kể trong việc giảm tỷ lệ mắc mới táo bón, tiêu chảynhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em. Ngoài ra, tình trạng dinh dưỡng của trẻ cũng được cải thiện rõ rệt, thể hiện qua sự tăng cân và chiều cao. Nghiên cứu khẳng định vai trò của probiotics trong việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe trẻ em.

3.1. Hiệu quả lên hệ tiêu hóa

Lactobacillus Casei Shirota giúp giảm đáng kể tỷ lệ mắc táo bóntiêu chảy ở trẻ em. Các triệu chứng liên quan đến rối loạn tiêu hóa cũng được cải thiện, bao gồm số lần đại tiện và tính chất phân. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây về vai trò của probiotics trong việc cân bằng hệ vi sinh đường ruột.

3.2. Hiệu quả lên hệ hô hấp

Nghiên cứu cũng ghi nhận sự giảm đáng kể tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở nhóm trẻ sử dụng Lactobacillus Casei Shirota. Điều này cho thấy tác dụng tăng cường miễn dịch của probiotics, giúp trẻ em chống lại các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu khẳng định hiệu quả của Lactobacillus Casei Shirota trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng, tiêu hóa và giảm nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em 3-5 tuổi tại Thanh Hóa. Kết quả này mở ra hướng ứng dụng probiotics trong các chương trình chăm sóc sức khỏe trẻ em, đặc biệt tại các khu vực có tỷ lệ suy dinh dưỡngnhiễm khuẩn cao. Nghiên cứu cũng đề xuất việc tích hợp Lactobacillus Casei Shirota vào chế độ ăn hàng ngày của trẻ để nâng cao sức khỏe đường ruộthệ miễn dịch.

4.1. Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về hiệu quả của Lactobacillus Casei Shirota trong việc cải thiện sức khỏe trẻ em. Đây là cơ sở để phát triển các chính sách và chương trình can thiệp dinh dưỡng tại cộng đồng, đặc biệt tại các khu vực có tỷ lệ suy dinh dưỡngnhiễm khuẩn cao.

4.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có thêm các nghiên cứu dài hạn để đánh giá tác động lâu dài của Lactobacillus Casei Shirota lên sức khỏe trẻ em. Ngoài ra, việc mở rộng nghiên cứu sang các nhóm tuổi và khu vực địa lý khác cũng là hướng đi tiềm năng để khẳng định hiệu quả của probiotics trong việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ hiệu quả của lactobacillus casei shirota lên tình trạng dinh dưỡng tiêu hóa và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 35 tuổi tại 4 xã tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng bệnh lý xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein và năng lượng, thường kèm theo tác động của nhiễm khuẩn và ngược lại thường tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn phát triển và làm cho tình trạng thiếu dinh dưỡng càng nặng thêm. SDD là vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn cầu, chủ yếu xảy ra ở châu Phi và châu Á. SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi không những làm trẻ chậm phát triển thể chất, trí tuệ mà còn làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC), tiêu chảy và dẫn đến tử vong [1],[2]. Theo ước tính có khoảng 45% số ca tử vong trên toàn cầu ở trẻ em dưới 5 tuổi là do SDD [3].

Ở nước ta trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều thành tựu trong công tác phòng chống SDD, nhưng tỷ lệ SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn ở mức cao, đặc biệt là SDD thể thấp còi là 23,2%, thể nhẹ cân là 12,8% (năm 2018) [4]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em, chiếm 15-16% tỷ lệ tử vong dưới 5 tuổi [5] và cũng là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong ở các nước đang phát triển ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi [6]. Tại Việt Nam, NKHHC cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em, chiếm 44% trong số các bệnh gây tử vong cho trẻ ở độ tuổi này [7]. NKHHC có tỷ lệ mắc cao và tái diễn nhiều lần trong năm, gây tốn kém về chi phí điều trị và thời gian chăm sóc trẻ của các bà mẹ, là gánh nặng đối với ngành y tế [8].

NKHHC có liên quan đến các yếu tố nguy cơ khác nhau bao gồm các yếu tố: dinh dưỡng, nhân khẩu học, môi trường và kinh tế xã hội [9],[10]. Nếu các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được thông qua việc thực hiện các chiến lược can thiệp khác nhau thì gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng có thể được giảm bớt. Bệnh tiêu chảy là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới ở trẻ em. Mỗi ngày trên toàn cầu có 1400 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong do tiêu chảy [11].

Suy dinh dưỡng (SDD) và tiêu chảy tạo thành một vòng xoắn bệnh lý, tiêu chảy dẫn đến suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng làm tăng nguy cơ mắc tiêu 2 chảy, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ. Farzana F và cs (2013) nghiên cứu trên 2324 trẻ dưới 5 tuổi tại Bangladesh bị tiêu chảy cho thấy trẻ tiêu chảy có mức độ vừa và nặng có xu hướng bị suy dinh dưỡng nhiều hơn so với trẻ tiêu chảy nhẹ [12]. Mối liên quan giữa tiêu chảy và suy dinh dưỡng là gánh nặng về kinh tế đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Táo bón là một tình trạng rối loạn tiêu hóa thường gặp ở trẻ em.

Đây là vấn đề sức khoẻ cộng đồng ngày càng tăng trên toàn thế giới. Táo bón kéo dài nếu không được chăm sóc dinh dưỡng, điều trị và theo dõi hợp lý có thể dẫn đến các biến chứng gây ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tâm lý cho trẻ, tác động đáng kể đến y tế, xã hội, kinh tế, thậm chí có thể gây viêm đường tiêu hóa [14], làm cho trẻ biếng ăn, ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể. Nguyên nhân gây táo bón rất đa dạng nhưng chủ yếu táo bón do nguyên nhân chức năng chiếm 90 - 95 % [15]. Tỷ lệ mắc táo bón chức năng ở trẻ em dao động từ 0,7% - 29 % ở cả các nước phát triển và đang phát triển với các yếu tố nguy cơ như căng thẳng tâm lý, thói quen ăn uống [16].

Tại Việt Nam, một số nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ mắc táo bón ở trẻ 36-48 tháng tuổi là 54,9% (năm 2009) [17], 92,5 % trẻ mắc bệnh táo bón chức tại phòng khám tại bệnh viện Nhi Trung Ương (năm 2013) [18]. Một trong những phương pháp hỗ trợ điều trị táo bón an toàn và mang lại hiệu quả kéo dài là sử dụng probiotic. “Probiotic” là những vi khuẩn sống, khi sử dụng với một số lượng thích hợp sẽ có lợi cho sức khỏe con người. Probiotic được chứng minh có vai trò quan trọng trong giảm các triệu chứng bệnh táo bón [19],[20].

Lactobacillus casei Shirota (LcS) là một chủng vi khuẩn có lợi được nghiên cứu và được sử dụng tại Nhật Bản từ năm 1935. LcS đã được nghiên cứu về hiệu quả liên quan đến miễn dịch [21],[22] trong phòng và điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp [23],[24], trong sự tăng trưởng của trẻ [25], phòng và điều trị tiêu chảy [26], [27], phòng và điều trị táo bón trên các đối tượng khác nhau [28],[19]. Tại 3 Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của Lactobacilluss casei Shirota đến tình trạng dinh dưỡng, tiêu hóa và NKHHC ở trẻ 3-5 tuổi, bổ sung Lactobacilluss casei Shirota thì hiệu quả lên tỷ lệ mắc mới tích lũy táo bón, tiêu chảy, NKHHC như thế nào và có cải thiện tình trạng táo bón, dinh dưỡng ở những trẻ táo bón chức năng hay không. Đây là những câu hỏi rất cần lời giải đáp.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với 3 mục tiêu: 1. Mô tả tình trạng dinh dưỡng, tiêu hóa và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3-5 tuổi tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa, năm 2017. Đánh giá hiệu quả của Lactobacillus casei Shirota lên tỷ lệ mắc mới về táo bón, tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3-5 tuổi tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa. Đánh giá hiệu quả Lactobacillus casei Shirota lên cải thiện táo bón, tình trạng dinh dưỡng ở trẻ 3-5 tuổi bị mắc táo bón chức năng tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa.

Tình trạng dinh dưỡng trẻ em 1. Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng của cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá, sinh lý trong quá trình chuyển hoá.

Việc sử dụng thực phẩm phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ. Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng), là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng, hoặc cả hai. Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề về dinh dưỡng.

Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của một cộng đồng. Các tỷ lệ trên phản ánh tình trạng dinh dưỡng của toàn bộ quần thể dân cư ở cộng đồng đó, và có thể sử dụng để so sánh với số liệu của quốc gia hoặc các cộng đồng khác. Theo tổ chức Y tế Thế giới, các số đo nhân trắc (cân nặng, chiều cao) quan trọng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em và khuyến cáo 3 chỉ tiêu nên dùng là: cân nặng/tuổi (CN/T), chiều cao/tuổi (CC/T) và cân nặng/chiều cao (CN/CC) [29],[30]. Suy dinh dưỡng trẻ em Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng.

Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ. SDD năng lượng protein thường kèm theo các bệnh nhiễm khuẩn [31]. Nguyên nhân suy dinh dưỡng trẻ em Năm 1998, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã phát triển mô hình nguyên nhân SDD [32]. Một số tổ chức và quốc gia khác nhau cũng đã có những 5 mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD riêng, hoặc phát triển mô hình mới dựa trên mô hình của UNICEF.

Nhưng hiện tại, mô hình nguyên nhân hậu quả SDD của UNICEF là mô hình được sử dụng rộng rãi nhất. Mô hình này cho thấy nguyên nhân của SDD rất đa dạng, liên quan chặt chẽ với các vấn đề y tế, lương thực thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình. Mô hình này chỉ ra các nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD được cho là do bị thiếu ăn, ăn uống không hợp lý và bệnh tật [32].

Ăn uống, sữa mẹ và thức ăn bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời điểm mắc và thể loại SDD. Những quan niệm sai lầm của người mẹ hoặc gia đình trong chăm sóc dinh dưỡng, thai sản, trong nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung đều là những nguyên nhân trực tiếp. Trẻ không được bú sữa mẹ, hoặc bú chai nhưng số lượng sữa không đủ, dụng cụ không đảm bảo vệ sinh đều có thể dẫn đến SDD. Khi cho ăn bổ sung muộn, hoặc cho ăn bổ sung quá sớm, hoặc cho trẻ ăn thức ăn đặc quá muộn, số lượng không đủ và năng lượng, protein thấp cũng dễ dẫn tới SDD.

Các bệnh nhiễm khuẩn (gồm nhiễm vi khuẩn, vi rút và ký sinh trùng) đều có thể dẫn đến SDD và ngược lại, SDD khiến trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và vòng xoắn bệnh lý này cứ thế tiếp diễn nếu không có can thiệp hoặc xử trí phù hợp. Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hưởng rất trầm trọng đến tình trạng dinh dưỡng của đứa trẻ. Nhiễm khuẩn dẫn đến các tổn thương đường tiêu hóa, do đó làm giảm hấp thu, đặc biệt các vi chất dinh dưỡng, làm cho kháng nguyên và các vi khuẩn đi qua nhiều hơn. Nhiễm khuẩn làm tăng hao hụt các chất dinh dưỡng, trẻ ăn kém hơn do giảm ngon miệng.

Nguyên nhân tiềm tàng/quan trọng của SDD là dịch vụ chăm sóc y tế và vệ sinh môi trường yếu kém, dịch vụ chăm sóc bà mẹ và trẻ em chưa thỏa đáng. Các bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ em, kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc của gia đình, các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh được xếp vào nhóm nguyên nhân này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Hiệu quả của Lactobacillus Casei Shirota lên dinh dưỡng, tiêu hóa và nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ 35 tuổi tại Thanh Hóa là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào tác động tích cực của chủng lợi khuẩn Lactobacillus Casei Shirota đối với sức khỏe trẻ em. Nghiên cứu này chỉ ra rằng việc bổ sung lợi khuẩn này giúp cải thiện đáng kể tình trạng dinh dưỡng, hỗ trợ hệ tiêu hóa và giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn đường hô hấp ở trẻ em. Đây là thông tin hữu ích cho các bậc phụ huynh và chuyên gia y tế trong việc chăm sóc sức khỏe trẻ nhỏ.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe liên quan đến dinh dưỡng và bệnh tật ở trẻ em, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao tỉnh Lào Cai. Ngoài ra, nếu quan tâm đến các nghiên cứu về môi trường và sức khỏe, Luận văn đánh giá sự tích lũy kim loại nặng trong đất trồng rau huyện Hoài Đức Hà NộiLuận văn xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng trong trà cà phê tại Việt Nam cũng là những tài liệu đáng đọc để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.