CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI 1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố đối với các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người Khi nghiên cứu chức năng của VKS chúng ta hay nhắc đến khái niệm thực hành quyền công tố, ngoài ra còn xuất hiện khái niệm quyền công tố hay Công tố quyền. Cho đến nay, trong các nghiên cứu có rất nhiều quan điểm về quyền công tố; có quan điểm cho rằng: quyền công tố gắn liền với sự phát triển của khoa học pháp lý, khi mà các khái niệm dân chủ và quyền con người được đề cao, đòi hỏi cần phải có một cơ quan thay mặt nhà nước đứng ra bảo vệ quyền bị xét xử bởi các cơ quan tư pháp. Quan điểm khác lại coi công tố là một quyền độc lập, chỉ có trong xã hội dân chủ, nhằm bảo vệ quyền của các chủ thể quan hệ pháp luật khi tham gia quá trình tố tụng tại phiên tòa và thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật. Quan điểm thứ ba cho rằng, khi chúng ta tách Tòa án ra khỏi hệ thống các cơ quan hành pháp, đồng thời với sự phát triển của hệ thống pháp luật thì chức năng công tố mới xuất hiện.
Ngoài ra không đồng ý với các quan điểm nêu trên, một số học giả cho rằng, quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật. Quyền công tố gắn liền với hầu hết các kiểu nhà nước mà lịch sử ghi nhận, từ nhà nước chủ nô đến các nhà nước hiện đại ngày nay. Từ những phân tích trên, quan điểm của tác giả cho rằng: “quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của nhà nước. Nó xuất hiện và gắn liền với sự ra đời của nhà nước và pháp luật, tồn tại bên cạnh nhà nước và mất đi khi không còn nhà nước”.
Đồng thời, đồng ý với quan điểm của TS. 7 Lê Hữu Thể khi đưa ra định nghĩa về quyền công tố: “Quyền công tố là quyền của một Cơ quan, cơ quan này nhân danh, đại diện nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người thực hiện hành vi phạm tội. Quyền công tố này là Quyền thuộc về nhà nước, và nhà nước ta đã giao phó cho một cơ quan nhất định thực hiện (ở Việt Nam ta là Cơ quan Viện kiểm sát) nhằm phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để thực hiện những vấn đề này, cơ quan có chức năng (ở đây là Viện Kiểm Sát) thực hành quyền công tố phải luôn đề cao, có trách nhiệm đảm bảo công tác thu thập chứng cứ phải hoàn thiện, đầy đủ tài liệu, để chứng minh hành vi phạm tội.
Dựa trên những cơ sở đó để quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà”. [35, Tr 18] Khi nghiên cứu về thực hành quyền công tố, trong giới nghiên cứu luật học hiện nay vẫn còn bảo vệ quan điểm, hai xu hướng khác nhau: Thứ nhất, họ cho rằng việc thực hành quyền công tố luôn đi đôi với việc thực hiện những nhiệm vụ khác của những Công tố viên trong tố tụng hình sự. Thứ hai, một số nhà nghiên cứu họ chỉ đưa ra một số biện pháp (hoạt động) pháp lý cụ thể như: Lập cáo trạng, luận tội trước phiên tòa sơ thẩm hình sự và xem đó là thực hành quyền công tố, thậm chí một số người còn cho rằng thực hành quyền công tố chỉ là sự buộc tội của công tố viên trước phiên tòa sơ thẩm. Những năm trở lại đây, có một số học giả đã nghiên cứu một số công trình khoa học về thực hành quyền công tố hoặc một số bài bình luận liên quan đến thực hành quyền công tố, tuy nhiên những công trình này mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra được một số biện pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát như thực hiện công tác kiểm sát điều tra, công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam, giam, giữ và cải tạo, kiểm sát việc thi hành án hình sự.
Ngoài ra những công trình này còn bộc lộ một số hạn chế về mặt nhận thức của một số học giả luật học làm 8 công tác nghiên cứu và thực tiễn trong, ngoài ngành kiểm sát đã có sự nhầm lẫn giữa quyền công tố với thực hành quyền công tố trên nhiều phương diện như đối tượng, nội dung, phạm vi. Đồng thời các công trình nghiên cứu này luôn luôn gắn quyền công tố chỉ với VKS, coi đó là quyền năng của duy nhất cơ quan VKS. Vì những nguyên nhân như vậy nên các học giả đã chưa giải thích được một số vấn đề là khi một số cơ quan tiến hành tố tụng như CQ CSĐT, TA thực hiện các biện phải như khởi tố vụ án, khởi tố bị can. cho nên cần phải nhận thức, trong thực tiễn các cơ quan này có phải cũng thực hành quyền công tố hay không.
Nhà nước ta đã tổ chức một hệ thống cơ quan cụ thể nhằm thực hiện quyền lực của nhà nước trên một lĩnh vực nhất định. Hệ thống tập hợp các cơ quan này có một vai trò vô cùng quan trọng trong công tác phối hợp giữa cơ quan nhà nước với nhau nhằm thực hiện quyền lực nhà nước (các quyền lực mà Nhà nước đã giao quyền). Hầu hết các nước trên thế giới thành lập cơ quan công tố chuyên biệt để thực hành quyền công tố, với một số quyền hạn và trách nhiệm tố tụng được pháp luật TTHS ghi nhận trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Không thể tồn tại một cơ quan nhà nước nào khác để có thể thay thế được Viện kiểm sát trong việc sử dụng quyền công tố; Các công tác bắt tạm giữ, tạm giam, tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; điều tra, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc, trách nhiệm của Viện kiểm sát phải bảo đảm cho hợp lý, tốt.
Những vấn đề này đã được quy định cụ thể tại vào Hiến pháp, Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, Luật Tổ chức Viện KSND và các quy định hiện hành. Chắc chắn không thể có một cơ quan nào khác có thể đảm đương, thay thế Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, vì các lý do sau: 9 a. Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất trong hệ thống pháp luật hiện hành về mặt pháp lý có quyền tự mình độc lập phát động quyền công tố.VKS có quyền áp dụng, hoặc thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, CQĐT chỉ có quyền đề nghị trên cơ sở Phê chuẩn của VKS.Trong quá trình thực hành hoạt động điều tra vụ án hình sự, VKS có trách nhiệm đánh giá, đảm bảo các chứng cứ đủ căn cứ để truy tố bị can.Thông qua các biện pháp xác minh, điều tra, VKS ban hành quyết định truy tố bị can trước pháp luật (Tòa án) khi và chỉ khi, VKS nhận thấy có đủ căn cứ để chứng minh hành vi phạm tội. Ngay tại phiên tòa hình sự, VKS có trách nhiệm bảo đảm việc truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Bản án của Tòa án là việc HĐXX đã chấp nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, khái niệm thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự có thể được hiểu như sau: Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý do pháp luật quy định để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Con người là một thực thể của xã hội, là đối tượng hàng đầu được pháp luật bảo vệ đặc biệt. Thực hiện việc bảo vệ con người trước hết là bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và tự do của họ, bởi đó là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với bất kỳ một ai.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã đánh dấu một bước tiến lớn trong lĩnh vực quyền con người. Nếu như quyền con người trong Hiến pháp 1992 chỉ thể hiện tại Điều 50 thì Hiến pháp năm 2013 đã dành một chương riêng (chương II) quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. 10 Trong chương này, các quyền con người, trong đó có quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe được quy định cụ thể và phù hợp, tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia. Điều 19 quy định: “Mọi người có quyền sống.
Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Đặc biệt, quyền này còn được bảo vệ bởi văn bản luật quan trọng là Bộ luật hình sự. Bộ luật hình sự Việt Nam cũng cấm những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người và đưa ra những chế tài đối với loại hành vi này.
Tuy nhiên, để hiểu rõ khái niệm "các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe của con người", chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “tính mạng” "sức khỏe". Tính mạng chính là sự sống của con người. Theo quan niệm của Tổ chức Y tế Thế giới thì "Sức khỏe không phải là yếu đuối, hay không có bện tất mà chính là có một trạng thái sảng khoái về mặt thể chất, tinh thần và xã hội chứ, có đủ điều kiện phát triển thể chất tốt, trí tuệ được nâng cao, phát triển trong một xã hội lành mạnh". Cho nên, sức khỏe là một vấn đề cá nhân của mỗi con người.
Vì vậy, mỗi người đều được quyền tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của mình. Trong các Giáo trình luật hình sự Việt Nam và một số tài liệu nghiên cứu, bình luận chuyên sâu hiện nay chủ yếu đưa ra khái niệm chung về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, ít có khái niệm riêng về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, có thể điểm qua như sau: GS.