Thúc Đẩy Chuỗi Cung Ứng Thủy Sản Xuất Khẩu Của Việt Nam Sang Thị Trường New Zealand

Khám phá cách thúc đẩy chuỗi cung ứng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường New Zealand, nâng cao giá trị và tiềm năng phát triển.

Trường đại học

Đại học Thăng Long

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

80
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NEW ZEALAND TRONG BỐI CẢNH HIỆP ĐỊNH CPTPP

1.1. Khái niệm cơ bản

1.2. Chuỗi cung ứng

1.3. Các thành viên chuỗi cung ứng

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NEW ZEALAND TRONG BỐI CẢNH THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH CPTPP

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CHUỖI CUNG ỨNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NEW ZEALAND TRONG BỐI CẢNH THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH CPTPP

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Xuất Khẩu Thủy Sản Việt Nam Sang New Zealand

Việt Nam là một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu thủy sản trên thế giới. Thị trường New Zealand được xem là một trong những thị trường tiềm năng cho sản phẩm thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, để thâm nhập và phát triển tại thị trường này, cần có những hiểu biết sâu sắc về nhu cầu và tiêu chuẩn của thị trường.

1.1. Tình Hình Xuất Khẩu Thủy Sản Của Việt Nam

Trong những năm qua, thủy sản Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, thị trường New Zealand vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua.

1.2. Đặc Điểm Thị Trường New Zealand

New Zealand có những yêu cầu khắt khe về chất lượng và an toàn thực phẩm. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao tiêu chuẩn sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

II. Thách Thức Trong Xuất Khẩu Thủy Sản Sang New Zealand

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng thách thức xuất khẩu thủy sản sang New Zealand cũng không ít. Các doanh nghiệp cần nhận diện và giải quyết những vấn đề này để có thể thành công.

2.1. Quy Trình Giám Định Chất Lượng

Sản phẩm thủy sản nhập khẩu vào New Zealand phải trải qua quy trình giám định chất lượng nghiêm ngặt. Điều này có thể làm tăng chi phí và thời gian xuất khẩu.

2.2. Cạnh Tranh Với Các Quốc Gia Khác

Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các quốc gia như Trung Quốc và Ấn Độ, nơi có chi phí sản xuất thấp hơn. Điều này tạo ra áp lực lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam.

III. Phương Pháp Thúc Đẩy Xuất Khẩu Thủy Sản Sang New Zealand

Để tăng cường xuất khẩu thủy sản, các doanh nghiệp cần áp dụng những phương pháp hiệu quả nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của thị trường New Zealand.

3.1. Nâng Cao Chất Lượng Sản Phẩm

Đầu tư vào công nghệ và quy trình sản xuất hiện đại sẽ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của New Zealand.

3.2. Tăng Cường Quảng Bá Thương Hiệu

Các doanh nghiệp cần đẩy mạnh hoạt động quảng bá và xúc tiến thương mại để nâng cao nhận thức về thủy sản Việt Nam tại thị trường New Zealand.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Nghiên cứu về chuỗi cung ứng thủy sản xuất khẩu sang New Zealand đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực, nhưng cũng cần có những điều chỉnh để tối ưu hóa quy trình xuất khẩu.

4.1. Kết Quả Đạt Được

Kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang New Zealand đã có sự gia tăng trong những năm gần đây, cho thấy tiềm năng lớn của thị trường này.

4.2. Những Hạn Chế Cần Khắc Phục

Mặc dù có những kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong quy trình xuất khẩu cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả.

V. Kết Luận Về Tương Lai Xuất Khẩu Thủy Sản Sang New Zealand

Tương lai của xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang New Zealand phụ thuộc vào khả năng thích ứng và cải tiến của các doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

5.1. Dự Báo Xu Hướng Thị Trường

Dự báo rằng nhu cầu về thủy sản tại New Zealand sẽ tiếp tục tăng, mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam nếu biết nắm bắt.

5.2. Đề Xuất Giải Pháp Tương Lai

Cần có những chính sách hỗ trợ từ chính phủ và các hiệp hội để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp.

10/07/2025
Thúc đẩy chuỗi cung ứng thủy sản xuất khẩu của việt nam sang thị trường của new zealand

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NEW ZEALAND TRONG BỐI CẢNH HIỆP ĐỊNH CPTPP 1. Khái niệm cơ bản 1. Chuỗi cung ứng Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian và cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng.

Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải tiến mức phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, và các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở. Chuỗi cung ứng (Supply Chain): là thuật ngữ kinh tế xuất hiện vào những năm cuối của thập niên 80 và nhanh chóng trở nên phổ biến ở thập niên 90. Một số định nghĩa về chuỗi cung ứng đã được đưa ra trên thế giới như sau: Đề cập trong tác phẩm “Fundamentals of Logistics Management” (1998), Lambert và cộng sự đưa ra khái niệm chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ vào thị trường.

Theo Mentzer và cộng sự (2001), chuỗi cung ứng là một tập hợp ba hoặc nhiều tổ chức trực tiếp tham gia vào dòng chảy của hàng hóa, dịch vụ, tài chính và (hoặc) thông tin từ một nhà cung cấp đến người tiêu dùng. Đối với các tác giả khác như Harland và cộng sự (2001) lại có một khái niệm rộng hơn về chuỗi cung ứng, được gọi là Mạng lưới cung ứng. Mạng lưới cung ứng là mạng lưới các công ty liên kết với nhau nhằm mục đích chính là để cung cấp, sử dụng và chuyển hóa nguồn lực để cung cấp các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng. Hiện nay giáo trình Nguyên lý logistic và SPM tốt nhất trên thế giới của Christopher có đưa ra lý thuyết về chuỗi cung ứng như sau “Chuỗi cung ứng là một hệ thống tổ chức, con người, các nguồn lực, thông tin, các hoạt động.liên quan tới việc di chuyển sản phẩm, dịch vụ từ nhà cung cấp hay nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng” Như vậy, có thể thấy định nghĩa về chuỗi cung ứng được phát triển và hoàn thiện theo thời gian.

Một cách đơn giản, ta có thể định nghĩa chuỗi cung ứng là một quá trình di chuyển các yếu tố đầu vào từ nhà cung cấp thông qua việc lưu trữ và vận chuyển đi đến nhà sản xuất rồi lại từ nhà sản 5 Thư viện ĐH Thăng Long xuất biến đổi các yếu tố đầu vào đó thành yếu tố đầu ra của sản phẩm di chuyển và lưu trữ sản phẩm tới nhà phân phối và cuối cùng là đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Tất cả các sản phẩm đến tay người tiêu dùng thông qua một vài hình thức của chuỗi cung ứng, có một số thì lớn hơn và một số thì phức tạp hơn rất nhiều. Với ý tưởng chuỗi cung ứng này, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng chỉ có một nguồn tạo ra lợi nhuận duy nhất cho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng. Khi các doanh nghiệp riêng lẻ trong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi, điều này rốt cuộc dẫn đến giá bán cho khách hàng cuối cùng là rất cao, mức phục vụ chuỗi cung ứng thấp và điều này làm cho nhu cầu khách hàng tiêu dùng cuối cùng trở nên thấp.

• Các thành viên chuỗi cung ứng Với hình thức đơn giản nhất, một chuỗi cung ứng bao gồm các doanh nghiệp, các nhà cung cấp và khách để tạo ra một chuỗi cung ứng cơ bản. Nhà cung cấp Doanh nghiệp Khách hàng Sơ đồ 1: Chuỗi cung ứng đơn giản (Nguồn: Micheal Hugos, 2003) Trong chuỗi cung ứng đơn giản gồm 3 đối tượng cơ bản là nhà cung cấp, doanh nghiệp, khách hàng. Theo chiều mũi tên liền, là dòng chảy của vật chất, được bắt đầu từ nhà cung cấp rồi được đưa đến kho của các doanh nghiệp (chế biến/ sản xuất). Từ đây hàng hóa sản phẩm sẽ được phân phối tới khách hàng.

Theo chiều mũi tên đứt đoạn ngược lại với dòng vật chất là dòng chảy của dòng tiền. Dòng tiền đi từ khách hàng trả tiền cho sản phẩm hàng hóa đã mua từ doanh nghiệp rồi đến điểm cuối cùng là nhà cung cấp. Còn lại, dòng thông tin là một dòng chảy vô hình nhưng có vai trò vô cùng quan trọng để tạo ra hai dòng chảy trên. Mũi tên hai chiều nét đứt của dòng thông tin có thể quy định loại sản phẩm (mã hàng), số lượng, thời gian (thời lượng và thời điểm), số tiền, sản phẩm lỗi hỏng cần trả lại, … di chuyển trong hai dòng trên.

Với chuỗi cung ứng mở rộng ngoài 3 đối tượng truyền thống tham gia, còn có nhà phân phối, nhà bán lẻ. 6 Nhà cung cấp Nhà sản xuất Nhà phân Nhà bán lẻ Khách hàng phối Nhà cung cấp dịch vụ Sơ đồ 2: Chuỗi cung ứng mở rộng (Nguồn: Micheal Hugos, 2003) Trong chuỗi cung ứng cũng có sự kết hợp của một số công ty thực hiện những chức năng khác nhau. Những công ty đó là nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ và khách hàng cá nhân hay khách hàng là tổ chức. Những công ty thứ cấp này sẽ có nhiều công ty khác nhau cung cấp hàng loạt những dịch vụ cần thiết.

Nhà cung cấp Là tổ chức hoặc cá nhân tham gia cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường. Tính chất của các thị trường cung cấp khác nhau sẽ ảnh hưởng ở mức độ khác nhau đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra còn có nhà cung cấp của nhà cung cấp (lớp 2). Có nhiệm vụ cung ứng đầu vào để phục vụ doanh nghiệp sản xuất.

Những nhà cung cấp có thể coi là một áp lực đe dọa đối với doanh nghiệp khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào hoặc giảm chất lượng các sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp, hay như không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp về số lượng, thời gian cung ứng ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động và làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy chuỗi cung ứng có bị gián đoạn, đứt gãy hay không phụ thuộc vào sự sẵn sàng cung ứng của nhà cung cấp. Nhà sản xuất Nhà sản xuất là các tổ chức sản xuất ra sản phẩm. Nhà sản xuất bao gồm những công ty sản xuất nguyên vật liệu và công ty sản xuất thành phẩm.

Các nhà sản xuất nguyên vật liệu như khai thác khoáng sản, khoan tìm dầu khí, cưa gỗ. và cũng bao gồm những tổ chức trồng trọt, chăn nuôi hay đánh bắt thuỷ hải sản. Các nhà sản xuất thành phẩm sử dụng nguyên vật liệu và các bộ phận lắp ráp được sản xuất ra từ các công ty khác. Nhà phân phối Nhà phân phối là những công ty tồn trữ hàng với số lượng lớn từ nhà sản xuất và phân phối sản phẩm đến khách hàng.

Nhà phân phối cũng được xem là nhà bán sỉ. Nhà phân phối bán sản phẩm cho những nhà kinh doanh khác với số lượng lớn hơn so với khách hàng mua lẻ. Do sự biến động nhu cầu về sản phẩm, nhà phân phối tồn trữ hàng hóa, thực 7 Thư viện ĐH Thăng Long hiện bán hàng và phục vụ khách hàng. Một nhà phân phối điển hình là một tổ chức sở hữu nhiều sản phẩm tồn kho mua từ nhà sản xuất và bán lại cho người tiêu dùng.

Ngoài khuyến mãi sản phẩm và bán hàng, có những chức năng khác mà nhà phân phối phải thực hiện là quản lý tồn kho, vận hành cửa hàng, vận chuyển sản phẩm cũng như chăm sóc khách hàng. Nhà phân phối cũng là một tổ chức chỉ đại diện bán hàng giữa nhà sản xuất và khách hàng, không bao giờ sở hữu sản phẩm đó. Loại nhà phân phối này thực hiện chức năng chính yếu là khuyến mãi và bán sản phẩm. Với cả hai trường hợp này, nhà phân phối là đại lý nắm bắt liên tục nhu cầu của khách hàng, làm cho khách hàng mua sản phẩm từ các công ty sản xuất.

Nhà bán lẻ Nhà bán lẻ tồn trữ sản phẩm và bán cho khách hàng với số lượng nhỏ hơn. Nhà bán lẻ trong khi bán hàng cũng nắm bắt ý kiến và nhu cầu của khách hàng rất chi tiết. Do nỗ lực chính là thu hút khách hàng đối với những sản phẩm mình bán, nhà bán lẻ thường quảng cáo và sử dụng một số kỹ thuật kết hợp về giá cả, sự lựa chọn và sự tiện dụng của sản phẩm. Khách hàng Khách hàng hay người tiêu dùng là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào mua và sử dụng sản phẩm.

Khách hàng là tổ chức có thể mua một sản phẩm để kết hợp với sản phẩm khác rồi bán chúng cho khách hàng khác là người sử dụng sản phẩm sau/ mua sản phẩm về tiêu dùng. Ngoài ra còn có các công ty cung cấp dịch vụ cho những công ty khác trong chuỗi cung ứng. Đây là các công ty cung cấp dịch vụ về hậu cần, tài chính, tiếp thị và công nghệ thông tin… • Cấu trúc chuỗi cung ứng: Chuỗi cung ứng được hiểu là luồng nguyên liệu, thông tin, tài chính, dịch vụ từ những nhà cung cấp nguyên liệu thô đến các nhà máy, kho hàng và khách hàng. Chuỗi cung ứng bao gồm các tổ chức và các quá trình để tạo ra và phân phối sản phẩm, thông tin và dịch vụ đến khách hàng cuối cùng.

Thuật ngữ chuỗi cung ứng được hình thành từ khái niệm liên kết các tổ chức với nhau để hoạt động có hiệu quả nhất. Trong mô hình trên, chuỗi cung ứng bao gồm bản thân doanh nghiệp (sản xuất và chế biến), nhà cung cấp và nhà phân phối, khách hàng. - Thượng nguồn: Bao gồm hoạt động giữa nhà sản xuất và các nhà cung cấp của họ (có thể là các nhà sản xuất khác, các nhà chế biến…) và cả những nhà cung cấp của các nhà cung cấp (lớp 2) 8 Trong phần thượng nguồn của chuỗi cung ứng, hoạt động chủ yếu là mua sắm. - Trung lưu Trung lưu: bao gồm tất cả các hoạt động bên trong công ty để chuyển các đầu vào thành các đầu ra, các hoạt động chủ yếu là quản lý thu mua, chế biến và quản lý hàng lưu kho.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thúc Đẩy Xuất Khẩu Thủy Sản Việt Nam Sang New Zealand" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các cơ hội và thách thức trong việc xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường New Zealand. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và phát triển các chiến lược marketing hiệu quả để gia tăng giá trị xuất khẩu. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức tối ưu hóa quy trình xuất khẩu, từ đó giúp các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam mở rộng thị trường và tăng trưởng bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Chuỗi cung ứng xanh trong ngành thủy sản tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về chuỗi cung ứng bền vững trong ngành thủy sản. Ngoài ra, tài liệu Tác động của hiệp định EVFTA đối với hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các hiệp định thương mại và ảnh hưởng của chúng đến xuất khẩu thủy sản. Cuối cùng, tài liệu Rủi ro xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Hoa Kỳ: Thực trạng và giải pháp sẽ cung cấp thông tin về những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải khi xuất khẩu sang thị trường lớn như Hoa Kỳ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về ngành thủy sản và các chiến lược xuất khẩu hiệu quả.