phần mở đầu, hội nhập kinh tế quốc tế chính là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự hình thành của các FTA. Hội nhập kinh tế được Béla Balassa (1961) định nghĩa trong “The Theory of Economic Integration”: Hội nhập kinh tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu. Theo cách đơn giản hơn, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các việc thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế thế giới, đồng thời gia nhập và góp phần xây dựng các thiết chế kinh tế khu vực và toàn cầu. Các nhà kinh tế đã xác định 5 cấp độ của hội nhập kinh tế toàn cầu từ thấp đến cao như sau: Khu vực Thương mại ưu đãi (Preferential Trade Area - PTA): Là cấp độ thấp nhất của hội nhập kinh tế, nhưng có lịch sử hình thành lâu đời nhất so với các cấp độ khác của hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó các nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia ký kết Hiệp định Thương mại ưu đãi, dành các ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan cho hàng hóa của nhau, từ đó tạo thành các khu vực thương mại ưu đãi.
Theo thỏa thuận này, thuế quan và hàng rào phi thuế quan có thể vẫn còn, nhưng thấp hơn so với khi áp dụng cho quốc gia không tham gia hiệp định. Khu vực Thương mại tự do (Free Trade Area – FTA): Các nước tham gia Hiệp định Thương mại tự do, cam kết bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan cho tất cả hoặc gần như tất cả hàng hóa của nhau, trừ một số hàng hóa đặc biệt. QTXX là một phần quan trọng của các hiệp định thương mại tự do nhằm đảm bảo chỉ những hàng hóa được 7 sản xuất toàn bộ hoặc tối thiểu ở một tỷ lệ nhất định tại các nước thành viên hiệp định mới được hưởng ưu đãi. Liên minh thuế quan (Custom Union - CU): Đây có thể hiểu là một khu vực thương mại tự do giữa các nước thành viên và áp dụng chính sách về thuế quan thống nhất đối với hàng hóa từ nước ngoài khu vực.
Liên minh châu Âu EU là một ví dụ tiêu biểu cho cấp độ hội nhập kinh tế này. Thị trường chung (Common Market – CM): Thị trường chung có đầy đủ các yếu tố của liên minh thuế quan, cộng thêm sự cho phép tự do di chuyển các yếu tố sản xuất (vốn, lao động) giữa các nước thành viên. Liên minh Kinh tế và tiền tệ (Economic Union): Đây là cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế sâu nhất. Hội nhập kinh tế đến cấp độ này tạo ra một thị trường chung giữa các nền kinh tế với một đơn vị tiền tệ chung được sử dụng.
Ví dụ rõ nhất về cấp độ này là Khu vực đồng Euro - Eurozone. Vậy việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do hay tham gia Khu vực Thương mại tự do chính là một cấp độ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Định nghĩa hiệp định thương mại tự do Theo quan niệm truyền thống tại Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch GATT 1947, Điều XXIV điểm 8b “Khu vực thương mại tự do là một nhóm gồm hai hay nhiều lãnh thổ thuế quan trong đó thuế và các quy định thương mại khác sẽ bị dỡ bỏ đối với phần lớn các mặt hàng có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ thuế quan đó”. Như vậy GATT 1947 mới chỉ đề cập đến khái niệm về khu vực thương mại tự do, tuy nhiên tư tưởng về Hiệp định thương mại tự do cũng được biểu đạt qua khái niệm đó.
Hơn nữa khái niệm này mới chỉ đề cập đến thương mại hàng hóa. Cổng thông tin điện tử về Hiệp định thương mại tự do định nghĩa “Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một hiệp ước giữa hai hay nhiều quốc gia trong đó các quốc gia thỏa thuận về các nghĩa vụ nhất định tác động đến thương mại hàng hóa và dịch vụ 8 cũng như các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư, quyền SHTT, và các lĩnh vực khác. Theo chính sách thương mại tự do, hàng hóa và dịch vụ có thể được mua và bán qua biên giới quốc tế với mức thuế rất thấp hoặc bằng 0, hạn ngạch, trợ cấp hoặc các biện pháp cấm của chính phủ là rào cản của thương mại.” Trung tâm WTO và Hội nhập – VCCI định nghĩa về FTA như sau “Một Hiệp định thương mại tự do là một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều thành viên nhằm loại bỏ các rào cản đối với phần lớn thương mại giữa các thành viên với nhau”. Các FTA có thể là song phương, tức có hai thành viên hoặc đa phương hay khu vực, có nhiều hơn 2 thành viên.
Thành viên tham gia FTA có thể là các quốc gia hoặc các khu vực thuế quan độc lập như Liên minh châu Âu EU, Hong Kong,. Vì vậy, khi nhắc tới thành viên của FTA, thường gọi chung là nền kinh tế. Phạm vi thương mại bao gồm tất cả các hoạt động kinh doanh sinh lời, trong đó có thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và cả các vấn đề khác liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới thương mại như SHTT, lao động, môi trường, mua sắm công,. Theo cách hiểu phổ biến và truyền thống, hiệp định thương mại tự do là một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều nước thành viên nhằm cắt giảm hầu hết các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với thương mại giữa các nước thành viên; đồng thời mỗi thành viên vẫn áp dụng các rào cản và chính sách thương mại khác nhau đối với các quốc gia không tham gia ký kết hiệp định (Nguyễn Thị Minh Phương, 2020).
Như đã chỉ ra ở trên, Hiệp định thương mại tự do là một cấp độ của hội nhập kinh tế quốc tế mà ở đó mỗi thành viên vẫn duy trì một chính sách thuế quan riêng với các quốc gia, vùng lãnh thổ bên ngoài hiệp định. Nhằm đảm bảo sự rõ ràng, minh bạch, nhà xuất khẩu phải chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm. Để thực hiện điều này, các thành viên sử dụng QTXX trong đó yêu cầu riêng về tỉ lệ xuất xứ của các nguyên liệu đầu vào và giá trị gia tăng của hàng hóa đó. Việc này không chỉ giúp cho hàng xuất khẩu được hưởng ưu đãi và đảm bảo quyền lợi của nước xuất khẩu tại nước nhập khẩu mà còn để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.
Quá trình hình thành hiệp định thương mại tự do Sự hình thành và phát triển của FTA gắn liền với quá trình phát triển của thương mại thế giới. Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, nhìn chung buôn bán trên thế giới phát triển tự do. Bối cảnh thế giới sau chiến tranh, nhất là sau cuộc đại khủng hoảng 1929 - 1933 và tiếp đến cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã tác động mạnh đến hoạt động thương mại quốc tế. Để khôi phục nền kinh tế, nhiều quốc gia đã xác lập các hàng rào thuế để bảo vệ thị trường nội địa trước sự xâm nhập của hàng hóa bên ngoài có khả năng cạnh tranh cao hơn.
Các quốc gia gần gũi về địa lý thực hiện các thỏa thuận trong giao dịch thương mại, tạo các ưu đãi để thúc đẩy phát triển kinh tế. Trên thực tế, cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật và sự gia tăng nhu cầu mở rộng giao thương và đầu tư, các quốc gia đều mong muốn giảm thuế quan. Cùng với các thỏa thuận ưu đãi riêng giữa hai hay một số quốc gia, nhu cầu về một dạng hình thỏa thuận có tính đa phương trong cắt giảm thuế quan cũng ngày càng gia tăng. Sự ra đời của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) năm 1948 chính là đáp ứng xu thế chung này.
Các nước tham gia GATT đã tiến hành nhiều đợt đàm phán để ký kết những thỏa thuận thương mại mới và mỗi đợt đàm phán như vậy được gọi là một vòng đàm phán. Tại vòng đàm phán thứ tám, kết thúc năm 1994, các nước thành viên nhất trí thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thay cho GATT. Nhìn chung, những thỏa thuận thương mại trong các vòng đàm phán đó ràng buộc các nước ký kết phải tiến hành cắt giảm thuế cũng như giảm bớt các hàng rào thương mại phi quan thuế khác đối với hàng hóa. Mức độ giảm thuế khác nhau tùy theo từng nước cũng như từng loại hàng hóa.
Đến vòng đàm phán Đô-ha bế tắc xuất phát từ bất đồng về chính sách thương mại trong nông nghiệp giữa Mỹ và Ấn Độ., và kết quả là đàm phán bị hoãn vào năm 2008. Để đối phó với sự bế tắc trong vòng đàm phán Đô-ha, các quốc gia có xu hướng quay sang ký kết các FTA, dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ của các FTA trong những thập niên gần đây. Phân loại hiệp định thương mại tự do Hiện chưa có các tiêu chí thống nhất để phân loại FTA, theo Trung tâm WTO và Hội nhập VCCI, thông thường, việc phân loại FTA dựa trên các tiêu chí: số lượng thành viên tham gia, trình độ phát triển của các thành viên tham gia, phạm vi và nội dung của cam kết. a) Theo số lượng thành viên tham gia FTA song phương: FTA chỉ bao gồm hai thành viên tham gia ký kết và giá trị ràng buộc chỉ tồn tại giữa hai thành viên này, hai thành viên cùng ký kết và thực hiện các cam kết đã thống nhất.
Chỉ gồm hai thành viên tham gia nên tiến trình đàm phán dễ dàng, nhanh chóng hơn so với các FTA đa phương. FTA song phương là loại FTA được ký kết nhiều nhất trong những loại FTA từ trước đến nay. Ví dụ như Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJFTA). FTA đa phương: FTA có từ 3 quốc gia trở lên tham gia đàm phán và ký kết.
Do số lượng các thành viên tham gia đàm phán, ký kết nhiều nên thời gian để một FTA đa phương đi vào hiệu lực thường kéo dài hơn nhiều so với một FTA song phương.