Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ. Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU GỖ VÀ SẢN PHẨM GỖ 1.
Tổng quan về xuất khẩu 1. Khái niệm và đặc điểm xuất khẩu Theo giáo trình Thương mại quốc tế của Feenstra and Taylor (2010) xuất khẩu được định nghĩa là “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác”. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28 Luật Thương Mại số 36/2005/QH11 của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2005 quy định như sau: "Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật." Mục đích của xuất khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế.
Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này. Xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc hàng hoá thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói riêng. Xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian.
Nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể đước diễn ra trên phậm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Các hình thức xuất khẩu Hiện nay xuất khẩu được chia ra thành nhiều hình thức xuất khẩu khác nhau, trong đó mỗi hình thức lại mang những đặc điểm riêng, doanh nghiệp sẽ cần xác định rõ loại hình xuất khẩu phù hợp để làm thủ tục hải quan đúng và nhanh chóng 1. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu được thực hiện trực tiếp giữa bên bán và bên mua. Bên bán xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước đến khách hàng nước ngoài.
Trong trường hợp, doanh nghiệp xuất khẩu không tự sản xuất ra sản phẩm (gọi là doanh nghiệp thương mại) thì việc xuất khẩu phải trải qua gồm hai công đoạn : 5 + Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu với các đơn vị, địa phương trong nước. + Đàm phán ký kết với doanh nghiệp nước ngoài, giao hàng và thanh toán tiền hàng với đơn vị bạn. Xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài thông qua đơn vị trung gian, hay gọi là forwarder. Trong đó, đơn vị đảm nhận ủy thác sẽ tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu, tiến hành làm các thủ tục cần thiết để xuất khẩu mặt hàng thay cho nhà sản xuất và hưởng phí uỷ thác.
Với hình thức này, hai bên cần ký hợp đồng xuất khẩu ủy thác nhằm thỏa thuận quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong hợp đồng. Khi xuất khẩu trực tiếp, các doanh nghiệp chủ động trong việc tìm kiếm nguồn khách hàng và trong việc tiêu thụ hàng hóa sản phẩm của mình. Doanh nghiệp sẽ trực tiếp đàm phán về giá cả cũng như lựa chọn các phương thức thanh toán phù hợp. Từ đó sẽ giảm các chi phí trung gian, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khi có sự tự chủ như vậy doanh nghiệp cần đảm bảo số lượng hàng hóa đủ lớn khi tham gia giao dịch để bù đắp được chi phí khi tham gia giao dịch. Ngoài ra còn có một số rủi ro về sai sót, ảnh hưởng đến chất lượng lô hàng xuất khẩu. Xuất khẩu ủy thác Đây là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị xuất nhập khẩu đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu, tiến hành làm các thủ tục cần thiết để xuất khẩu do đó nhà sản xuất và qua đó được hưởng một số tiền nhất định gọi là phí uỷ thác. (Lê Ngọc Hải, 2013) Hình thức này bao gồm các bước sau: + Ký kết hợp đồng xuất khẩu uỷ thác với đơn vị trong nước.
+ Ký hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán tiền hàng bên nước ngoài. + Nhận phí uy thác xuất khẩu từ đơn vị trong nước. Ưu điểm: Các đơn vị giao nhận vận tải uy tín trên thị trường thường có nghiệp vụ chuyên môn cao, giúp chủ hàng tránh được các rủi ro trong việc xuất khẩu. Tiết kiệm thời gian, giúp hàng hóa được vận chuyển nhanh chóng.
Thuê các đơn vị giao nhận vận tải giúp chủ hàng tránh được các rủi ro cho lô hàng và giảm chi phí cũng như thời gian của lô hàng. Nhược điểm: Doanh nghiệp xuất khẩu mất đi sự liên kết trực tiếp với thị trường. Thường phải đáp ứng những yêu cầu từ phía trung gian và lợi nhuận sẽ bị chia sẻ. Gia công quốc tế 6 Đây là một phương thức kinh doanh trong đó một bên gọi là bên nhận gia công nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công).
(Lê Ngọc Hải, 2013) Đây là một trong những hình thức xuất khẩu đang có bước phát triển mạnh mẽ và được nhiều quốc gia chú trọng. Bởi những lợi ích của nó: - Đối với bên đặt gia công: Phương thức này giúp họ lợi dụng về giá rẻ, nguyên phụ và nhân công của nước nhận gia công. - Đối với bên nhận gia công: Phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân công lao động trong nước hoặc nhập được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc như Nam Triều Tiên, Thái Lan, Singapo…. Hình thức gia công quốc tế này đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, được các quốc giá có nguồn lao động dồi dào giá rẻ như Việt Nam áp dụng.
Điều này không những tạo điều kiện tiếp cận công nghệ mới mà còn mang lại việc làm cho người lao động. Việt Nam cũng là một trong số những nước gia công hàng xuất khẩu với nhiều mặt hàng đa dạng như dệt may, da giầy, điện tử… 1. Xuất khẩu tại chỗ Đây là hình thức kinh doanh mới nhưng đang phát triển rộng rãi, do những ưu việt của nó đem lại. Đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là hàng hoá không cần vượt qua biên giới quốc gia mà khách hàng vẫn mua được.
Do vậy nhà xuất khẩu không cần phải thâm nhập thị trường nước ngoài mà khách hàng tự tìm đến nhà xuất khẩu. Căn cứ khoản 1 Điều 86 Thông tư 38/2015/TT-BTC các hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ bao gồm: - Sản phẩm gia công; máy móc, thiết bị thuê hoặc mượn; nguyên liệu, vật tư dư thừa; phế liệu, phế phẩm thuộc hợp đồng gia công. - Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu phi thuế quan. - Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức, cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam và được thương nhân nước ngoài chỉ định giao, nhận hàng hóa với doanh nghiệp khác tại Việt Nam.
7 Mặt khác doanh nghiệp cũng không cần phải tiến hành các thủ tục như thủ tục hải quan, mua bảo hiểm hàng hoá do đó giảm được chi phí khá lớn. Trong điều kiện nền kinh tế như hiện nay xu hướng di cư tạm thời ngày càng trở nên phổ biến mà tiêu biểu là số dân đi du lịch nước ngoài tăng nên nhanh chóng. Các doanh nghiệp có nhận thức đây là một cơ hội tốt để bắt tay với các tổ chức du lịch để tiến hành các hoạt động cung cấp dịch vụ hàng hoá để thu ngoại tệ. Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể tận dụng cơ hội này để khuếch trương sản phẩm của mình thông qua những du khách.
Với sự ra đời của hàng loạt khu chế xuất ở các nước thì đây cũng là một hình thức xuất khẩu có hiệu quả được các nước chú trọng hơn nữa. Việc thanh toán này cũng nhanh chóng và thuận tiện. Tạm nhập tái xuất Đây là một hình thức xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hoá trước đây đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất.qua hợp đồng tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về số ngoại tệ lớn hơn số ngoại tệ đã bỏ ra ban đầu. (Lê Ngọc Hải, 2013) Hợp đồng này luôn thu hút ba nước xuất khẩu, nước tái xuất, và nước nhập khẩu.
Vì vậy người ta gọi giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác. (Triangirlar transaction) Tái xuất có thể thực hiện bằng một trong hai hình thức sau: Tái xuất theo đúng nghĩa của nó, trong đó hàng hoá đi từ nước xuất khẩu đến nước tái xuất, rồi lại được xuất khẩu từ nước tái xuất sang nước nhập khẩu. Ngược chiều với sự vận động của hàng hoá là sự vận động của đồng tiền đồng tiền được xuất phát từ nước nhập khẩu sang nước tái xuất và nhanh chóng được chuyển sang nước xuất khẩu. Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao mà không phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng máy móc, thiết bị, khả năng thu hồi vốn cũng nhanh hơn.
Kinh doanh tái xuất đòi hỏ sự nhạy bén tình hình thị trường và giá cả, sự chính xác và chặt chẽ trong các hoạt động mua bán. Do vậy khi doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu theo phương thức này thì cần phải có đội ngũ cán bộ có chuyện môn cao. Buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu là một trong những phương thức giao dịch xuất khẩu trong xuất khẩu kết hợp chặc chẽ với nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là ngời mua, lượng trao 8 đổi với nhau có giá trị tương đương. Trong phương thức xuất khẩu này mục tiêu là thu về một lượng hàng hoá có giá trị tương đương.
Vì đặc điểm này mà phương thức này còn có tên gọi khác như xuất nhập khẩu liên kết, hay hàng đổi hàng.