Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Cơ sở lý luận về xuất khẩu, cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu mặt hàng bao bì túi nhựa sang thị trƣờng Hoa Kỳ trong bối cảnh Việt Nam - Hoa Kỳ nâng tầm Đối tác chiến lƣợc toàn diện. Thực trạng, cơ hội và thách thức khi xuất khẩu mặt khẩu mặt hàng bao bì túi nhựa sang thị trƣờng Hoa Kỳ trong bối cảnh Việt Nam - Hoa Kỳ nâng tầm Đối tác chiến lƣợc toàn diện của Công ty cổ phần HANPAK.
Triển vọng và đƣa ra giải pháp nhằm tận dụng cơ hội và đối phó thách thức khi xuất khẩu mặt khẩu mặt hàng bao bì túi nhựa sang thị trƣờng Hoa Kỳ trong bối cảnh Việt Nam - Hoa Kỳ nâng tầm Đối tác chiến lƣợc toàn diện của Công ty cổ phần HANPAK. 9 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU MẶT HÀNG BAO BÌ TÚI NHỰA SANG THỊ TRƢỜNG HOA KỲ TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM - HOA KỲ NÂNG TẦM ĐỐI TÁC CHIẾN LƢỢC TOÀN DIỆN 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2. Các khái niệm về xuất khẩu Xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với các nền kinh tế hiện đại.
Một trong những chức năng cốt lõi của ngoại giao và chính sách đối ngoại giữa chính phủ các nƣớc là thúc đẩy thƣơng mại, khuyến khích xuất khẩu và nhập khẩu vì lợi ích của tất cả các bên. Có nhiều lý thuyết cũng nhƣ định nghĩa khác nhau về khái niệm “xuất khẩu”. Tại Việt Nam, theo Luật thương mại Việt Nam ban hành ngày 14/06/2005 có nêu định nghĩa về hoạt động xuất khẩu nhƣ sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá đƣợc đƣa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đƣa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” (khoản 1 Điều 28 Luật thƣơng mại 2005). Nhƣ vậy, xuất khẩu là hoạt động trao đổi xuyên biên giới, tức là đƣa hàng hóa ra khỏi phạm vi biên giới của một quốc gia.
Theo Từ điển kinh tế học (Nguyễn Văn Ngọc, 2012, trang 605), xuất khẩu hữu hình nghĩa là xuất khẩu hàng hóa, bao gồm cả nguyên liệu và thành phẩm, đƣợc ghi chép và tổng hợp khi chúng vƣợt qua biên giới của một nƣớc. Một khái niệm khác về xuất khẩu đƣợc đƣa ra trong Giáo trình Thương mại quốc tế của Feenstra và Taylor (2010) cho rằng: “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm đƣợc bán từ nƣớc này sang nƣớc khác”. Trong cuốn sách International Economics: Theory and Policy của tác giả Paul Krugman và Maurice Obstfeld, “xuất khẩu hàng hóa là quá trình bán ra nƣớc ngoài các hàng hóa và sản phẩm mà một quốc gia sản xuất, nhằm tạo ra thu nhập từ thị trƣờng quốc tế và tăng cƣờng phát triển kinh tế của quốc gia xuất khẩu”.
Nhƣ vậy, xuất khẩu là hoạt động trao đổi qua biên giới trên cơ sở dùng tiền làm phƣơng tiện thanh toán hoặc trao đổi lấy hàng hóa khác có giá trị tƣơng đƣơng. Tóm lại, có nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu nhƣng nhìn theo góc độ kinh doanh thì xuất khẩu hàng hóa nói một cách đơn giản nhất là việc bán một sản 10 phẩm ra thị trƣờng nƣớc ngoài nhằm thu đƣợc lợi nhuận. Cụ thể, khi sản xuất hàng hóa phát triển thì hoạt động trao đổi hàng hóa sẽ mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới một quốc gia và quá trình đó mang lại lợi ích cho các quốc gia liên quan. Vai trò của xuất khẩu Xuất khẩu là một trong những hoạt động kinh tế quan trọng trong quan hệ kinh tế đối ngoại, là động lực thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Vai trò của xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế đƣợc thể hiện trên những mặt sau: 2. Đối với quốc gia Thứ nhất, xuất khẩu là động lực để phát triển kinh tế. Trong kinh tế học, tổng sản phẩm quốc nội GDP (Gross Domestic Product) là một chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ. GDP phụ thuộc rất lớn vào hoạt động thƣơng mại quốc tế của quốc gia đó.
GDP của một quốc gia đƣợc tính theo công thức: GDP = C + I + G + NX Trong đó: C – Consumption bao gồm những khoản chi cho tiêu dùng cá nhân. I – Investment là tổng đầu tƣ ở trong nƣớc của tƣ nhân. G – Government purchases bao gồm các khoản cho chi tiêu của chính phủ. NX – Net exports bằng giá trị xuất khẩu trừ giá trị nhập khẩu.
Nhƣ vậy, nếu giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu thì quốc gia đó có thặng dƣ thƣơng mại, điều này sẽ tác động tích cực đến chỉ số GDP, giúp nền kinh tế tăng trƣởng và phát triển hơn. Thứ hai, xuất khẩu đóng vai trò then chốt tạo điều kiện để quốc gia khai thác lợi thế, phát triển có hiệu quả nền kinh tế trong nước. Đối với những quốc gia có trình độ phát triển kinh tế còn thấp nhƣ Việt Nam thì xuất khẩu là giải pháp mở cửa nền kinh tế nhằm tận dụng nguồn vốn và kỹ thuật của nƣớc ngoài, kết hợp với tiềm năng trong nƣớc về tài nguyên thiên nhiên và lao động để tạo sự tăng trƣởng mạnh cho nền kinh tế, góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch với các quốc gia đã phát triển. Thứ ba, xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế mỗi quốc gia và phát triển sản xuất theo hướng tích cực.
11 Hiện nay các quốc gia trên thế giới đều chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa. Hoạt động xuất khẩu tác động lên nền kinh tế trên toàn bộ quá trình sản xuất hàng hóa, lƣu thông, phân phối cho tới tiêu dùng. Sự tác động này cùng với yêu cầu về chất lƣợng sản phẩm và cạnh tranh quốc tế sẽ góp phần thúc đẩy quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa diễn ra nhanh hơn. Thứ tư, xuất khẩu giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập và mức sống thực tế của người dân.
Xuất khẩu tăng trƣởng thƣờng kéo theo sự gia tăng sản xuất trong nƣớc. Khi sản xuất tăng dẫn đến nhu cầu lao động tăng, điều này sẽ giải quyết công ăn việc làm cho phần lớn lao động phổ thông. Ngƣời lao động có việc làm sẽ có mức thu nhập ổn định, từ đó mức sống của họ đƣợc cải thiện, góp phần ổn định an sinh xã hội. Thứ năm, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta.
Xuất khẩu nói riêng và thƣơng mại quốc tế nói chung là bộ phận rất quan trọng của kinh tế đối ngoại. Do đó khi hoạt động xuất khẩu phát triển sẽ kéo theo các bộ phận khác của nền kinh tế đối ngoại phát triển nhƣ dịch vụ, đầu tƣ, hợp tác, liên doanh, quan hệ tín dụng, mở rộng vận tải quốc tế. Mặt khác chúng có tác động qua lại lẫn nhau, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại này lại tạo điều kiện tăng cƣờng xuất khẩu. Do đó, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu có vai trò tăng cƣờng hợp tác song phƣơng và đa phƣơng giữa các quốc gia, đồng thời nâng cao địa vị của nƣớc ta trên trƣờng quốc tế, góp phần vào sự ổn định kinh tế và chính trị của đất nƣớc.
Đối với doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp, xuất khẩu là hoạt động quan trọng giúp cho doanh nghiệp phát triển, là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp ngoại thƣơng. Thứ nhất, xuất khẩu tạo cơ hội cho doanh nghiệp mở rộng quy mô thị trường. Xuất khẩu là hình thức thâm nhập thị trƣờng nƣớc ngoài ít rủi ro và chi phí thấp. Khi quan hệ thƣơng mại song phƣơng giữa hai quốc gia đƣợc thiết lập, doanh nghiệp tận dụng đƣợc những ƣu đãi (thông qua các tổ chức chung, các hiệp định thƣơng mại tự do,.), hoạt động thƣơng mại tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xâm nhập vào các thị trƣờng mới với quy mô rộng lớn hơn.
Ngoài ra, nhờ quy mô thị 12 trƣờng đƣợc mở rộng, số lƣợng ngƣời tiêu dùng không chỉ ở trong nƣớc mà còn xuất hiện thêm ngƣời tiêu dùng nƣớc ngoài dẫn đến sức mua đối với hàng hóa cao hơn. Từ đó giúp gia tăng doanh số bán hàng, gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thứ hai, xuất khẩu giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Khi tham gia vào thị trƣờng quốc tế, doanh nghiệp buộc phải nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua nâng cao chất lƣợng sản phẩm để phù hợp với các quy chuẩn và tiêu chuẩn nhập khẩu từ các thị trƣờng khó tính cũng nhƣ cạnh tranh đƣợc với các doanh nghiệp nƣớc ngoài.
Thứ ba, doanh nghiệp khẳng định được vị thế và uy tín của mình. Thị trƣờng quốc tế là một thị trƣờng rộng lớn, nó chứa đựng nhiều cơ hội cũng nhƣ rủi ro. Những doanh nghiệp nếu xuất khẩu thành công có thể khẳng định thế lực, uy tín của doanh nghiệp cả ở trong nƣớc và nƣớc ngoài. Bên cạnh đó, thông qua các hợp đồng làm ăn kinh tế, các mối quan hệ của doanh nghiệp ngày càng đƣợc mở rộng và nâng cao.
Đối với người tiêu dùng Thứ nhất, xuất khẩu giúp hàng hóa trở nên đa dạng hơn. Hoạt động xuất khẩu giúp ngƣời tiêu dùng tại quốc gia nhập khẩu có cơ hội tiếp cận với nhiều chủng loại hàng hóa đến từ nhiều thƣơng hiệu và quốc gia trên thế giới, làm đa dạng hóa lựa chọn từ xuất xứ, mẫu mã, giá cả, công dụng đến chất lƣợng. Thứ hai, chất lượng hàng hóa được nâng cao và giá cả cạnh tranh hơn. Do có sự cạnh tranh hàng hóa giữa các doanh nghiệp trong nƣớc và nƣớc ngoài nên các doanh nghiệp tích cực nâng cao chất lƣợng sản phẩm và giảm giá thành để thu hút sự chú ý của khách hàng.
Khi đó, ngƣời đƣợc lợi từ quá trình này chính là ngƣời tiêu dùng khi họ ngày càng đƣợc sử dụng những hàng hóa có chất lƣợng tốt hơn với giá thành hợp lý hơn. Các hình thức xuất khẩu cơ bản 2. Xuất khẩu trực tiếp Khái niệm: Xuất khẩu trực tiếp là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà sản xuất, các công ty xí nghiệp và các nhà xuất khẩu trực tiếp ký kết hợp đồng mua bán trao đổi hàng hóa với các đối tác nƣớc ngoài. Trong xuất khẩu gián tiếp, doanh nghiệp kinh doanh trực tiếp ký kết hợp đồng ngoại thƣơng.
13 Ưu điểm: Xuất khẩu trực tiếp giúp doanh nghiệp chủ động trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu của mình.