phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc sắp xếp và thể hiện trong ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt đông đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng hoạt động đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp của tỉnh Ninh Bình. 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Chƣơng 1, tác giả trình bày tổng quan về hoạt động đổi mới công nghệ; Kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy hoạt động ĐMCN tại các doanh nghiệp; Một số chính sách thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp.
Hoạt động đổi mới công nghệ 1. Khái niệm công nghệ và đổi mới công nghệ 1.Khái niệm công nghệ Luật khoa học và công nghệ của Việt Nam, quan niệm: “Công nghệ là tập hợp các phƣơng pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Các tổ chức quốc tế về khoa học, công nghệ đã có nhiều cố gắng trong việc đƣa ra một định nghĩa công nghệ có thể dung hoà các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhập của các quốc gia trong từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Có bốn khía cạnh cần bao quát trong định nghĩa công nghệ đó là: – Khía cạnh “công nghệ là máy biến đổi” – Khía cạnh “công nghệ là một công cụ” – Khía cạnh “công nghệ là kiến thức” – Khía cạnh “công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó”.
Khía cạnh thứ nhất đề cập đến khả năng làm ra đồ vật, đồng thời công nghệ phải đáp ứng mục tiêu khi sử dụng và thoả mãn yêu cầu về mặt kinh tế nếu nó muốn đƣợc áp dụng trên thực tế. Khía cạnh thứ hai nhấn mạnh rằng công nghệ là một sản phẩm của con ngƣời, do đó con ngƣời có thể làm chủ đƣợc nó vì nó hoàn toàn không phải là “cái hộp đen” huyền bí đối với các nƣớc đang phát triển. Vì là một công cụ nên công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ đối với con ngƣời và cơ cấu tổ chức. 14 Khía cạnh kiến thức của công nghệ đề cập đến cốt lõi của mọi hoạt động công nghệ là kiến thức.
Nó bác bỏ quan niệm công nghệ phải là các vật thể, phải nhìn thấy đƣợc. Đặc trƣng kiến thức khẳng định vai trò dẫn đƣờng của khoa học đối với công nghệ, đồng thời nhấn mạnh rằng không phải ở các quốc gia có các công nghệ giống nhau sẽ đạt đƣợc kết quả nhƣ nhau. Việc sử dụng một công nghệ đòi hỏi con ngƣời cần phải đƣợc đào tạo về kỹ năng, trang bị kiến thức và phải luôn cập nhật những kiến thức đó. Khía cạnh thứ tƣ đề cập đến vấn đề: công nghệ dù là kiến thức song vẫn có thể đƣợc mua, đƣợc bán.
Đó là do công nghệ hàm chứa trong các vật thể tạo nên nó. Trung tâm chuyển giao công nghệ khu vực Châu Á và Thái Bình Dƣơng (The Asian and Pacific Centre for Transfer of Technology – APCTT) coi công nghệ hàm chứa trong bốn thành phần; kỹ thuật, kỹ năng con ngƣời, thông tin và tổ chức. Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, mà khái niệm công nghệ đuợc mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội. Những lĩnh vực công nghệ mới mẻ dần trở thành quen thuộc công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng… 1.
Khái niệm đổi mới công nghệ Đổi mới công nghệ là việc thay thế một phần chính hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiến tiến hơn, hiệu quả hơn. Đổi mới công nghệ có thể nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ thị trường. Đổi mới công nghệ có thể là đưa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới chưa có trên thị trường công nghệ hoặc là thay đổi cơ bản công nghệ hiện có. Đổi mới công nghệ nhằm mục đích phục vụ tốt hơn các nhu cầu của xã hội, bao gồm nhu cầu về kinh tế và nhu cầu ổn định xã hội.
Nền kinh tế thị trƣờng, thƣờng chạy theo nhu cầu lợi ích kinh tế một cách thuần túy. Nhƣng nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, thì ngoài nhu cầu lợi ích về kinh tế còn hƣớng mục tiêu cao cả hơn, đó là vì sự phát triển toàn diện của xã hội. Bởi vậy khi xét hiệu quả của đổi mới công nghệ, ta phải tính tới các yếu tố nhƣ vừa phân tích. Đổi mới công nghệ đƣợc coi là thành công nếu nó mang lại hiệu quả kinh tế 15 cho ngƣời chủ sở hữu nói riêng và cho xã hội nói chung.
Khi đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, ta phải đánh giá qua so sánh giá trị gia tăng của doanh nghiệp trƣớc và sau khi đổi mới công nghệ. Các chi phí cho đổi mới công nghệ thể hiện các chi phí đầu tƣ cho bốn thành phần của công nghệ: (1) chi phí để đổi mới phần kỹ thuật; (2) đào tạo nhân lực cho kỹ thuật mới; (3) chi phí cho thông tin, tƣ vấn, bí quyết công nghệ; (4) chi phí đổi mới sắp xếp lại bộ máy quản lý cho phù hợp với yêu cầu của công nghệ mới. Tiêu chí để đánh giá về hiệu quả đổi mới công nghệ: - Đánh giá khả năng nâng cao năng suất, chất lƣợng của sản phẩm do công nghệ mang lại. - Khả năng đáp ứng nhu cầu thị trƣờng của sản phẩm do công nghệ tạo ra.
- Nâng cao năng lực quản lý vận hành, thông qua việc đổi mới sắp xếp tổ chức bộ máy sản xuất tại doanh nghiệp. - Tăng cƣờng sự tác động của nhà nƣớc đến quá trình đổi mới công nghệ theo hƣớng hoàn thiện hệ thống pháp luật, chủ trƣơng chính sách để doanh nghiệp thuận lợi trong đối mới công nghệ. Tóm lại tiêu chí để đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ dựa vào 4 yếu tố tổng quát đó là (Technologi, Humen, Information, Orgranation). Đầu tư đổi mới công nghệ Nhằm thay đổi, cải tiến công nghệ đã có (trong nƣớc, nƣớc ngoài), góp phần cải thiện chất lƣợng sản phẩm, hạ giá thành, tăng năng suất, chất lƣợng và hiệu quả sản xuất kinh doanh, đầu tƣ đổi mới công nghệ có thể bao gồm nhiều hoạt động khác nhau nhƣ: đầu tƣ cho hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến sản phẩm có chất lƣợng, mẫu mã tốt hơn, có sức hấp dẫn hơn và có khả năng cạnh tranh mạnh mẽ hơn; đầu tƣ cho hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến/đổi mới quy trình công nghệ sao cho đạt chi phí thấp hơn, năng suất và hiệu quả cao hơn; đầu tƣ cho việc nhập khẩu công nghệ mới, nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ sản phẩm hoặc công nghệ quy trình sản xuất nhập ngoại cho phù hợp với điều kiện trong nƣớc.
Lịch sử tiến bộ của xã hội loài ngƣời diễn ra chủ yếu nhờ thay đổi công cụ và 16 phƣơng pháp sản xuất. Sự thay đổi đó là sự thay đổi công nghệ. Sự thay đổi có tiến bộ công nghệ là đổi mới công nghệ. Vậy đổi mới công nghệ là gì? Đó chính là cấp cao nhất của thay đổi công nghệ và là quá trình quan trọng nhất của sự phát triển đối với tất cả các hệ thống công nghệ.
Có quan điểm cho rằng đổi mới công nghệ là sự hoàn thiện và phát triển không ngừng các thành phần cấu thành công nghệ dựa trên các thành tựu khoa học nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế – xã hội. Với quan điểm này một sự thay đổi trong các thành phần công nghệ dù nhỏ cũng đƣợc coi là đổi mới công nghệ, thực ra đây chỉ là cải tiến công nghệ. Mặt khác hệ thống công nghệ mà con ngƣời đang sử dụng có tính phức tạp và đa dạng cao, chỉ một loại sản phẩm đã có thể dùng rất nhiều loại công nghệ khác nhau, do đó nếu xếp tất cả các thay đổi nhỏ về công nghệ thuộc về đổi mới công nghệ thì việc quản lý đổi mới công nghệ là việc làm không có tính khả thi. Do đó khái niệm đổi mới công nghệ đƣợc hiểu nhƣ sau: Đổi mới công nghệ là việc thay thế phần quan trọng (cơ bản, cốt lõi) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn.
Đổi mới công nghệ có thể chỉ nhằm giải quyết các bài toán tối ƣu các thông số sản xuất nhƣ năng suất, chất lƣợng, hiệu quả… (đổi mới công nghệ quá trình) hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ thị trƣờng (đổi mới công nghệ sản phẩm). Đổi mới công nghệ có thể là đƣa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới (ví dụ: sáng chế công nghệ mới) chƣa có trên thị trƣờng công nghệ hoặc là mới ở nơi sử dụng nó lần đầu và trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới (ví dụ: đổi mới công nghệ nhờ chuyển giao công nghệ). Đổi mới công nghệ là tất yếu Mỗi công nghệ có một vòng đời và tạo ra một chu kỳ sản phẩm. Đổi mới công nghệ là tất yếu và phù hợp với quy luật phát triển.
Tính tất yếu của đổi mới công nghệ còn do các lợi ích khác nhau cho doanh nghiệp đổi mới cũng cho toàn xã hội nói chung. Các lợi ích đó là: (1) Nâng cao chất lƣợng sản phẩm; (2) Duy trì và tăng thị phần; (3) Mở rộng phẩm cấp sản phẩm, tạo thêm chủng loại mới của sản phẩm; (4) Đáp ứng đƣợc các quy định, tiêu chuẩn, luật lệ; (5) Giảm tiêu hao nguyên vật liệu, năng lƣợng; (6) Cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao độ an toàn sản xuất; (7) Giảm tác động xấu đối với môi trƣờng sống. Đổi 17 mới công nghệ xẩy ra theo hai cơ chế: đổi mới bằng thay thế và đổi mới bằng truyền bá. Đổi mới bằng thay thế.
Khi một công nghệ mới đƣợc nghiên cứu thành công và đƣợc phép triển khai áp dụng thì sản phẩm của nó sẽ dần dần chiếm thị phần của sản phẩm của các công nghệ cũ. Đổi mới bằng truyền bá. Sau khi một công nghệ đƣợc áp dụng lần đầu ở đâu đấy thì sự áp dụng dần dần lan truyền sang những nơi khác tức là công nghệ đƣợc truyền bá từ nơi này sang nơi khác.