Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đổi mới công nghệ đóng vai trò là động lực then chốt quyết định năng suất, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tại tỉnh Ninh Bình, tính đến ngày 31/12/2016, toàn tỉnh có 3.244 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó có gần 1.000 doanh nghiệp (chiếm tỷ lệ khoảng 30%) có sử dụng công nghệ trong quy trình sản xuất kinh doanh. Mặc dù đóng góp của khu vực công nghiệp đã giúp nguồn thu ngân sách của tỉnh bứt phá ngoạn mục từ mức 100 tỷ đồng lên trên 3.000 tỷ đồng, đa số các đơn vị sản xuất vẫn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vận hành hệ thống máy móc thuộc thế hệ cũ, tiêu hao nhiều năng lượng và tài nguyên khoáng sản.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ thực trạng hoạt động đổi mới công nghệ và đánh giá hiệu quả của hệ thống chính sách hỗ trợ trên địa bàn tỉnh. Mục tiêu cụ thể là nhận diện các rào cản nội tại của doanh nghiệp, phân tích bất cập trong quản lý nhà nước, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ tại địa phương. Phạm vi không gian nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Ninh Bình thông qua khảo sát thực chứng 50 doanh nghiệp tiêu biểu, với khung thời gian dữ liệu kéo dài từ năm 2012 đến năm 2017. Đề tài mang ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 11,7%/năm, tạo nền tảng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững và gia tăng năng lực cạnh tranh công nghiệp giai đoạn 2018-2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết cốt lõi trong quản lý khoa học và công nghệ. Thứ nhất là mô hình bốn thành phần công nghệ của Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Châu Á và Thái Bình Dương (APCTT), bao gồm: Phần kỹ thuật - thiết bị (Technoware), phần con người - kỹ năng (Humanware), phần thông tin - dữ liệu (Inforware) và phần tổ chức - thể chế quản lý (Orgaware). Theo mô hình này, đổi mới công nghệ không chỉ đơn thuần là mua sắm máy móc mới mà phải là quá trình nâng cấp đồng bộ cả bốn yếu tố cấu thành để tối ưu hóa hiệu quả vận hành.

Thứ hai là khung logic hoạch định và thực thi chính sách công (Logical Framework Approach) của Ngân hàng Thế giới, bao gồm 5 cấp độ liên kết chặt chẽ: Đầu vào (nguồn vốn, nhân lực), Hoạt động (ban hành cơ chế, hỗ trợ trực tiếp), Đầu ra (các văn bản pháp lý, gói ưu đãi thuế 10% đến 20%), Kết quả (số lượng doanh nghiệp đổi mới công nghệ tăng) và Tác động dài hạn (nâng cao năng lực cạnh tranh địa phương). Khung lý thuyết này kết hợp với các quan điểm hiện đại của Peter Drucker và Freeman, làm rõ 4 khái niệm trọng tâm: công nghệ, đổi mới công nghệ sản phẩm, đổi mới công nghệ quy trình và chính sách công thúc đẩy đổi mới công nghệ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tổng kết giai đoạn 2012-2017 của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Ninh Bình, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Niên giám thống kê và hồ sơ quản lý của 34 dự án đầu tư vào các khu công nghiệp. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi chuẩn hóa.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 50 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện, hướng trực tiếp đến nhóm cán bộ lãnh đạo và quản lý kỹ thuật như giám đốc kỹ thuật, trưởng phòng công nghệ, quản đốc phân xưởng. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp tổng hợp, so sánh đối chiếu là nhằm lượng hóa chính xác tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chỉ rõ mức độ thiếu hụt nguồn lực và đánh giá sự tương thích của các chính sách hỗ trợ công nghệ trong giai đoạn khảo sát 2012-2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực nghiệm và phân tích dữ liệu cho thấy 4 phát hiện quan trọng về hoạt động đổi mới công nghệ tại Ninh Bình:

Thứ nhất, tỷ lệ doanh nghiệp chủ động đổi mới công nghệ còn ở mức rất thấp. Trong tổng số 50 doanh nghiệp được khảo sát, chỉ có 12 doanh nghiệp (chiếm 24%) đã tiến hành các hoạt động đổi mới công nghệ trong giai đoạn 5 năm. Trong số 12 đơn vị này, có 9 doanh nghiệp (chiếm 18%) lựa chọn hình thức tự nghiên cứu và cải tiến nội bộ, trong khi chỉ có 3 doanh nghiệp (chiếm 6%) thực hiện mua bản quyền hoặc quy trình công nghệ mới. Có tới 38 doanh nghiệp (chiếm 76%) hoàn toàn chưa thực hiện hoạt động đổi mới công nghệ nào.

Thứ hai, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giữ vai trò chủ đạo nhưng cơ cấu phân bổ ngành nghề có sự mất cân đối nghiêm trọng. Lũy kế đến hết năm 2016, toàn tỉnh thu hút 42 dự án FDI đổi mới công nghệ với tổng vốn đăng ký đạt 1.033,32 triệu USD. Tuy nhiên, lĩnh vực công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng áp đảo với 33 dự án và 984,84 triệu USD (chiếm 95,31% tổng vốn), trong khi ngành nông - lâm - thủy sản chỉ có 5 dự án với 11,07 triệu USD (chiếm 1,07%) và dịch vụ chỉ có 4 dự án với 37,41 triệu USD (chiếm 3,62%). Xét theo đối tác, Đài Loan dẫn đầu với 460,68 triệu USD (chiếm 44,56% tổng vốn), tiêu biểu là dự án xi măng công suất 3,6 triệu tấn/năm trị giá 360 triệu USD; Hàn Quốc dẫn đầu về số lượng với 12 dự án.

Thứ ba, rào cản tài chính và chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) là điểm nghẽn lớn nhất. 100% doanh nghiệp tham gia khảo sát (50/50 doanh nghiệp) đều xác nhận thiếu nguồn lực tài chính là trở ngại hàng đầu. Mức chi cho hoạt động R&D của các doanh nghiệp chỉ đạt bình quân khoảng 1,6% doanh thu, thấp hơn đáng kể so với mức 2,6% của Malaysia và 3,6% của Philippines.

Thứ tư, hoạt động chuyển giao công nghệ còn manh mún. Việc mua sắm trang thiết bị chủ yếu thực hiện qua hợp đồng thương mại thông thường, thiếu vắng các hợp đồng chuyển giao công nghệ bài bản; công nghệ nhập khẩu thế hệ cũ từ thị trường Trung Quốc vẫn chiếm tỷ lệ lớn tại các khu công nghiệp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng năng lực công nghệ hạn chế tại Ninh Bình phản ánh bức tranh chung của cả nước, nơi mà 52% thiết bị đang sử dụng trong khu vực tư nhân thuộc nhóm lạc hậu và rất lạc hậu, chỉ 10% đạt mức hiện đại. Việc chỉ có 23% doanh nghiệp Việt Nam giới thiệu được sản phẩm hoặc dịch vụ mới trong vòng 3 năm gần đây bắt nguồn từ nguyên nhân doanh nghiệp thiếu thông tin thị trường, thiếu đội ngũ chuyên gia thẩm định độc lập tại chỗ và quy trình tiếp cận các quỹ ưu đãi còn phức tạp.

Để trực quan hóa các phát hiện này trong các báo cáo phân tích, dữ liệu có thể được trình bày thông qua biểu đồ tròn thể hiện phân bổ phương thức đổi mới công nghệ (76% chưa đổi mới, 18% tự nghiên cứu, 6% mua quy trình) và bảng tổng hợp cơ cấu vốn FDI đa chiều theo ngành kinh tế (95,31% công nghiệp, 3,62% dịch vụ, 1,07% nông nghiệp). Sự bất cân xứng này chỉ ra rằng công tác quản lý nhà nước tại địa phương cần chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy tiền kiểm cấp phép sang hỗ trợ kiến tạo hệ sinh thái trung gian.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu và bài học kinh nghiệm từ các tỉnh lân cận như Bắc Ninh và Nam Định, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ tại Ninh Bình:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế quản lý và nâng cao hiệu lực thẩm định công nghệ. Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình và Sở Khoa học và Công nghệ cần rà soát, sửa đổi các Quyết định số 3264/2004/QĐ-UBND và 3265/2004/QĐ-UBND; thiết lập quy trình thẩm định công nghệ liên thông bắt buộc đối với 100% dự án đầu tư vào các khu công nghiệp trong giai đoạn 2018-2020 nhằm ngăn chặn triệt để tình trạng nhập khẩu dây chuyền công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường.

Thứ hai, thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính và ưu đãi tín dụng chuyên biệt. Ban hành chính sách hỗ trợ kinh phí trực tiếp tối đa 30% cho các dự án nghiên cứu tạo ra công nghệ mới theo tinh thần Nghị định 119/1999/NĐ-CP. Đồng thời, phối hợp với Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước để triển khai các gói vay tín dụng trung và dài hạn với mức đáp ứng vốn lên đến 70% tổng mức đầu tư cho các dự án đổi mới công nghệ trọng điểm, phấn đấu đưa tốc độ đổi mới máy móc thiết bị toàn tỉnh đạt 20%/năm đến năm 2022.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực và năng lực quản trị công nghệ nội sinh. Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với các viện nghiên cứu và trường đại học tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về vận hành, giải mã công nghệ cho tối thiểu 500 lượt cán bộ quản lý và kỹ sư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh đến năm 2022.

Thứ tư, xây dựng và phát triển thị trường khoa học công nghệ địa phương. Sở Công Thương cùng Sở Khoa học và Công nghệ đẩy mạnh phát triển sàn giao dịch công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các kỳ Techmart định kỳ với quy mô từ 15 đến 20 gian hàng mỗi năm, đồng thời thành lập tổ chức tư vấn giám định công nghệ độc lập tại tỉnh trước năm 2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Ninh Bình, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh có thể sử dụng các số liệu và phân tích thể chế trong luận văn làm căn cứ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện quy trình thẩm tra dự án đầu tư và triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới thiết bị.

  2. Lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp: Giám đốc kỹ thuật, chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa phương có thể áp dụng mô hình 4 thành phần công nghệ để đánh giá điểm nghẽn nội bộ, từ đó xây dựng kế hoạch chuyển giao công nghệ bài bản và tận dụng tối đa các chính sách ưu đãi thuế, tín dụng của Nhà nước.

  3. Giảng viên và học viên chuyên ngành Quản lý KH&CN: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu về chính sách công, quản trị đổi mới sáng tạo cấp địa phương với bộ dữ liệu khảo sát thực chứng chi tiết từ 50 doanh nghiệp và 42 dự án FDI.

  4. Các tổ chức tín dụng và quỹ đầu tư phát triển: Nắm bắt nhu cầu vốn và cơ cấu đầu tư công nghệ của cộng đồng doanh nghiệp địa phương để thiết kế các sản phẩm cho vay tín dụng ưu đãi, cho thuê tài chính phù hợp với từng nhóm ngành sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thực trạng năng lực công nghệ của các doanh nghiệp tại tỉnh Ninh Bình hiện nay ra sao? Toàn tỉnh có khoảng 1.000 doanh nghiệp sử dụng công nghệ (chiếm 30% tổng số doanh nghiệp). Khảo sát thực tế trên 50 đơn vị cho thấy có tới 76% doanh nghiệp chưa thực hiện đổi mới công nghệ trong 5 năm gần đây, máy móc thiết bị chủ yếu thuộc thế hệ cũ, tiêu hao nhiều năng lượng và hiệu quả cạnh tranh chưa cao.

  2. Rào cản lớn nhất khiến doanh nghiệp Ninh Bình khó đổi mới công nghệ là gì? Khó khăn lớn nhất là sự thiếu hụt nguồn lực tài chính khi 100% doanh nghiệp khảo sát đều xác nhận điểm nghẽn này. Mức chi cho nghiên cứu và phát triển chỉ đạt khoảng 1,6% doanh thu, cộng thêm việc thiếu hụt thông tin công nghệ và kiến thức về hợp đồng chuyển giao pháp lý khiến doanh nghiệp ngại đầu tư đổi mới.

  3. Dòng vốn FDI đóng góp như thế nào vào hoạt động đổi mới công nghệ tại tỉnh? Tính đến hết năm 2016, Ninh Bình thu hút được 42 dự án FDI đổi mới công nghệ với tổng vốn 1.033,32 triệu USD. Nguồn vốn này tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp - xây dựng (chiếm 95,31% tổng vốn), trong đó nhà đầu tư Đài Loan chiếm tỷ trọng lớn nhất với 44,56% tổng vốn đăng ký.

  4. Doanh nghiệp đổi mới công nghệ được hưởng những ưu đãi chính sách nào từ Nhà nước? Doanh nghiệp có thể được hưởng thuế suất thu nhập doanh nghiệp ưu đãi từ 10% đến 20% trong thời hạn 10 đến 15 năm, được hỗ trợ tối đa 30% kinh phí cho các đề tài nghiên cứu công nghệ mới theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP và được vay vốn ưu đãi lên đến 70% tổng mức đầu tư từ các quỹ phát triển khoa học công nghệ.

  5. Ninh Bình có thể học hỏi kinh nghiệm gì từ các tỉnh lân cận như Bắc Ninh và Nam Định? Tỉnh cần học tập Nam Định trong việc hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và xác lập quyền sở hữu công nghiệp; đồng thời vận dụng mô hình của Bắc Ninh trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu công nghệ, phát triển sàn giao dịch và ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu thông qua 5 đóng góp cốt lõi:

  • Hệ thống hóa khung lý luận về quản lý và chính sách thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp dựa trên mô hình 4 thành phần công nghệ và khung logic chính sách công.
  • Phân tích toàn diện thực trạng công nghệ của 3.244 doanh nghiệp tại Ninh Bình, chỉ rõ thực tế 76% doanh nghiệp được khảo sát chưa từng đổi mới công nghệ.
  • Đánh giá chi tiết tác động của 42 dự án FDI (tổng vốn 1.033,32 triệu USD) và làm rõ sự mất cân đối khi lĩnh vực công nghiệp chiếm tới 95,31% vốn đầu tư.
  • Xác định chính xác các điểm nghẽn cốt tử về nguồn vốn, chi phí R&D thấp (1,6% doanh thu) và năng lực thẩm định công nghệ tại địa phương.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ và có tính khả thi cao nhằm hoàn thiện thể chế, nguồn vốn tín dụng và thị trường công nghệ đến năm 2022.

Về lộ trình thực hiện tiếp theo, trong giai đoạn 2018-2020, tỉnh cần tập trung hoàn thiện khung pháp lý thẩm định công nghệ và thành lập các quỹ hỗ trợ; giai đoạn 2020-2022 đẩy mạnh liên kết đào tạo nhân lực và phát triển sàn giao dịch công nghệ. Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp tỉnh Ninh Bình cần nhanh chóng phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp này nhằm tạo bước đột phá trong năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế - xã hội bền vững.