phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc kết cấu làm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chƣơng 4: Hàm ý chính sách và hƣớng nghiên cứu tiếp theo 13 CHƢƠNG 1.1 Giới thiệu Từ tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến hƣớng nghiên cứu của đề tài, qua đó luận văn sẽ chỉ ra các khe hổng nghiên cứu và định hƣớng nghiên cứu của đề tài. Chƣơng này sẽ giới thiệu một số khái niệm cơ bản nhƣ: PMKT đám mây, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiệu quả kinh doanh để ngƣời đọc có thể hình dung rõ ràng hơn về các vấn đề đƣợc trình bày trong đề tài. Đồng thời, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết nền làm cơ sở hình thành mô hình nghiên cứu của đề tài bao gồm: Lý thuyết dựa trên nguồn lực (Resource-based View Of The Firm) của Jay Barney và Edith Penrose, và Mô hình sự thành công hệ thống thông tin của DeLone & McLean (DeLone & McLean Information Systems Success Model).2 Tổng quan về phần mềm kế toán đám mây 1. Khái niệm về phần mềm kế toán đám mây Trƣớc khi tìm hiểu khái niệm PMKT đám mây, chúng ta sẽ xem xét khái niệm điện toán đám mây vì PMKT đám mây là một dạng của điện toán đám mây.
Không có một định nghĩa nào thống nhất về điện toán đám mây cho đến nay, vì nó là một phép ẩn dụ cho internet. Trong điện toán đám mây, tất cả các tài nguyên đƣợc sắp xếp cùng nhau trong trung tâm lƣu trữ đám mây, nơi mà ngƣời dùng có thể sử dụng tài nguyên và sức mạnh tính toán không giới hạn miễn là họ sử dụng các thiết bị có kết nối Internet. Điện toán đám mây cho phép ngƣời dùng đáp ứng nhu cầu của hệ thống thông tin thông qua việc mua dịch vụ thay vì mua thiết bị. Điện toán đám mây thực hiện việc chia sẻ tài nguyên phần cứng và phần mềm và đáp ứng đáng kể nhu cầu về sức mạnh tính toán của cá nhân và doanh nghiệp.
Ping và Xuefeng (2011) là những ngƣời đầu tiên đƣa ra khái niệm về kế 14 toán đám mây. Theo các tác giả, kế toán đám mây là việc sử dụng điện toán đám mây trên Internet để xây dựng một hệ thống thông tin kế toán ảo, hiểu một cách đơn giản hơn thì điện toán đám mây cộng với kế toán tƣơng đƣơng với kế toán đám mây. Doanh nghiệp có thể truy cập thông tin và dịch vụ kế toán thông qua kế toán đám mây và không phải tốn nhiều chi phí tài chính và nhân lực để mua và cài đặt PMKT. Trong bối cảnh kinh tế cạnh tranh nhƣ hiện nay, các công ty đang phải đối mặt với việc thu thập và xử lý khối lƣợng lớn dữ liệu tài chính dẫn đến nhu cầu cần có các hệ thống hiệu quả hơn với khả năng hỗ trợ các hoạt động này để đạt đƣợc kết quả chính xác.
Để tìm ra giải pháp cho vấn đề này, các công ty thƣờng tìm cách tối ƣu hóa các khoản đầu tƣ và chi phí, đồng thời do xu hƣớng công nghệ thực tế, mô hình điện toán đám mây đang đƣợc xem xét. Các công ty dịch vụ kế toán đang chuyển sang sử dụng đám mây để thay đổi cách thức cung cấp dịch vụ kế toán cho khách hàng của họ. Do đó, khái niệm về Kế toán đám mây đã xuất hiện. Kế toán đám mây có nghĩa là một hệ thống thông tin kế toán có thể đƣợc truy cập bất cứ lúc nào và từ bất kỳ đâu có kết nối Internet mà không cần cài đặt và quản lý trƣớc trên các máy chủ nội bộ (Prawita, 2019).
Trong thông tƣ 103/2005 của Bộ Tài chính ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2005 về hƣớng dẫn tiêu chuẩn và điều kiện của PMKT đã định nghĩa: “Phần mềm kế toán là bộ chương trình dùng để tự động xử lý các thông tin kế toán trên máy vi tính, bắt đầu từ khâu nhập chứng từ gốc, phân loại chứng từ, xử lý thông tin trên các chứng từ theo quy trình của chế độ kế toán đến khâu in ra sổ kế toán và báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị”. Nhƣ vậy, kết hợp định nghĩa của Ping và Xuefeng (2011), Prawita (2019) về kế toán đám mây và định nghĩa của Bộ Tài chính về PMKT có thể đƣa ra khái niệm vê PMKT đám mây nhƣ sau: PMKT đám mây là bộ chƣơng trình ảo trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây, không cần cài đặt trƣớc, 15 có thể truy cập bất cứ lúc nào và từ bất kỳ đâu có kết nối Internet, dùng để tự động xử lý các thông tin kế toán theo quy trình của chế độ kế toán và cho ra các báo cáo theo quy định của luật pháp và yêu cầu của doanh nghiệp. Phân loại đám mây Theo Khanom (2017), có bốn loại mô hình triển khai của công nghệ đám mây, bao gồm: - Đám mây riêng: Cơ sở hạ tầng đám mây chỉ đƣợc quản lý và vận hành cho một tổ chức để có thể duy trì mức độ kiểm soát nhất quán đối với bảo mật, quyền riêng tƣ và quản trị đƣợc gọi là đám mây riêng. Nó còn đƣợc gọi là Đám mây nội bộ hoặc Đám mây tại chỗ.
Nó có thể đƣợc quản lý bởi tổ chức hoặc bên thứ ba và có thể tồn tại ở cơ sở hoặc ngoài cơ sở. - Đám mây công cộng: Cơ sở hạ tầng đám mây đƣợc cung cấp cho công chúng hoặc một nhóm ngành công nghiệp lớn và thuộc sở hữu của một tổ chức bán dịch vụ đám mây đƣợc gọi là đám mây công cộng. Nó còn đƣợc gọi là đám mây bên ngoài hoặc đám mây nhiều đối tƣợng. - Đám mây cộng đồng: Cơ sở hạ tầng đám mây này đƣợc gọi là môi trƣờng điện toán đám mây chuyên dụng, nó đƣợc chia sẻ và quản lý bởi một số tổ chức liên quan tham gia vào một miền chung hoặc thị trƣờng dọc đƣợc gọi là đám mây cộng đồng.
Nó có thể đƣợc quản lý bởi các tổ chức hoặc một bên thứ ba và có thể tồn tại tại cơ sở hoặc ngoài cơ sở. - Đám mây kết hợp: Cơ sở hạ tầng đám mây bao gồm hai hoặc nhiều cơ sở hạ tầng đám mây riêng biệt (riêng tƣ, cộng đồng hoặc công cộng) nhƣng đƣợc liên kết với nhau bằng công nghệ tiêu chuẩn hóa cho phép tính di động của dữ liệu và ứng dụng đƣợc gọi là đám mây lai. Phân loại dịch vụ đám mây Theo Khanom (2017), điện toán đám mây đƣợc cung cấp “nhƣ một dịch vụ” và đƣợc cung cấp ở ba hình thức – SaaS (dịch vụ dƣới dạng phần 16 mềm), PaaS (dịch vụ dƣới dạng hệ điều hành) và IaaS (dịch vụ dƣới dạng cơ sở hạ tầng). - SaaS (Software as-a-Service): Cung cấp dịch vụ dƣới dạng phần mềm, là hình thức dịch vụ cao nhất.
Hình thức này cung cấp phần mềm chuyên dụng cho ngƣời dùng để sử dụng các ứng dụng của nhà cung cấp chạy trên cơ sở hạ tầng đám mây thông qua Internet đƣợc gọi là dịch vụ dƣới dạng phần mềm. Nó đôi khi đƣợc gọi là “phần mềm theo yêu cầu” và thƣờng đƣợc định giá trên cơ sở trả tiền cho mỗi lần sử dụng. Điều này giúp loại bỏ nhu cầu cài đặt và chạy ứng dụng trên máy tính của ngƣời dùng đám mây, giúp đơn giản hóa việc bảo trì và hỗ trợ. Các nhà cung cấp SaaS thƣờng định giá các ứng dụng bằng cách sử dụng phí đăng ký.
Hạn chế chính của SaaS là dữ liệu của ngƣời dùng đƣợc lƣu trữ trên máy chủ của nhà cung cấp đám mây. - PaaS (Platform as-a-service): Cung cấp dịch vụ dƣới dạng hệ điều hành. Theo đó hệ điều hành máy tính đƣợc cung cấp dƣới dạng dịch vụ theo yêu cầu mà dựa vào đó doanh nghiệp có thể phát triển và triển khai các ứng dụng. Dịch vụ đám mây này giúp các nhà phát triển ứng dụng có thể xây dựng và chạy các giải pháp phần mềm của họ trên nền tảng đám mây mà không tốn kém và phức tạp nhƣ khi mua và quản lý về phần cứng và phần mềm.
- IaaS (Infrastructure as-a-Service): Cung cấp dịch vụ là cơ sở hạ tầng. Các hạ tầng điện toán cơ bản của máy chủ, phần mềm và thiết bị mạng đƣợc cung cấp nhƣ một dịch vụ theo yêu cầu mà dựa vào đó một hệ điều hành có thể đƣợc phát triển và thực thi các ứng dụng có thể đƣợc thiết lập, đƣợc gọi là dịch vụ dƣới dạng cơ sở hạ tầng. Mục đích chính của dịch vụ này là giúp các doanh nghiệp không phải mua, bán và quản lý các thành phần cơ sở hạ tầng nhƣ phần cứng và phần mềm, thay vào đó có thể sử dụng các tài nguyên này dƣới dạng các đối tƣợng ảo hóa thông qua giao diện dịch vụ. Nhƣ vậy có thể thấy, PMKT đám mây theo hƣớng nghiên cứu của đề tài đƣợc cung cấp dƣới hình thức Saas.
So sánh phần mềm kế toán đám mây và phần mềm kế toán truyền thống Dựa vào nghiên cứu của Christauskas và Miseviciene (2012), chúng ta có thể phân biệt sự khác nhau giữa PMKT đám mây và PMKT truyền thống nhƣ sau: Bảng 1.1 So sánh PMKT đám mây và PMKT truyền thống Nội dung PMKT truyền thống PMKT đám mây Giấy phép sử dụng Doanh nghiệp là chủ sở Doanh nghiệp là ngƣời phần mềm hữu giấy phép thuê giấy phép Địa điểm hệ thống Do doanh nghiệp chọn Đám mây Đã đƣợc bao gồm Phần cứng Doanh nghiệp tự chuẩn bị trong giá thuê Windows & SQL Đã đƣợc bao gồm Doanh nghiệp tự chuẩn bị Server trong giá thuê Đã đƣợc bao gồm Chi phí bảo trì Tách biệt khỏi giá mua trong giá thuê Doanh nghiệp tự chuẩn bị Nguồn lực IT Không cần thiết hoặc thuê ngoài Hỗ trợ kỹ thuật Do bên thứ 3 cung cấp Do bên thứ 3 cung cấp Số lƣợng ngƣời dùng Theo giấy phép Không giới hạn (Nguồn: Christauskas và Miseviciene, 2012) 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Cho đến nay, trên thế giới vẫn chƣa có sự thống nhất về khái niệm thế nào gọi là DNNVV, mà khái niệm này đƣợc xác định bởi các tiêu chí khác nhau theo từng quốc gia, từng ngành công nghiệp khác nhau. Do đó, khái 18 niệm DNNVV trên thế giới có thể đƣợc xác định bởi các tiêu thức nhƣ: vị trí địa lý, quy mô, số năm thành lập, cấu trúc doanh nghiệp, số lƣợng nhân viên, doanh thu, tài sản ròng, cấu trúc sở hữu, đổi mới công nghệ,… (Deros và cộng sự, 2006).