CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THƯƠNG MẠI ÐIỆN TỬ Về nguồn gốc, thương mại điện tử được xem như là điều kiện thuận lợi của các giao dịch thương mại điện tử, sử dụng công nghệ như EDI và EFT. Cả hai công nghệ này đều được giới thiệu thập niên 70, cho phép các doanh nghiệp gửi các hợp đồng điện tử như đơn đặt hàng hay hóa đơn điện tử. Sự phát triển và chấp nhận của thẻ tín dụng, máy rút tiền tự động (ATM) và ngân hàng điện thoại vào thập niên 80 cũng đã hình thành nên thương mại điện tử.
Một dạng thương mại điện tử khác là hệ thống đặt vé máy bay bởi Sabre ở Mỹ và Travicom ở Anh. Vào thập niên 90, thương mại điện tử bao gồm các hệ thống hoạch định tài nguyên doanh nghiệp (ERP), khai thác dữ liệu và kho dữ liệu. Năm 1990, Tim Berners-Lee phát minh ra WordWideWeb trình duyệt web và chuyển mạng thông tin liên lạc giáo dục thành mạng toàn cầu được gọi là Internet (www). Các công ty thương mại trên Internet bị cấm bởi NSF cho đến năm 1995.
Mặc dù Internet trở nên phổ biến khắp thế giới vào khoảng năm 1994 với sự đề nghị của trình duyệt web Mosaic, nhưng phải mất tới 5 năm để giới thiệu các giao thức bảo mật (mã hóa SSL trên trình duyệt Netscape vào cuối năm 1994) và DSL cho phép kết nối Internet liên tục. Vào cuối năm 2000, nhiều công ty kinh doanh ở Mỹ và Châu Âu đã thiết lập các dịch vụ thông qua World Wide Web. Từ đó con người bắt đầu có mối liên hệ với từ "ecommerce" với quyền trao đổi các loại hàng Luan van 10 hóa khác nhau thông qua Internet dùng các giao thức bảo mật và dịch vụ thanh toán điện tử. KHÁI NIỆM VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Một số khái niệm thương mại điện tử được định nghĩa bởi các tổ chức uy tín thế giới như sau: · Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet".
· Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa: "Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet." Các kỹ thuật thông tin liên lạc có thể là email, EDI, Internet và Extranet có thể được dùng để hỗ trợ thương mại điện tử. · Theo Ủy ban châu Âu: "Thương mại điện tử có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công. Trong nghiên cứu này, tôi xin được dùng định nghĩa TMĐT của Efraim Turban: “TMĐT là quy trình mua, bán, chuyển giao hoặc trao đổi sản phẩm, Luan van 11 dịch vụ và/hoặc thông tin qua mạng máy tính, bao gồm Internet”.
ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Các đặc trưng cơ bản của TMĐT là: - Các bên tiến hành giao dịch TMĐT không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước. - Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện trong một thị trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu). Thương mại điện tử trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu. - Mọi hoạt động giao dịch TMĐT đều có ít nhất ba chủ thể tham gia, trong đó không thể thiếu người cung cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực.
- Mạng lưới thông tin trong TMĐT chính là thị trường. CÁC MÔ HÌNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Dựa vào chủ thể của thương mại điện tử, có thể phân chia thương mại điện tử ra các loại hình phổ biến như sau: - Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp - B2B (business to business) - Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng - B2C (business to consumer) - Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước - B2G (business to government) - Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau - C2C (consumer to consumer) Luan van 12 - Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân - G2C (government to consumer). CÁC YẾU TỐ CẦN XEM XÉT KHI ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN TMĐT 1. Nhận thức về TMĐT Đây là yếu tố được đánh giá là phải đi trước một bước để phát triển TMĐT.
Một DN muốn ứng dụng và phát triển TMĐT thì phải nhận thức một cách đúng đắn về bản chất, vai trò, mô hình và hình thức hoạt động của TMĐT để có được một chiến lược và kế hoạch đúng đắn cho việc áp dụng TMĐT vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình, cũng như một sự đầu tư thích đáng cho lĩnh vực này. Ở đây, vai trò của người lãnh đạo trong doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng và quyết định. Nhân lực cho TMĐT Nhân lực luôn là yếu tố quyết định cho sự thành công của mọi hoạt động, trong đó có TMĐT. Nhân lực phải am hiểu kiến thức nghiệp vụ thương mại, sử dụng tốt ngoại ngữ trong giao dịch với đối tác nước ngoài và am hiểu các kiến thức về TMĐT cũng như sử dụng tốt các ứng dụng của CNTT truyền thông vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Các nhân lực kỹ thuật là bộ phận đảm bảo cho hệ thống kỹ thuật hoạt động ổn định, có khả năng khắc phục sự cố và phát triển các tiện ích, công cụ kỹ thuật mới, đáp ứng đòi hỏi của các hoạt động giao dịch TMĐT. Hạ tầng cơ sở CNTT và truyền thông Hạ tầng công nghệ cao như Internet, Web đang phát triển rất nhanh. Một DN không thể quảng bá Website bán hàng của mình một cách rộng rãi, khai thác các tiện ích cũng như đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của khách hàng Luan van 13 nếu hệ thống đường truyền Internet hoạt động không ổn định. Vấn đề giá cả các dịch vụ CNTT và truyền thông cũng rất quan trọng đối với DN vì nó ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm của DN.
Hạ tầng pháp lý Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực TMĐT ngoài việc chịu sự điều chỉnh của các quan hệ pháp luật như trong các hoạt động thương mại truyền thống thì họ còn phải chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật có liên quan đến hình thức hoạt động mới này. Hiện nay, Việt Nam cũng đã ban hành một số văn bản pháp luật có liên quan như: Luật giao dịch điện tử, Luật thương mại…Tuy nhiên, các văn bản này chỉ mới mang tính nền tảng, cần thiết phải có những chính sách và văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hơn để tạo môi trường pháp lý hoàn thiện đáp ứng các đòi hỏi của việc ứng dụng và phát triển của TMĐT hiện nay. Hệ thống thanh toán điện tử Hiện nay TTĐT đang là một trong những trở ngại lớn cho các DN và người tiêu dùng tại Việt Nam. Hình thức này chưa hình thành và phát triển do chưa thiết lập được cổng thanh toán trực tuyến kết nối các ngân hàng với nhau và với các tổ chức thanh toán quốc tế.
Các DN bán hàng trực tuyến cũng chưa thể mở các tài khoản thu tiền thanh toán từ thẻ của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Do đó người tiêu dùng chưa thể sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán cho các sản phẩm mua tại Website bán hàng của Việt Nam. Vì vậy, hình thức mở một tài khoản thanh toán tại các tổ chức thanh toán quốc tế làm trung gian, chuyển khoản qua ngân hàng, qua máy ATM, qua bưu điện hoặc thanh toán bằng tiềm mặt là hình thức thanh toán chủ yếu hiện nay khi ứng dụng TMĐT. An ninh và an toàn trong TMĐT Tâm lý e ngại về sự không an toàn của việc ứng dụng TMĐT là một thực tế hiện nay, đặc biệt khi mà vấn nạn hacker trên mạng ngày càng phát triển một cách tinh vi.
Hiện nay, các cơ quan, tổ chức tại Việt Nam đang có sự đầu tư cần thiết nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống thông tin của mình, khắc phục sự cố và tạo lòng tin cho người sử dụng. Các đơn vị cung cấp dịch vụ an ninh mạng đàn góp phần đảm bảo an ninh mạng. Luan van 15 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ỨNG DỤNG TMĐT TRONG DNNVV TỈNH QUẢNG NAM 2. TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG TMĐT CỦA CÁC DNNVV TẠI TỈNH QUẢNG NAM 2.
Đặc điểm của các DNNVV trên địa bàn Tỉnh Quảng Nam Doanh nghiệp nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình.
Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ- CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa. Tính đến tháng 12/2012, trên địa bàn tỉnh có 2.854 DN đăng ký kinh doanh; trong đó có 2.769 DN dân doanh; 37 DN nhà nước địa phương; 48 DN FDI. Tổng vốn đăng ký là 45.988 tỷ đồng, bình quân 15,920 tỷ đồng/DN (trừ DN FDI).