Chương 1: Lý luận chung về thương mại điện tử và quyết định mua hàng trực tuyến Chương 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng trực tuyến tại website:thegioididong.com của Công ty cổ phần đầu tư Thế giới di động. Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động bán hàng trực tuyến tại website:thegioididong.com của Công ty cổ phần đầu tư Thế giới di động từ việc nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng trực tuyến. Luan van 6 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ QUYẾT ĐỊNH MUA HÀNG TRỰC TUYẾN 1.1 Tổng quan về thƣơng mại điện tử và mua hàng trực tuyến 1.1 Khái niệm thƣơng mại điện từ Thƣơng mại điện tử (TMĐT) là hình thái hoạt động thƣơng mại thông qua các phƣơng tiện điện tử, là việc trao đổi thông tin thƣơng mại thông qua các phƣơng tiện công nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch. Theo Bộ Công thƣơng Việt Nam: Thƣơng mại điện tử là hình thái hoạt động thƣơng mại bằng các phƣơng pháp điện tử; là việc trao đổi thông tin thƣơng mại thông qua các phƣơng tiện điện tử mà không phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch.
Theo công bố của Bộ Công thƣơng các nƣớc thuộc tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO): Thƣơng mại điện tử bao gồm sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán hay giao sản phẩm/dịch vụ bằng phƣơng tiện điện tử. Theo Ủy ban Thƣơng mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dƣơng (APEC): Thƣơng mại điện tử liên quan đến các giao dịch thƣơng mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet. Theo Ủy ban Châu Âu: Thƣơng mại điện tử có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tƣ nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thuật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch vụ thông qua mạng máy tính, nhƣng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phƣơng pháp thủ công.
Nhƣ vậy, có thể hiểu thƣơng mại điện tử chỉ xảy ra trong môi trƣờng kinh doanh mạng Internet giữa bên mua và bên bán hàng hóa dịch vụ thông qua sự Luan van 7 hỗ trợ của các phƣơng tiện điện tử. Về các hình thức tham gia thƣơng mại điện tử: Hiện nay có nhiều ý kiến về các hình thức tham gia cũng nhƣ cách phân chia các hình thức này trong thƣơng mại điện tử. Nếu phân chia theo đối tƣợng tham gia thì có 3 đối tƣợng chính bao gồm: Chính phủ (G – Government), Doanh nghiệp (B – Business) và Khách hàng (C – Customer hay Consumer). Nếu kết hợp đôi một 3 đối tƣợng này sẽ có 9 hình thức theo đối tƣợng tham gia: B2C, B2B, B2G, G2B, G2G, G2C, C2G, C2B, C2C.
Trong đó, các dạng hình thức chính của thƣơng mại điện tử bao gồm: Doanh nghiệp với doanh nhiệp (B2B), Doanh nghiệp với khách hàng (B2C), Doanh nghiệp với chính phủ (B2G), Khách hàng với khách hàng (C2C), Thƣơng mại di động (mobile commerce hay viết tắt là m-commerce). Trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hình thức Thƣơng mại điện tử doanh nghiệp với khách hàng (B2C).2 Định nghĩa thƣơng mại điện tử giữa doanh nghiệp với khách hàng (B2C) Có nhiều định nghĩa về Thƣơng mại điện tử giữa doanh nghiệp với khách hàng (B2C) nhƣ sau: Mua hàng qua mạng là quá trình mua sản phẩm hay dịch vụ thông qua internet. Mua hàng qua mạng là một hình thức của thƣơng mại điện tử đƣợc dùng trong giao dịch B2B hoặc B2C (Haubl, G. Tập đoàn Oracle, trong tài liệu “Hƣớng dẫn phát triển ứng dụng”, định nghĩa thƣơng mại điện tử giữa doanh nghiệp với ngƣời tiêu dùng (B2C) là “một thuật ngữ mô tả sự giao tiếp giữa các doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng trong việc bán hàng hóa và dịch vụ”.
Tập đoàn Sybase đƣa ra định nghĩa Thƣơng mại điện tử giữa doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng (B2C e-commerce) là “khả năng của doanh nghiệp trong việc cung ứng các sản phẩm, hàng hóa, sự hỗ trợ và thông tin trực tiếp cho Luan van 8 ngƣời tiêu dùng cá nhân trên Internet”. Tƣơng tự, IBM định nghĩa Thƣơng mại điện tử B2C là “Việc sử dụng các công nghệ trên cơ sở Website để bán hàng hóa, dịch vụ cho một ngƣời tiêu dùng cuối cùng”. Nhƣ vậy, có thể hiểu thƣơng mại điện tử B2C: là việc trao đổi giữa các doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng cuối cùng về hàng hóa, dịch vụ và tri thức biểu hiện về hàng hóa, dịch vụ (hoặc các thông tin về ngƣời tiêu dùng) nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng; đổi lại sẽ thu đƣợc một khoảng tiền thanh toán hoặc khả năng thu một khoảng tiền tƣơng ứng.3 Định nghĩa dịch vụ mua hàng qua mạng Các định nghĩa mua hàng qua mạng (online shopping) nhƣ sau: Mua hàng qua mạng đƣợc định nghĩa là hành vi của ngƣời tiêu dùng trong việc mua sắm thông qua các cửa hàng trên mạng hoặc website sử dụng các giao dịch mua hàng trực tuyến (Haubl, G. Mua hàng qua mạng là quá trình mua sản phẩm hay dịch vụ thông qua internet.
Mua hàng qua mạng là một hình thức của thƣơng mại điện tử đƣợc dùng trong giao dịch B2B hoặc B2C (Haubl, G. Mua hàng qua mạng là một giao dịch đƣợc thực hiện bởi ngƣời tiêu dùng thông qua giao diện dựa trên máy tính bằng cách máy tính của ngƣời tiêu dùng đƣợc kết nối và có thể tƣơng tác với các cửa hàng số hóa của nhà bán lẻ thông qua mạng máy tính (Haubl, G. Nhƣ vậy, có thể hiểu mua hàng qua mạng là quá trình mua sản phẩm hay dịch vụ đƣợc ngƣời tiêu dùng thực hiện ở các cửa hàng trên mạng thông qua mạng internet.4 Lợi ích của mua sắm trực tuyến Lợi ích đối với doanh nghiệp - Mở rộng thị trƣờng: Với chi phí đầu tƣ nhỏ hơn nhiều so với bán hàng Luan van 9 truyền thống, các công ty có thể mở rộng thị trƣờng, tìm kiếm, tiếp cận nhà cung cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới. Việc mở rộng mạng lƣới nhà cung cấp, khách hàng cũng cho phép các tổ chức có thể mua với giá thấp hơn và bán đƣợc nhiều sản phẩm hơn.
- Cải thiện hệ thống phân phối: giảm lƣợng hàng lƣu kho và độ chậm trễ trong phân phối hàng. Hệ thống của hàng giới thiệu sản phẩm đƣợc thay thế hoặc hỗ trợ bởi các cửa hàng trên mạng. - Vƣợt giới hạn về thời gian: việc tự động hóa các giao dịch thông qua Website và Internet giúp hoạt động kinh doanh đƣợc thực hiện bất kỳ lúc nào mà không cần thêm nhiều chi phí biến đổi. - Tốc độ tung sản phẩm ra thị trƣờng: với lợi thế thông tin và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sản xuất và giảm thời gian tung sản phẩm ra thị trƣờng.
- Giảm chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất có thể đƣợc giảm bớt trƣớc hết là chi phí văn phòng, một yếu tố cấu thành trong chi phí sản phẩm. Cụ thể là chi phí in ấn hầu nhƣ đƣợc loại bỏ, chi phí cho việc tìm kiếm và chuyển giao tài liệu đƣợc giảm bớt bởi tài liệu đƣợc lƣu trữ và chuyển giao trên máy tính cho phép tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức. Do vậy, nhân viên văn phòng đƣợc giảm thiểu giúp doanh nghiệp tiết kiệm đƣợc chi phí tiền lƣơng. - Giảm chi phí giao dịch: nhờ có internet mà ngƣời tiêu dùng và doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch đƣợc hiểu là quá trình từ quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao hàng, thanh toán).
- Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị: nhờ có Internet, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch đƣợc với rất nhiều khách hàng - những ngƣời thăm quan và đặt hàng trên trang Website của doanh nghiệp, chƣa kể việc nhận các đơn đặt hàng có thể đƣợc máy tính tự động xử lý vì vậy chi phí cho nhân viên bán hàng đƣợc giảm đi đáng kể. - Củng cố quan hệ khách hàng: thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua mạng, Luan van 10 quan hệ với trung gian và khách hàng đƣợc cũng cố dễ dàng hơn. Đồng thời việc cá biệt hóa sản phẩm và dịch vụ cũng góp phần thắt chặt quan hệ với khách hàng và củng cố lòng trung thành. - Thông tin cập nhật: mọi thông tin trên Website nhƣ sản phẩm, dịch vụ, giá cả đều có thể đƣợc cập nhật kịp thời.
- Dịch vụ tốt hơn cho khách hàng: thông qua các gian hàng trên mạng, doanh nghiệp có thể cung cấp catalogue, brochure, thông tin, bảng báo giá cho đối tƣợng khách hàng một cách cực kỳ nhanh chóng, doanh nghiệp có thể tạo điều kiện cho khách hàng chọn mua trực tiếp từ trên mạng. - Tăng doanh thu: đối tƣợng khách hàng của doanh nghiệp khi kinh doanh qua mạng không còn giới hạn về mặt địa lý. Doanh nghiệp không chỉ bán hàng cho cƣ dân địa phƣơng mà còn có thể bán hàng trên toàn quốc và ra cả thế giới. - Lợi thế cạnh tranh: khi bán hàng qua mạng, doanh nghiệp sẽ cắt giảm đƣợc nhiều chi phí hơn so với bán hàng truyền thống, do đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ ít gặp khó khăn hơn khi cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn vì sự chênh lệch về vốn, thị trƣờng, nhân lực, khách hàng.
Lợi ích đối với người tiêu dùng - Mua sắm mọi lúc mọi nơi: trong thời đại thông tin hiện nay, ngƣời tiêu dùng có thể lựa chọn và tiến hành mua bán tại nhà thông qua việc truy cập Internet, với đầy đủ âm thanh, hình ảnh và các thông số kỹ thuật về sản phẩm, sau đó khách hàng có thể thực hiện thanh toán thông qua các loại thẻ tín dụng. Điều này rất thuận tiện và tiết kiệm so với việc phải đi tìm kiếm hàng hóa ở các của hàng truyền thống. - Nhiều hàng hóa và nhiều nhà cung cấp để lựa chọn: Đây là một lợi thế mà chỉ có hình thức siêu thị trong mua bán truyền thống mới có thể cạnh tranh đƣợc so với bán hàng qua mạng. Số lƣợng hàng hóa mà các cửa hàng trên mạng cung cấp cũng dễ lựa chọn, đa dạng và phong phú hơn rất nhiều so với hình thức kinh doanh truyền thống.