Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động đổi mới sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nội dung: Trình bày một số khái niệm về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa; vai trò thúc đẩy của Nhà nước trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp; thành tựu, kinh nghiệm một số nước, địa phương trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa, bài học kinh nghiệm cho Hưng Yên. Chương 2: Thực trạng hoạt động đổi mới sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hưng Yên. Nội dung: Trình bày bối cảnh, điều kiện phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay (2018-2021); đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hưng Yên; nhận định các tồn tại hạn chế và nguyên nhân.
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hưng Yên Nội dung: Bối cảnh, những vấn đề đặt ra và giải pháp thúc đẩy hoạt động ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hưng Yên. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về hoạt động đổi mới sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Các khái niệm có liên quan 1.
Khái niệm về khoa học và công nghệ (KH&CN) Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, khái niệm khoa học là “Hệ thống tri thức tích lũy trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực” (Hoàng Phê, 2020), khái niệm công nghệ là “Tổng thể nói chung các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng, nguyên vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh” Khái niệm khoa học và công nghệ theo cách hiểu chung nhất là toàn bộ các hoạt động đảm bảo có hệ thống và sáng tạo hỗ trợ phát triển các kho tàng kiến thức chung của nhân loại. Đó có thể là kiến thức về con người, về đời sống - xã hội, tự nhiên,. từ đó hình thành nên các ứng dụng mới hiện đại và phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn. Ngoài ra, theo Luật Khoa học và Công nghệ (2013), một số khái niệm, định nghĩa về khoa học, công nghệ và hoạt động khoa học công nghệ được quy định như sau: - Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. -Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. 6 - Nghiên cứu khoa học gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực hiện; là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.
Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên ứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội. - Phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới. - Dịch vụ khoa học và công nghệ là hoạt dộng phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Khi bàn đến các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, ngoài việc đề cao vai trò của hai yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động, C.Mác nhấn mạnh vai trò của khoa học, coi đó là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Nghiên cứu tiến trình vận động và phát triển của xã hội loài người thông qua hoạt động sản xuất vật chất, C.Mác nhận định: “Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến (wissen knowledge) đã chuyển hóa đến mức độ nào đó thành lực lượng sản xuất trực tiếp”.Mác, khoa học thẩm thấu vào tất cả các khâu của quá trình sản xuất, góp phần cải tiến công cụ lao động, tạo ra những đối tượng lao động mới, những phương tiện sản xuất tiên tiến, góp phần nâng cao kỹ năng, tay nghề, trình độ cho người lao động 1. Khái niệm về đổi mới sáng tạo Sáng tạo 7 Nhà kinh tế chính trị người Áo Schumpeter (1934) (Joseph A. Schumpeter, 1934) đã đưa ra định nghĩa: Sáng tạo (creativity) là việc người lao động sử dụng các hoạt động nhận thức để đưa ra những ý tưởng mới trong doanh nghiệp. Những ý tưởng này được người lao động hình thành thông qua quá trình học tập, làm việc và tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp.
Những ý tưởng của người lao động có thể xuất phát từ việc suy nghĩ làm sao để cải tiến công việc và nâng cao năng suất đối với công việc cụ thể. Ngoài ra, khi đứng trước vấn đề mới phát sinh, lần đầu xảy ra trong doanh nghiệp, người lao động đôi khi lại đưa ra được những ý tưởng hoàn toàn mới để giải quyết vấn đề này. Tất cả những ví dụ trên cho thấy, sáng tạo đều xuất phát từ suy nghĩ và ý tưởng của người lao động, đồng thời được người lao động hình thành trong quá trình thực hiện và giải quyết các công việc cụ thể trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đồng quan điểm với nghiên cứu của Schumpeter (1934) (Joseph A.
Schumpeter, 1934), nghiên cứu của Afuah (2003) (Afuah, A., 2003) đã mở rộng khái niệm sáng tạo. Trong đó, sáng tạo là việc người lao động đưa ra những ý tưởng mới lạ, hoặc cách tiếp cận độc đáo trong giải quyết vấn đề. Tính sáng tạo là yếu tố đầu tiên và là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có được những phát minh mới và từ đó là sự đổi mới. Tính sáng tạo là tiền đề cơ bản của những đổi mới trong doanh nghiệp.
Đổi mới Đổi mới (innovation) xuất hiện lần đầu tiên trong tiếng La-tinh, với từ “nova” có nghĩa là mới. Nhiều nghiên cứu cho rằng, đổi mới liên quan tới sáng tạo. Ví dụ, Amablile và cộng sự (1996) (Amabile, T., , 1996) định nghĩa đổi mới là việc thực hiện thành công các ý tưởng sáng tạo của người lao động trong doanh nghiệp.Tuy nhiên, một số học giả khác cho rằng, đổi mới xuất phát từ việc ứng dụng và phát triển tri thức mới trong các doanh nghiệp. Ví dụ, đổi mới là việc biến các ý tưởng mới và tri thức mới trở thành những sản phẩm, quy trình và dịch vụ mới để nâng cao lợi thế cạnh tranh và đáp ứng những nhu cầu đang thay đổi từ phía khách hàng (Nymstrom, 1990) (Nyström, H.
Ngoài ra, nhiều học giả cho rằng, đổi mới phải liên quan tới “phát minh” và “thương mại hóa”. Sự khác biệt giữa sáng tạo và đổi mới 8 Dựa trên khái niệm liên quan tới đổi mới và sáng tạo, sự khác biệt giữa 2 thuật ngữ này được giải thích như sau: Thứ nhất, sáng tạo là điểm khởi đầu cho quá trình đổi mới. Sáng tạo chỉ đơn thuần là suy nghĩ của người lao động về điều gì đó khác lạ và độc đáo. Trong khi đó, đổi mới là quá trình chuyển hóa ý tưởng của người lao động trở thành sản phẩm/dịch vụ mới có ích và mang lại giá trị cao cho doanh nghiệp.
Thứ hai, sáng tạo là hoạt động tri thức và tinh thần của người lao động nhằm đưa ra ý tưởng mới. Còn đổi mới là việc áp dụng những ý tưởng mới vào thực tế công việc tại doanh nghiệp. Thứ ba, sáng tạo là việc hình thành nên những ý tưởng của người lao động, nên rất khó để đo lường. Trong khi đó, đổi mới có thể được “phát minh” và “thương mại hóa” nên rất dễ để đo lường.
Việc đo lường đổi mới có thể được đánh giá thông qua các bằng sáng chế, hoặc doanh thu từ việc bán các sản phẩm hay dịch vụ mới. Thứ tư, về trách nhiệm pháp lý, sáng tạo chỉ là ý tưởng được hình thành trong suy nghĩ và tiềm thức của người lao động, nên những sáng tạo khi chưa được chuyển hóa thành các sản phẩm và dịch vụ thì không gây ra bất cứ tổn hại nào, nên không bị ràng buộc bởi trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, đổi mới là quá trình để đưa ra những sản phẩm, dịch vụ và quy trình mới, nên có thể gây ra những tổn hại cho doanh nghiệp hoặc xã hội. Vì vậy, đổi mới liên quan tới trách nhiệm pháp lý khi đổi mới trở thành hiện thực.
Thứ năm, sáng tạo không cần bất kỳ nguồn lực nào từ doanh nghiệp. Bởi vì sáng tạo đơn thuần chỉ là suy nghĩ của người lao động. Tuy nhiên, để chuyển hóa những ý tưởng mới thành sản phẩm, dịch vụ và quy trình mới, doanh nghiệp phải cung cấp cho người lao động những nguồn lực cần thiết, như: nhân lực, tài chính hay cơ sở vật chất. Do vậy, xét về góc độ kinh tế, sáng tạo không mất chi phí, nhưng quá trình đổi mới thì cần có chi phí để thực hiện.