Tổng quan luận án
Bản luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Xây dựng mô hình hệ thống thông tin tích hợp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Thị Kim Oanh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Song Minh và PGS. Nguyễn Văn Vỵ. Luận án thuộc chuyên ngành Hệ thống thông tin quản lý (mã số: 62340405), bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội vào năm 2018.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong nền kinh tế Việt Nam. Khối doanh nghiệp này sử dụng tới 51% lực lượng lao động, đóng góp hơn 40% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cả nước và tạo ra hơn một triệu việc làm mới mỗi năm. Trong đó, lĩnh vực dịch vụ có tốc độ thu hồi vốn nhanh, tổ chức bộ máy gọn nhẹ và năng động. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp này gặp hạn chế nghiêm trọng về năng lực tài chính, chất lượng nhân lực và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin. Các ứng dụng hỗ trợ quản lý thường được mua sắm hoặc phát triển rời rạc ở các thời điểm khác nhau, viết bằng nhiều ngôn ngữ lập trình, vận hành trên các hệ điều hành và hệ quản trị cơ sở dữ liệu không đồng nhất. Tình trạng này hình thành các "đảo thông tin", làm suy giảm khả năng liên kết nội bộ và phản ứng với thị trường.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định từ thực tế: việc đầu tư các hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) quốc tế đòi hỏi kinh phí từ hàng trăm nghìn đến hàng triệu USD, cơ sở hạ tầng hiện đại và quy trình chuẩn hóa theo tiêu chuẩn ISO – những điều kiện nằm ngoài khả năng của phần lớn DNNVV Việt Nam. Đồng thời, thị trường thiếu vắng các nghiên cứu độc lập đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin của khối dịch vụ, cũng như thiếu một mô hình tích hợp hệ thống thông tin có cơ sở khoa học, phù hợp với năng lực tài chính và hạ tầng sẵn có của doanh nghiệp trong nước.
Để giải quyết vấn đề quản lý: "Mô hình hệ thống thông tin tích hợp nào là phù hợp với điều kiện hiện nay của khối DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam?", tác giả xác định hệ thống các câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
Các câu hỏi nghiên cứu:
- Mức độ sẵn sàng về điều kiện và môi trường để triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong các DNNVV lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam như thế nào? Nhu cầu đòi hỏi đầu tư cho hạ tầng công nghệ thông tin ra sao?
- Những bài toán (hoạt động) nghiệp vụ nào là phổ dụng trong các DNNVV lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam?
- Cách thức ứng dụng công nghệ thông tin trợ giúp những bài toán đó như thế nào?
- Mức độ tích hợp của các ứng dụng hiện tại ra sao? Những vấn đề tồn tại và hạn chế hiệu quả sử dụng là gì?
- Mô hình kiến trúc tích hợp nào là phù hợp? Để tích hợp được doanh nghiệp cần đảm bảo những yếu tố gì?
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Đề xuất mô hình hệ thống thông tin tích hợp cho các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam và đưa ra quy trình triển khai tích hợp ứng dụng theo mô hình đề xuất.
- Mục tiêu cụ thể: (1) Nghiên cứu lý thuyết về tích hợp hệ thống thông tin, các công nghệ và giải pháp tích hợp trong doanh nghiệp; (2) Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) và công nghệ Web Services; (3) Khảo sát, đánh giá thực trạng môi trường công nghệ, mức độ ứng dụng và mức độ tích hợp hệ thống thông tin quản lý trong DNNVV dịch vụ; (4) Đề xuất mô hình hệ thống thông tin tích hợp theo SOA cho DNNVV dịch vụ tại Việt Nam; (5) Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm đảm bảo khả năng triển khai, vận hành mô hình.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là mô hình hệ thống thông tin tích hợp cho khối DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ, bao gồm ba yếu tố cốt lõi: các hệ thống thông tin hỗ trợ bài toán quản lý, mối liên kết giữa các bài toán, và điều kiện về tổ chức, con người, công nghệ để triển khai tích hợp.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Các DNNVV hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tại Việt Nam, điều tra khảo sát tập trung tại ba địa bàn gồm Nghệ An, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thời gian: Số liệu sơ cấp được điều tra trong năm 2015; số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2010 đến năm 2015. Quá trình tìm hiểu, nghiên cứu thực hiện từ tháng 10/2013 đến tháng 10/2017.
- Nội dung: Tích hợp hệ thống thông tin dựa trên nền tảng sẵn có theo giải pháp kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) và công nghệ Web Services, tiến hành thử nghiệm thực tế tại một doanh nghiệp dịch vụ cụ thể.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng hợp hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tích hợp ứng dụng và kiến trúc hướng dịch vụ theo các nhóm hướng nghiên cứu chính:
Nhóm nghiên cứu về bản chất và vai trò của tích hợp ứng dụng: Dưới góc độ công nghệ, M. Solotruk và M. Krištofič (1980), Nguyễn Văn Vỵ (2002) định nghĩa tích hợp ứng dụng là quá trình thiết lập liên kết giữa các thành phần của hai hay nhiều ứng dụng độc lập đã tồn tại để tạo thành một hệ thống thống nhất. Dưới góc độ quản lý, Trần Thị Song Minh (2012) nhấn mạnh ứng dụng tích hợp có khả năng cung cấp thông tin đa dạng phục vụ quá trình ra quyết định ở nhiều cấp và lĩnh vực quản lý. Krištofič (1980) phân tích các cấp độ tích hợp và giải pháp nâng cao mức độ tích hợp trong tổ chức. Norshidah Mohamed và cộng sự (2013) nghiên cứu tình huống về đặc điểm, sự cần thiết và những thách thức khi triển khai tích hợp hệ thống thông tin. Hellen Shiels và cộng sự (2003) khảo sát 24 DNNVV nhằm tìm hiểu các nhân tố tác động đến mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và tích hợp quy trình kinh doanh. Martin Hughes và cộng sự (2003) nghiên cứu 25 DNNVV để phân tích sự chuyển dịch từ hệ thống đóng truyền thống sang hệ thống liên tổ chức mở dựa trên Internet.
Nhóm nghiên cứu về khó khăn, rào cản tích hợp ứng dụng: Alexandra Simon và cộng sự (2012) hệ thống hóa bốn nhóm khó khăn khi tích hợp ứng dụng: (1) Thiếu nguồn lực (chuyên gia, kỹ thuật, thời gian); (2) Thiếu thống nhất chuẩn quy trình nghiệp vụ; (3) Khó khăn nội bộ (văn hóa doanh nghiệp, động lực nhân viên); (4) Khó khăn về nhân lực và sự phối hợp liên phòng ban. Tariq Rahim Soomro và Abrar Hasnain Awan (2012) chỉ ra các thách thức về nhận thức sai lầm khi coi tích hợp là một sản phẩm thay vì giải pháp, thiếu chiến lược công nghệ thông tin gắn với chiến lược kinh doanh, và các vấn đề an ninh, hiệu suất.
Nhóm nghiên cứu về kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) và Web Services: Khái niệm SOA do Alexander Pasik đưa ra năm 1994, sau đó phát triển mạnh nhờ công nghệ Web Services và sự đầu tư của các tập đoàn công nghệ lớn như IBM, Microsoft, Oracle, SAP (Ali Arsanjani, 2004; Mike Rosen và cộng sự, 2008). Thomas Erl (2005, 2007) hệ thống hóa lý thuyết nền tảng, nguyên lý thiết kế dịch vụ, cũng như hai chiến lược xây dựng hệ thống Top-down và Bottom-up. Marks và Bell (2006) hướng dẫn phương pháp lập kế hoạch và triển khai SOA trong doanh nghiệp. Về ứng dụng thực tiễn, Mohsen Mohammadi và Muriati Mukhtar (2013) đề xuất mô hình phát triển hệ thống thông tin tích hợp trên nền tảng SOA; Saulo Barbará de Oliveira và cộng sự (2012) nghiên cứu khả năng linh hoạt hóa tổ chức thông qua Web Services; Luhach và cộng sự (2014) thiết kế khung an ninh cho thương mại điện tử ở DNNVV dựa trên SOA; Marinela Mircea và Anca Ioana Andreescu (2011) nghiên cứu việc ứng dụng SOA kết hợp điện toán đám mây nhằm giảm chi phí.
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Các bài viết trên Tạp chí PC World Việt Nam của Yên Khuê (2007), Hải Phạm (2008), Thụy Anh (2008), Phi Quân (2009) chủ yếu dừng lại ở việc giới thiệu khái niệm hoặc so sánh tổng quan giữa SOA và ERP. Nghiên cứu của Nguyễn Trúc Lê (2014) và bài viết của chính tác giả Trần Thị Kim Oanh (2014) khẳng định tính phù hợp của giải pháp SOA đối với môi trường doanh nghiệp Việt Nam do đòi hỏi mức vốn đầu tư thấp và tận dụng được hạ tầng cũ. Dù một số cơ quan nhà nước và ngân hàng lớn (Bộ Tài chính, VietinBank, SCB) đã triển khai SOA từ các nhà cung cấp nước ngoài, các công ty phần mềm trong nước (như Meliasoft, FPT, CSC) vẫn chưa xây dựng được mô hình chuẩn hóa cho khối doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Từ việc điểm luận tài liệu, luận án xác định bốn khoảng trống khoa học lựa chọn giải quyết:
- Thiếu các cuộc điều tra thực nghiệm quy mô về thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin riêng cho khối DNNVV lĩnh vực dịch vụ tại Việt Nam.
- Thiếu nghiên cứu độc lập đánh giá tính khả thi và phương pháp tích hợp hệ thống thông tin phù hợp với điều kiện nội tại của các doanh nghiệp này.
- Chưa có mô hình kiến trúc tích hợp theo SOA được thiết kế chuyên biệt cho khối DNNVV dịch vụ nhằm tận dụng các phần mềm đơn lẻ sẵn có.
- Thiếu một quy trình triển khai từng bước có khả năng áp dụng thực tế mà các nhà cung cấp giải pháp và doanh nghiệp trong nước có thể tham khảo trực tiếp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng khung lý thuyết nghiên cứu hệ thống thông tin của Hevner (2004) – công trình kế thừa và phát triển từ các nghiên cứu trước đó của Nunamaker và cộng sự (1991), Walls và cộng sự (1992), Henderson và cộng sự (1993). Khung lý thuyết của luận án cấu thành từ ba khối thành phần tương tác:
- Ngữ cảnh môi trường (Môi trường nghiên cứu): Xem xét các yếu tố Tổ chức (cơ cấu tổ chức, chiến lược kinh doanh, chiến lược công nghệ thông tin, nhân lực, tài chính), Quản lý (bài toán nghiệp vụ, quy trình nghiệp vụ) và Công nghệ (hạ tầng, ứng dụng sẵn có, giải pháp kỹ thuật, kiến trúc mạng truyền thông) của các DNNVV dịch vụ tại Việt Nam.
- Cơ sở tri thức và phương pháp: Nền tảng tri thức bao gồm lý thuyết hệ thống thông tin quản lý, lý thuyết tích hợp hệ thống; công cụ bao gồm kiến trúc hướng dịch vụ (SOA), công nghệ Web Services và quản lý quy trình nghiệp vụ (BPM); phương pháp bao gồm các kỹ thuật phân tích, thiết kế và mô hình hóa hệ thống.
- Trọng tâm nghiên cứu và giải pháp đề xuất: Xuất phát từ thực trạng, luận án xác định khoảng trống để đề xuất mô hình kiến trúc hệ thống thông tin tích hợp và quy trình triển khai, sau đó tiến hành thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện mô hình.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm sự kết hợp giữa định tính và thống kê mô tả:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập, phân loại, so sánh các lý thuyết tích hợp, kiến trúc phân tán và các công trình nghiên cứu liên quan.
- Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng phiếu điều tra cấu trúc để thu thập dữ liệu sơ cấp từ hơn 200 DNNVV lĩnh vực dịch vụ; mã hóa, tổng hợp số liệu và trực quan hóa qua bảng số liệu, biểu đồ nhằm phân tích thực trạng ứng dụng phần mềm, mức độ liên kết dữ liệu và mức độ quan tâm của lãnh đạo.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Nhìn nhận các ứng dụng phần mềm rời rạc như các phần tử của một hệ thống tổng thể, phân tích môi trường kỹ thuật và tổ chức tác động đến sự vận hành của hệ thống thông tin.
- Phương pháp phân tích và thiết kế hệ thống: Thiết lập kiến trúc phần mềm, xác định giao diện dịch vụ, luồng trao đổi thông điệp, cấu trúc cơ sở dữ liệu và cơ chế đóng gói chức năng theo chuẩn dịch vụ Web.
- Phương pháp mô hình hóa: Sử dụng chuẩn ký họa quy trình nghiệp vụ (BPMN) để chuẩn hóa và mô hình hóa các quy trình nghiệp vụ phổ biến, kết hợp các sơ đồ kiến trúc phân tầng để mô tả cấu trúc hệ thống.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu:
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập từ cuộc điều tra bằng bảng hỏi năm 2015 đối với hơn 200 DNNVV hoạt động trong ngành dịch vụ tại Hà Nội, Nghệ An và TP. Hồ Chí Minh.
- Dữ liệu thứ cấp: Các báo cáo thống kê, ấn phẩm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Tổng cục Thống kê và tài liệu công bố từ năm 2010 đến 2015.
- Dữ liệu thực nghiệm: Thông số kỹ thuật, cấu hình phần cứng, nhật ký vận hành và biên bản đánh giá thử nghiệm hệ thống tại Công ty Cổ phần Công nghệ G5.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ TÍCH HỢP ỨNG DỤNG
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về tích hợp ứng dụng và kiến trúc hướng dịch vụ. Tác giả phân tích sự chuyển dịch từ các ứng dụng độc lập dẫn tới tình trạng phân mảnh thông tin sang nhu cầu tích hợp hệ thống nhằm tối ưu hóa hoạt động doanh nghiệp.
Luận án tổng hợp lợi ích của việc tích hợp ứng dụng trên bốn khía cạnh cơ bản:
| Khía cạnh |
Lợi ích cụ thể đối với doanh nghiệp |
| Chiến lược |
Cải thiện sự hợp tác nội bộ và với đối tác bên ngoài; gia tăng sự hài lòng của khách hàng; tổ chức hoạt động kinh doanh chặt chẽ hơn và giảm thiểu độ trễ kinh doanh. |
| Tổ chức |
Giúp lãnh đạo thu nhận thông tin nhanh chóng để ra quyết định kịp thời; hỗ trợ quản lý quy trình kinh doanh sát sao, liên tục. |
| Quản lý |
Cải thiện quy trình kinh doanh thông qua khả năng thiết kế, mô phỏng trước khi áp dụng; giảm thiểu rủi ro; hỗ trợ kiểm tra, giám sát thực thi nghiệp vụ. |
| Kỹ thuật |
Tăng cường dòng chảy dữ liệu; xây dựng hạ tầng linh hoạt; giảm chi phí vận hành; tăng khả năng chia sẻ, truy cập và cải thiện quy trình tổng hợp, phân tích dữ liệu. |
Về mô hình tích hợp, tác giả phân loại theo mức độ can thiệp của con người thành ba dạng: tích hợp thủ công, tích hợp bán tự động và tích hợp tự động. Trong tích hợp tự động, luận án so sánh mô hình điểm nối điểm (point-to-point) và mô hình trục tích hợp (hub/ESB). Điểm nối điểm phù hợp khi số lượng ứng dụng ít, nhưng khi số lượng ứng dụng tăng lên thì số liên kết tăng theo cấp số nhân, gây phức tạp và khó mở rộng. Mô hình trục tích hợp khắc phục hạn chế này bằng cách kết nối tập trung qua một điểm trung gian, giảm đáng kể số lượng giao diện cần xây dựng. Về phạm vi, tích hợp được chia thành tích hợp dữ liệu (trực tiếp hoặc qua trung gian) và tích hợp quy trình nghiệp vụ (BPM).
Lịch sử công nghệ tích hợp được phân tích qua hai môi trường:
- Môi trường đồng nhất: Java RMI (triệu gọi phương thức từ xa trong Java) và DCOM của Microsoft (mở rộng từ COM dựa trên DCE/RPC). Hạn chế của các công nghệ này là tạo kết nối chặt (tight coupling), sử dụng chuẩn đóng và không thể giao tiếp giữa các nền tảng khác nhau (như Java không thể gọi trực tiếp đối tượng DCOM).
- Môi trường không đồng nhất: Công nghệ CORBA của OMG sử dụng giao thức IIOP và bộ môi giới ORB, tuy nhiên vẫn phụ thuộc vào giao diện IDL. Công nghệ Web Services ra đời dựa trên nền tảng XML và giao thức truyền thông HTTP, sử dụng bộ tiêu chuẩn SOAP (giao thức truy cập đối tượng), WSDL (ngôn ngữ mô tả dịch vụ) và UDDI (đăng ký, tìm kiếm dịch vụ). Web Services mang lại tính liên kết lỏng (loose coupling) và tính trong suốt về mặt vị trí địa lý thông qua địa chỉ URL.
Chương này cũng tổng hợp các tiêu chí đảm bảo tích hợp thành công theo nghiên cứu của Ruzaini Abdullah Arshah và cộng sự (2012), chia thành ba nhóm: Nhóm kỹ thuật (chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin, tích hợp ứng dụng, tích hợp quy trình); Nhóm tổ chức (chất lượng dịch vụ, tính tích cực của hệ thống, sự hài lòng của người dùng, lợi nhuận tổng thể); và Nhóm chiến lược (chất lượng nhóm dự án, năng lực chủ nhiệm dự án, quản lý thay đổi văn hóa, sự cam kết của lãnh đạo cấp cao, tầm nhìn chiến lược). Cuối chương, tác giả phân tích khái niệm dịch vụ, cấu trúc thông điệp trong SOA và mối quan hệ tương hỗ giữa SOA và BPM.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TÍCH HỢP ỨNG DỤNG TRONG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA LĨNH VỰC DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM
Chương 2 làm rõ cơ sở lý luận và tính khả thi khi áp dụng SOA cho khối DNNVV dịch vụ. Tác giả phân tích đặc thù của DNNVV dịch vụ: đóng góp lớn cho nền kinh tế nhưng nguồn lực hạn chế, năng lực quản trị phân mảnh. Để phân tích môi trường cạnh tranh, luận án sử dụng mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter và ma trận SWOT để làm rõ sự cần thiết của việc đầu tư hệ thống thông tin.
Luận án tiến hành so sánh mô hình kiến trúc SOA của hai hãng công nghệ lớn:
- Mô hình SOA của IBM: Kiến trúc phân tầng rõ ràng (tầng quy trình nghiệp vụ, tầng dịch vụ, tầng cấu phần dịch vụ, tầng ứng dụng hiện có), liên kết qua trục tích hợp doanh nghiệp (ESB) và mô hình lập trình dịch vụ hướng tới khả năng tái sử dụng tài sản công nghệ thông tin.
- Mô hình SOA của Oracle: Dựa trên bộ sản phẩm Oracle SOA Suite (OSS), tích hợp sâu các công cụ giám sát hoạt động kinh doanh (BAM) và quản lý quy trình nghiệp vụ.
Đánh giá ưu nhược điểm chỉ ra rằng cả hai giải pháp đều hoàn chỉnh nhưng có chi phí bản quyền và chi phí triển khai rất cao, yêu cầu đội ngũ kỹ sư chuyên trách trình độ cao và đòi hỏi doanh nghiệp phải tái cấu trúc quy trình theo chuẩn quốc tế. Điều này không tương thích với thực trạng DNNVV Việt Nam.
Từ đó, luận án lập luận về tính phù hợp của kiến trúc hướng dịch vụ đối với DNNVV dịch vụ:
- SOA cho phép bọc (wrapping) các chức năng của ứng dụng cũ thành các dịch vụ Web mà không cần phá bỏ hay viết lại hệ thống từ đầu.
- Bản chất liên kết lỏng giúp doanh nghiệp dễ dàng thích ứng với những thay đổi thường xuyên trong quy trình kinh doanh dịch vụ mà không làm gián đoạn toàn bộ hệ thống.
- Đầu tư theo hướng SOA có thể phân kỳ theo từng giai đoạn, từng dịch vụ cụ thể, phù hợp với quy mô vốn nhỏ và năng lực tài chính hạn chế.
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA LĨNH VỰC DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chương 3 trình bày chi tiết kết quả cuộc điều tra thực trạng do tác giả thực hiện đối với hơn 200 DNNVV lĩnh vực dịch vụ tại Hà Nội, Nghệ An và TP. Hồ Chí Minh trong năm 2015.
Kết quả điều tra phản ánh những thực trạng đáng chú ý:
- Quy mô ứng dụng: Chỉ có 2% số doanh nghiệp được khảo sát có triển khai hệ thống ERP (thấp hơn con số thống kê chung 3,48% của VCCI trên toàn quốc). Có 4,5% doanh nghiệp (9 doanh nghiệp) chỉ sử dụng duy nhất một phần mềm. Tuyệt đại đa số doanh nghiệp còn lại vận hành từ hai ứng dụng trở lên.
- Thực trạng liên kết và xử lý dữ liệu: Việc trao đổi dữ liệu giữa các phần mềm độc lập chủ yếu thực hiện bằng thao tác thủ công (người dùng kết xuất báo cáo từ phần mềm này rồi nhập tay lại vào phần mềm khác). Rất ít doanh nghiệp có khả năng tự phát triển chương trình kết nối tự động. Tình trạng nhập liệu trùng lặp diễn ra phổ biến, dẫn đến sự thiếu nhất quán dữ liệu nghiêm trọng giữa các bộ phận (như dữ liệu nhân sự và dữ liệu tiền lương).
- Hạ tầng và nhận thức: Đa số doanh nghiệp có trang bị máy tính và kết nối mạng nội bộ, mạng Internet, nhưng mức độ đầu tư cho phần mềm chuyên dụng và an toàn dữ liệu còn thấp. Lãnh đạo doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ thông tin nhưng e ngại đầu tư do thiếu giải pháp vừa túi tiền và thiếu nhân lực vận hành.
Từ phân tích tần suất sử dụng các phần mềm quản lý trong mẫu khảo sát, luận án xác định được 5 bài toán nghiệp vụ phổ biến nhất trong khối DNNVV dịch vụ ở Việt Nam:
- Bài toán quản lý kế toán tài chính
- Bài toán quản lý lương
- Bài toán quản lý nhân sự
- Bài toán quản lý bán hàng
- Bài toán quản lý kho
Cuối chương, tác giả sử dụng ngôn ngữ mô hình hóa BPMN để chuẩn hóa và mô tả chi tiết sơ đồ dòng quy trình cho ba quy trình nghiệp vụ cơ bản: Quy trình nghiệp vụ lương, Quy trình nghiệp vụ bán hàng và Quy trình nghiệp vụ mua hàng, làm căn cứ kỹ thuật cho việc thiết kế dịch vụ ở chương tiếp theo.
CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ THỐNG THÔNG TIN TÍCH HỢP CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực trạng, Chương 4 đề xuất mô hình kiến trúc hệ thống thông tin tích hợp theo giải pháp SOA dành riêng cho DNNVV dịch vụ, bao gồm:
- Mô hình kiến trúc tổng thể: Phân chia hệ thống thành các tầng chức năng rõ rệt, gồm tầng giao diện người dùng, tầng quy trình nghiệp vụ tích hợp, tầng dịch vụ (Web Services), tầng trục tích hợp/truyền thông thông điệp, tầng ứng dụng sẵn có và tầng dữ liệu phân tán.
- Mô hình kỹ thuật và mô hình xác thực/bảo mật dịch vụ: Ứng dụng các chuẩn Web Services (SOAP, WSDL, XML) qua giao thức HTTP; thiết lập cơ chế xác thực quyền truy cập dịch vụ nhằm đảm bảo tính toàn vẹn và an toàn dữ liệu khi các ứng dụng trao đổi thông điệp qua mạng.
- Quy trình triển khai áp dụng mô hình: Tác giả chuẩn hóa quy trình tích hợp gồm 6 bước cụ thể:
- Khảo sát hiện trạng hệ thống thông tin và các quy trình nghiệp vụ của doanh nghiệp.
- Phân tích các bài toán quản lý và xác định các điểm cần tích hợp.
- Thiết kế danh mục các dịch vụ Web (đặc tả giao diện, tham số đầu vào, dữ liệu đầu ra bằng WSDL).
- Cài đặt và đóng gói các chức năng của ứng dụng sẵn có thành các dịch vụ.
- Xây dựng ứng dụng tích hợp và phối ghép các dịch vụ theo quy trình nghiệp vụ (sử dụng ngôn ngữ quy trình).
- Thử nghiệm, đánh giá, hiệu chỉnh và đưa hệ thống vào vận hành chính thức.
Để kiểm chứng mô hình, tác giả triển khai xây dựng thử nghiệm hệ thống tại Công ty Cổ phần Công nghệ G5 – một doanh nghiệp dịch vụ điển hình đang vận hành nhiều ứng dụng phân mảnh:
- Tích hợp 5 hệ thống độc lập: Quản lý tài khoản, Quản lý chấm công, Quản lý nhân sự, Quản lý lương, và Quản lý kế toán tài chính. Các hệ thống này vốn được viết trên các ngôn ngữ lập trình khác nhau và chạy trên các hệ quản trị cơ sở dữ liệu khác nhau.
- Thử nghiệm tự động hóa quy trình nghiệp vụ lương: Trước khi tích hợp, dữ liệu chấm công từ máy chấm công và phần mềm quản lý chấm công phải xuất ra tệp Excel, nhân viên nhân sự chỉnh sửa thủ công rồi chuyển sang bộ phận kế toán nhập lại vào phần mềm lương để tính toán. Sau khi tích hợp theo SOA, hệ thống đóng gói các hàm trích xuất dữ liệu chấm công và thông tin nhân sự thành các Web Services; quy trình tính lương được thực thi tự động qua việc triệu gọi dịch vụ, loại bỏ hoàn toàn các bước nhập tay trung gian.
Đánh giá thực nghiệm tại Công ty G5 cho thấy:
- Hệ thống tích hợp đảm bảo các phân hệ nghiệp vụ vận hành bình thường, đồng thời tốc độ xử lý và kết xuất báo cáo tổng hợp nhanh gấp nhiều lần so với quy trình thủ công trước đây.
- Khả năng thích ứng linh hoạt: Khi quy trình tính lương hoặc cơ cấu phòng ban thay đổi, chỉ cần cấu hình lại luồng dịch vụ mà không cần lập trình lại mã nguồn của các ứng dụng thành phần.
- Tác giả lập bảng so sánh chi phí và thời gian giữa việc tích hợp theo SOA và phương pháp phát triển phần mềm truyền thống (không theo SOA): phương pháp SOA tiết kiệm đáng kể thời gian triển khai do tận dụng tối đa các mã lệnh sẵn có, giảm thiểu chi phí đầu tư mua sắm mới và không làm phát sinh chi phí đào tạo lại người dùng cuối đối với các ứng dụng cũ.
Cuối chương, luận án đưa ra các khuyến nghị cụ thể cho doanh nghiệp về góc độ kỹ thuật (chuẩn hóa dữ liệu đầu vào, bảo đảm an ninh mạng) và góc độ quản lý (cam kết của lãnh đạo, phân công trách nhiệm vận hành).
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn được luận án tổng kết như sau:
Về mặt lý luận:
- Làm sâu sắc thêm lý luận về tính cấp thiết của việc nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin và tích hợp hệ thống trong khối DNNVV dịch vụ tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế và bùng nổ Internet.
- Xác định được 5 bài toán nghiệp vụ phổ biến nhất được triển khai ứng dụng hệ thống thông tin quản lý trong khối DNNVV dịch vụ ở Việt Nam (Kế toán tài chính, Lương, Nhân sự, Bán hàng, Kho).
- Hệ thống hóa phương pháp luận tích hợp ứng dụng theo giải pháp kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) và công nghệ Web Services; lập luận vững chắc về sự phù hợp của giải pháp này đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, nguồn vốn thấp và quy trình nghiệp vụ chưa chuẩn hóa.
- Xây dựng mô hình kiến trúc hệ thống thông tin tích hợp theo giải pháp SOA dành riêng cho DNNVV dịch vụ, cho phép tích hợp các ứng dụng sẵn có và sẵn sàng mở rộng các ứng dụng mới.
- Đề xuất quy trình chuẩn hóa gồm 6 bước để triển khai áp dụng mô hình tích hợp ứng dụng trong môi trường doanh nghiệp.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, khách quan về mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của hơn 200 DNNVV lĩnh vực dịch vụ tại ba địa bàn trọng điểm (Hà Nội, Nghệ An, TP. Hồ Chí Minh) qua các chỉ tiêu: đầu tư hạ tầng, số lượng phần mềm quản trị, tình trạng nhập - đồng bộ - lưu trữ dữ liệu và mức độ tương tác giữa các ứng dụng.
- Đưa ra giải pháp kỹ thuật giúp doanh nghiệp tích hợp hệ thống dựa trên hạ tầng công nghệ thông tin sẵn có, tiết kiệm chi phí tài chính, rút ngắn thời gian triển khai và hạn chế tối đa việc phải đào tạo lại nhân viên vận hành so với giải pháp thay thế bằng ERP đóng gói.
- Thiết lập tập hợp dịch vụ Web dùng chung có tính tái sử dụng cao, tạo nền tảng để doanh nghiệp nhanh chóng lắp ghép khi phát triển phần mềm mới hoặc mở rộng giao tiếp liên kết với hệ thống của đối tác (B2B).
- Nâng cao tính linh hoạt trong quản lý quy trình nghiệp vụ (BPM), giúp doanh nghiệp dịch vụ dễ dàng điều chỉnh quy trình kinh doanh theo biến động của thị trường mà không làm phá vỡ cấu trúc hệ sinh thái công nghệ thông tin hiện hữu.
- Kiểm chứng thành công giải pháp trên thực tế tại Công ty Cổ phần Công nghệ G5, khẳng định tính đúng đắn, tính khả thi của mô hình đề xuất và quy trình 6 bước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Dữ liệu điều tra sơ cấp được thu thập trong năm 2015, tập trung chủ yếu tại ba tỉnh, thành phố (Nghệ An, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh), do đó chưa bao quát hết đặc thù công nghệ thông tin của các doanh nghiệp dịch vụ tại các vùng sâu, vùng xa hoặc các vùng kinh tế khác.
- Phạm vi đối tượng chỉ giới hạn trong khối DNNVV hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ; các đặc thù của doanh nghiệp sản xuất, chế biến chưa được xem xét trong mô hình.
- Hệ thống tích hợp thử nghiệm mới dừng lại ở việc kết nối 5 ứng dụng quản lý nội bộ cơ bản tại một doanh nghiệp cụ thể (Công ty Cổ phần Công nghệ G5), chưa triển khai thử nghiệm trên diện rộng với nhiều loại hình dịch vụ đặc thù khác nhau.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát thực trạng sang các loại hình doanh nghiệp thuộc các ngành kinh tế khác và các địa bàn kinh tế đa dạng hơn.
- Nghiên cứu phát triển mô hình tích hợp hệ thống thông tin liên tổ chức (B2B), kết nối hệ thống của DNNVV với các cổng thanh toán điện tử, ngân hàng, cơ quan thuế và hệ thống của các đối tác cung ứng dịch vụ.
- Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp điện toán đám mây kết hợp với SOA để tối ưu hóa hơn nữa chi phí hạ tầng máy chủ cho các doanh nghiệp siêu nhỏ.
- Hoàn thiện khung bảo mật, an toàn thông tin chuyên sâu cho các dịch vụ Web trong môi trường truyền thông mở qua mạng Internet.
Giá trị tham khảo
Bản luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Hệ thống thông tin quản lý, Tin học kinh tế: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp vận dụng khung lý thuyết Hevner (2004) trong nghiên cứu hệ thống thông tin, phương pháp thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát thực trạng diện rộng và thử nghiệm kỹ thuật (Design Science Research).
- Đối với giảng viên đại học: Cung cấp tư liệu giảng dạy thực tế về môn học Kiến trúc hướng dịch vụ, Tích hợp hệ thống thông tin, Phân tích thiết kế hệ thống và Quản lý quy trình nghiệp vụ (BPMN).
- Đối với cán bộ quản lý công nghệ thông tin và chủ doanh nghiệp dịch vụ: Cung cấp căn cứ thực tiễn và quy trình 6 bước rõ ràng để giải quyết bài toán "đảo thông tin", tích hợp các phần mềm kế toán, nhân sự, bán hàng sẵn có với chi phí thấp mà không nhất thiết phải đầu tư các hệ thống ERP tốn kém.
- Đối với các doanh nghiệp phát triển phần mềm trong nước: Đưa ra cơ sở khoa học để thiết kế các gói sản phẩm, dịch vụ tích hợp lớp giữa (middleware) và tư vấn kiến trúc công nghệ thông tin phù hợp với năng lực chi trả của số đông DNNVV tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ doanh nghiệp triển khai hệ thống ERP trong mẫu khảo sát của luận án là bao nhiêu và so với số liệu toàn quốc như thế nào?
Trong cuộc điều tra khảo sát hơn 200 DNNVV lĩnh vực dịch vụ tại Hà Nội, Nghệ An và TP. Hồ Chí Minh của tác giả, chỉ có đúng 2% số doanh nghiệp đã triển khai hệ thống ERP. Con số này thấp hơn tỷ lệ 3,48% do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố chính thức trên phạm vi toàn quốc (vốn chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp quy mô lớn).
2. Năm bài toán nghiệp vụ phổ biến nhất trong các DNNVV lĩnh vực dịch vụ được luận án xác định là những bài toán nào?
Qua kết quả xử lý số liệu điều tra thực trạng, tác giả xác định 5 bài toán nghiệp vụ được triển khai phần mềm quản lý nhiều nhất gồm: (1) Quản lý kế toán tài chính; (2) Quản lý lương; (3) Quản lý nhân sự; (4) Quản lý bán hàng; (5) Quản lý kho.
3. Vì sao luận án khẳng định mô hình ERP quốc tế không phù hợp với đa số DNNVV dịch vụ tại Việt Nam?
Dựa trên các nghiên cứu của Dimitrios Maditinos và cộng sự (2012) kết hợp với thực trạng khảo sát, tác giả chỉ ra mô hình ERP quốc tế đòi hỏi kinh phí rất lớn (từ hàng trăm nghìn đến hàng triệu USD), hạ tầng công nghệ thông tin cao, nhân lực đào tạo bài bản và đặc biệt là quy trình nghiệp vụ phải chuẩn hóa theo chuẩn quốc tế ISO. Trong khi đó, DNNVV Việt Nam có nguồn vốn mỏng, trình độ công nghệ thông tin thấp, quản trị phân mảnh và quy trình nghiệp vụ mang tính tự phát, thường xuyên thay đổi nên việc áp dụng ERP dễ dẫn đến thất bại.
4. Luận án đề xuất quy trình triển khai mô hình tích hợp gồm bao nhiêu bước và thử nghiệm tại đơn vị nào?
Tác giả đề xuất quy trình triển khai mô hình tích hợp chuẩn hóa gồm 6 bước: (1) Khảo sát hiện trạng; (2) Phân tích bài toán quản lý và xác định điểm tích hợp; (3) Thiết kế danh mục dịch vụ Web; (4) Cài đặt đóng gói chức năng thành dịch vụ; (5) Xây dựng ứng dụng tích hợp phối ghép dịch vụ; (6) Thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện. Mô hình được triển khai thử nghiệm thực tế thành công tại Công ty Cổ phần Công nghệ G5.
5. Trong hệ thống thử nghiệm tại Công ty Cổ phần Công nghệ G5, những ứng dụng cụ thể nào đã được tích hợp thành công?
Hệ thống thử nghiệm đã tích hợp 5 ứng dụng quản lý độc lập vốn chạy trên các ngôn ngữ lập trình và hệ quản trị cơ sở dữ liệu khác nhau, bao gồm: Quản lý tài khoản, Quản lý chấm công, Quản lý nhân sự, Quản lý lương và Quản lý kế toán tài chính, tập trung tự động hóa hoàn toàn quy trình nghiệp vụ tính lương.
Kết luận
Luận án của tác giả Trần Thị Kim Oanh đã giải quyết trọn vẹn câu hỏi quản lý về giải pháp tích hợp hệ thống thông tin cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa lĩnh vực dịch vụ tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khung lý thuyết của Hevner (2004), dữ liệu điều tra thực trạng tại ba trung tâm kinh tế và thử nghiệm kỹ thuật thực tế tại doanh nghiệp, nghiên cứu đã chứng minh tính khả thi của giải pháp kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) và công nghệ Web Services. Mô hình kiến trúc đề xuất cùng quy trình triển khai 6 bước cung cấp phương án kỹ thuật hiệu quả, giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa các phần mềm sẵn có, xóa bỏ tình trạng phân mảnh dữ liệu, giảm thiểu chi phí đầu tư và nâng cao năng lực thích ứng của quy trình kinh doanh.