Chương 1, Chương 2 và Chương 3, trong chương này tác giả đề xuất mô hình kiến trúc hướng dịch vụ cho khối DNNVV lĩnh vực dịch vụ và quy trình triển khai áp dụng mô hình; tiến hành tích hợp thử nghiệm một số ứng dụng Luận án tiến sĩ Kinh tế 12 cơ bản cho một doanh nghiệp cụ thể. Từ kết quả thử nghiệm, đề xuất một số kiến nghị cho doanh nghiệp khi triển khai giải pháp SOA. Tổng quan tình hình nghiên cứu Thế nào là một HTTT tích hợp? Đã có nhiều định nghĩa về HTTT tích hợp được nhìn từ các góc độ khác nhau. Dưới góc độ công nghệ “Một ứng dụng tích hợp là một ứng dụng được tạo bởi sự tích hợp của hai hay nhiều ứng dụng đã tồn tại.
Sự tích hợp ứng dụng là quá trình hướng tới mục tiêu của sự thiết đặt các sự liên kết giữa các yếu tố của hai hay nhiều ứng dụng ” (M Solotruk, M Krištofič, 1980; Nguyễn Văn Vỵ, 2002). Dưới góc độ quản lý thì “Ứng dụng tích hợp là loại ứng dụng có khả năng cung cấp thông tin đa dạng, hỗ trợ quá trình ra quyết định ở nhiều mức quản lý khác nhau trong nhiều lĩnh vực khác nhau” (Trần Thị Song Minh, 2012). Hiện nay, trong điều kiện thế giới thay đổi nhanh, cạnh tranh gay gắt, tích hợp hệ thống là một nhu cầu cấp thiết cho sự thích nghi và phát triển của mỗi tổ chức. Tích hợp hệ thống như thế nào để giúp doanh nghiệp có thể tiết kiệm chi phí, đầu tư từng bước theo nhu cầu hoạt động nghiệp vụ, quản lý và phù hợp với khả năng tài chính của họ là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển ứng dụng CNTT nói chung, và nghiên cứu chuyên sâu về phát triển ứng dụng tích hợp trong DNNVV được công bố trên các tạp chí có uy tín. Từ những năm 1980 của thế kỷ 20, đã có nhiều nhà nghiên cứu HTTT quan tâm đến vấn đề tích hợp ứng dụng. Krištofič (1980) với nghiên cứu “Nâng cao mức độ tích hợp ứng dụng và phát triển ứng dụng tích hợp”, đã đưa ra các khái niệm cốt lõi về HTTT, HTTT tích hợp, sự cần thiết của việc tích hợp HTTT cũng như mục tiêu của tích hợp HTTT. Đặc biệt, tác giả đã đề cập đến các mức độ tích hợp hệ thống thông tin và làm thế nào để nâng cao mức độ tích hợp hệ thống thông tin trong doanh nghiệp.
Nhiều bài báo đã khẳng định xu thế tất yếu của việc tích hợp ứng dụng doanh nghiệp trong thời đại kinh doanh toàn cầu. Nghiên cứu của Norshidah Mohame (2013) “Tích hợp HTTT: tổng quan và phân tích tình huống cụ thể”, đã có cái nhìn sâu sắc về đặc điểm, lợi ích, sự cần thiết của việc tích hợp ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, đồng thời cũng chỉ ra những thách thức của vấn đề tích hợp. Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan lý thuyết, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tiếp cận nghiên cứu tình huống đối với một tổ chức cụ thể. Nghiên cứu “Vai trò của ứng dụng CNTT và truyền thông: nhìn từ doanh nghiệp nhỏ và vừa” của Hellen Shiels và cộng sự năm 2003, đã nhận định rằng: sự ra đời và phát triển của Internet đã buộc các doanh nghiệp và các tổ chức đánh giá lại hoạt động kinh doanh hiện tại để có giải pháp đổi mới, làm hài lòng khách hàng hiện tại và cả khách hàng tiềm năng.
Luận án tiến sĩ Kinh tế 13 Nghiên cứu đã phân tích thí điểm 24 DNNVV, nhằm phát hiện những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định và mức độ tinh tế ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp. Các tác giả cũng đã phân tích các phương pháp sử dụng, tạo thuận lợi cho việc giới thiệu và áp dụng các công nghệ mới với tầm nhìn đạt được là tích hợp quy trình kinh doanh. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Martin Hughes và cộng sự (2003) đã khám phá sự tiến bộ của hệ thống liên tổ chức từ hệ thống đóng truyền thống đến hệ thống mở linh hoạt dựa trên Internet. Nghiên cứu đã điều tra 25 DNNVV có ứng dụng hệ thống liên tổ chức dựa trên Internet với các công nghệ mới.
Các doanh nghiệp này lấy khách hàng làm trung tâm và đã sử dụng Internet, công nghệ Web để đưa sản phẩm và dịch vụ của họ đến khách hàng ngày càng hiệu quả hơn (Martin Hughes và cộng sự, 2003). Bên cạnh những nghiên cứu về lợi ích của tích hợp ứng dụng, nhiều nghiên cứu cũng đã phân tích sâu sắc những khó khăn mà doanh nghiệp phải đối mặt với tích hợp ứng dụng. Ngoài những nghiên cứu về vai trò, lợi ích của việc tích hợp ứng dụng trong doanh nghiệp, trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tích hợp ứng dụng của lãnh đạo doanh nghiệp cũng như khó khăn, thách thức của vấn đề tích hợp. Đặc biệt là có nhiều nghiên cứu về sự thay đổi văn hóa doanh nghiệp trong môi trường tích hợp ứng dụng (Alexandra Simon, 2012; Teresa, 2012).
Trong nghiên cứu “Khó khăn và lợi ích của tích hợp ứng dụng” của Alexandra Simon và cộng sự (2012), đã nêu rõ 4 nhóm khó khăn trong việc tích hợp ứng dụng, bao gồm: (1) Thiếu nguồn lực, chẳng hạn như thiếu chuyên gia tư vấn, thiếu đội ngũ kỹ thuật, chi phí thời gian cho việc tích hợp; (2) Thiếu sự thống nhất giữa các chuẩn trong doanh nghiệp, như sự khác biệt về mô hình các chuẩn của quy trình nghiệp vụ; (3) Khó khăn nội bộ, như thiếu động lực của nhân viên, hạn chế về văn hóa doanh nghiệp; (4) Khó khăn về nguồn nhân lực, như thiếu đội ngũ nhân viên làm việc đạt chuẩn, thiếu sự phối hợp giữa các đơn vị phòng ban. Như vậy, trước khi triển khai tích hợp ứng dụng, doanh nghiệp cần chủ động đánh giá và lường trước những khó khăn để có thể hạn chế sự rủi ro. Nói đến tích hợp hệ thống theo giải pháp SOA phải kể đến các cuốn sách của các tác giả Thomas Erl, Mark và Bell, Daniel Minoli. Thomas Erl đã có một xê ri các cuốn sách về SOA.
Trong cuốn “Kiến trúc hướng dịch vụ: khái niệm, công nghệ và thiết kế” (Thomas Erl, 2005) đã nêu các khái niệm, tính chất, nền tảng lý thuyết của SOA và Web Services cũng như lợi ích kinh tế mà SOA mang lại. Nội dung cuốn sách giúp nhà phát triển CNTT hiểu được làm thế nào để xây dựng mô hình SOA, những công nghệ hỗ trợ mô hình SOA. Cuốn tiếp theo phải kể đến là “Kiến trúc hướng dịch vụ: nguyên tắc thiết kế dịch vụ” (Thomas Erl, 2007), mục đích của cuốn sách này nói Luận án tiến sĩ Kinh tế 14 về nguyên lý thiết kế dịch vụ - yếu tố then chốt trong kiến trúc hướng dịch vụ. Đây có thể coi là những tài liệu gốc dùng tham khảo cho các nghiên cứu về SOA.
Thomas Erl đã đề xuất quy trình thiết kế hệ thống theo SOA theo cả hai chiến lược Top-down và Bottom-up, tuy nhiên đây đang là quy trình khái quát cho mọi tổ chức, chưa đi vào chi tiết và cụ thể cho tổ chức doanh nghiệp để họ có thể áp dụng được ngay. Hai tác giả Mark và Bell trong cuốn “Kiến trúc hướng dịch vụ: kế hoạch và hướng dẫn triển khai cho doanh nghiệp” (Marks.M, 2006) đã đề cập đến việc lập kế hoạch và cách thức triển khai kiến trúc hướng dịch vụ trong doanh nghiệp. Cuốn sách giúp nhà quản trị CNTT, lãnh đạo doanh nghiệp trả lời những câu hỏi như: làm thế nào để bắt đầu với SOA? bắt đầu từ đâu? tập trung chính vào những điểm nào? nên bắt đầu với những dịch vụ gì?. giúp doanh nghiệp đạt được mục đích kinh doanh như mong muốn.
Tác giả Mike Rosen và cộng sự đã viết cuốn “Kiến trúc hướng dịch vụ và chiến lược thiết kế” (Mike Rosen và cộng sự, 2008) cung cấp cho các kiến trúc sư, nhà thiết kế và các nhà phân tích các nguyên tắc và kỹ thuật cần thiết để tạo ra kiến trúc hướng dịch vụ chất lượng cao cùng với các giải pháp. Trên thế giới đã có hàng trăm bài báo, công trình nghiên cứu về SOA, đặc biệt là SOA cho doanh nghiệp, SOA cho trường học hay SOA trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng (WU Ying-pei, SHU Ting-ting, 2011). Trong bài báo của mình năm 2013, hai tác giả Mohsen Mohammadi và Muriati Mukhtar (2013) đã đề cập đến nền tảng lý thuyết SOA và cơ sở phát triển HTTT tích hợp bằng giải pháp SOA. Kết quả bài báo là các mô hình HTTT tích hợp dựa trên SOA.
Tác giả Saulo Barbará de Oliveira và cộng sự (2012) trong cuốn “Thông tin, kiến trúc hướng dịch vụ và công nghệ Web Services: khả năng tích hợp và tổ chức linh hoạt” đã đưa ra mô hình kiến trúc thông tin mới theo SOA và công nghệ Web Services, giúp giải quyết mối quan tâm lớn nhất của doanh nghiệp liên quan đến những khó khăn trong việc thực hiện mô hình kinh doanh và CNTT. Về vấn đề ứng dụng SOA trong thương mại điện tử cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Sự phát triển nhanh chóng của CNTT đã góp phần vào sự phát triển của hệ thống thương mại điện tử trên phương diện giảm thời gian thực hiện giao dịch. Tuy nhiên, đối với thương mại điện tử tính an ninh, bảo mật là vấn đề hết sức quan trọng.
Luhach và cộng sự (2014) đã đưa ra một khung an ninh cho thương mại điện tử đối với DNNVV dựa trên kiến trúc hướng dịch vụ. Đồng thời, nghiên cứu cũng đã tiến hành phân tích các cuộc tấn công bảo mật nổi bật có thể được ngăn chặn. Kiến trúc hướng dịch vụ đã được nhiều nhà cung cấp giải pháp lớn trên thế giới hướng tới và đầu tư phát triển mạnh. Năm 2009, hãng IBM đã có một loạt bài viết về mô hình lập trình SOA để triển khai thực hiện các dịch vụ Web.
Mô hình lập trình Luận án tiến sĩ Kinh tế 15 IBM với kiến trúc hướng dịch vụ cho phép các lập trình viên không chuyên tạo ra và tái sử dụng các tài sản CNTT mà không cần thông thạo các kỹ năng CNTT. Mô hình bao gồm các kiểu thành phần, các kết nối giữa chúng, các bản mẫu, các bộ tiếp hợp ứng dụng, biểu diễn dữ liệu đồng dạng và trục tích hợp doanh nghiệp ESB. Không đứng ngoài cuộc, Oracle và Microsoft cũng đã đầu tư rất mạnh vào SOA. Kiến trúc hướng dịch vụ đã được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận và nó cũng đã chứng tỏ được những lợi ích đem lại, đặc biệt là sự nhanh nhạy về mặt tổ chức.