phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu kham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chƣơng 2: Thiết kế câu hỏi khách quan dạng nhiều lựa chọn (MCQ) dạy học chƣơng III: Tuần hoàn, chƣơng V: Tiêu hoá- sinh học 8, Trung học cơ sở. Chƣơng 3: Sử dụng câu hỏi khách quan dạng nhiều lựa chọn (MCQ) dạy học chƣơng III: Tuần hoàn, chƣơng V: Tiêu hoá- sinh học 8, Trung học cơ sở. Chƣơng 4: Thực nghiệm sƣ phạm 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Trên thế giới Trong quá trình giáo dục luôn tạo ra những biến đổi nhất định trong con ngƣời. Để kiểm chứng cho những thay đổi trong con ngƣời. Trong lịch sử có rất nhiều phƣơng pháp đánh giá đã đƣợc nghiên cứu và sử dụng. Từ những năm 2000 Tr.
CN, ngƣời Trung Hoa đã biết dùng trắc nghiệm trí tuệ để chọn ngƣời hầu,thê thiếp. Theo questin Stodola, Kemer Stordahl, Võ Ngọc Lan, Nguyễn Phụng Hoàng [17]. Khoa học đánh giá bằng trắc nghiệm lần đầu tiên đƣợc tiến hành vào thế kỉ XVII - XVIII ở khoa vật lí, tâm lí và sau đó lan dần sang nghành Động vật học. Phòng thí nghiệm tâm lí đầu tiên đƣợc Wichelm Weent thành lập tại Leipzig (Đức) năm 1879.
Ban đầu các nhà nghiên cứu chú trọng đến các phép đo có liên quan đến thính giác, thị giác, tốc độ phản xạ, sau đó mới nghiên cứu đến thời gian nhận thức, tốc độ học tập .Khoa học về trắc nghiệm thực sự phát triển mạnh trong thế kỉ XX. Năm 1904 Alfred Binet - một nhà tâm lý ngƣời Pháp khi nghiên cứu khảo sát những trẻ em mắc bệnh tâm thần, không có khả năng tiếp thu trí thức bằng cách dạy thông thƣờng ở trƣờng học, cùng với cộng sự ông đã phát hiện ra bài trắc nghiệm về trí thông minh. Theo Trần Bá Hoành, vào đầu thế kỉ XX, E. Thorm Dike là ngƣời đầu tiên đã dùng TN nhƣ một phƣơng pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức HS, bắt đầu dùng với môn số học và sau đó là một số loại kiến thức khác.
Đến năm 1923, ở Mỹ, bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên đƣợc ra đời, có tên gọi là Stanford Achievenment Test. Với bộ trắc nghiệm này, HS đƣợc trắc nghiệm với mục đích xem họ có thể nhớ đƣợc tƣ liệu đã học từ các bài giảng và SGK nhanh chóng nhƣ thế nào. Các công cụ này thực sự có nhiều thuận lợi (nhanh chóng, chính xác, khách quan) nên đƣợc nhiều nhà giáo dục quan tâm, hứng thú.Với việc đƣa vào chấm trắc nghiệm 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bằng máy của IBM năm 1935, việc thành lập Hội quốc gia về Đo lƣờng trong giáo dục vào thập niên 1950, sự ra đời của hai tổ chức tƣ nhân Educational Testing Services (ETS) năm 1947 và American College Testing (ACT) năm 1959, hai tổ chức làm trắc nghiệm lớn thứ nhất và thứ hai Hoa Kì, một nghành công nghiệp về trắc nghiệm đã hình thành. Trong thời kì đầu việc sử dụng phƣơng pháp trắc nghiệm ở các nƣớc phƣơng Tây đã có một số sai lầm nhƣ sa vào quan điểm hình thức, máy móc trong việc đánh giá năng lực trí tuệ, chất lƣợng kiến thức của HS, hoặc quan điểm phân biệt giai cấp, phủ nhận năng lực học tập của con em nông dân lao động.
Ở Liên Xô cũ, từ năm 1926 đến 1931 có một số nhà sƣ phạm tại Matxcova Leningrat, đã làm thí nghiệm dùng trắc nghiệm để chuẩn đoán đặc điểm tâm lí cá nhân và kiểm tra kiến thức HS. Nhƣng do ảnh hƣởng của các sai lầm nói trên, sử dụng mà chƣa thấy hết nhƣợc điểm của trắc nghiệm nên thời kì này tại Liên Xô có nhiều ngƣời phản đối dùng trắc nghiệm. Chỉ từ năm 1963, tại Liên Xô mới phục hồi việc sử dụng trắc nghiệm để kiểm tra kiến thức HS. Nhƣ vậy đã có nhiều những lời phê bình, chỉ trích đối với khoa học trắc nghiệm, nhƣng chúng không đánh đổ đƣợc nó mà chỉ làm cho nó tự điều chỉnh và phát triển mạnh mẽ hơn.
Ngày nay ở nhiều nƣớc trên thế giới, trắc nghiệm khách quan đã trở thành công cụ trong các trƣờng học, thậm chí trong các chƣơng trình đạo tạo từ xa. Trong các cuộc thi Olympic quốc tế về Sinh học (IBO), đã chủ yếu sử dụng phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan để đo mức độ hiểu biết của HS. Phƣơng pháp này đã nhận đƣợc sự hƣởng ứng của đông đảo các nƣớc tham gia và tỏ ra có nhiều ƣu điểm trong khâu chấm bài, làm bài vì các HS dự thi đa số bất đồng về ngôn ngữ. Những thành tựu lí luận về TNKQ đã phát triển mạnh mẽ, đạt đƣợc những thành tựu quan trọng nâng cao độ chính xác.
Công nghệ trắc nghiệm nhờ máy tính ra đời, công nghệ chấm tự động các bài trắc nghiệm đã đƣợc triển khai có hiệu quả trong nhiều năm gần đây. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ở Việt Nam Trên thế giới TNKQ đƣợc áp dụng từ rất sớm. Song ở Việt Nam TNKQ lại xuất hiện muộn hơn và chỉ tập trung ở các thành phố lớn hoặc tại các viện nghiên cứu, các trƣờng đại học đầu nghành của cả nƣớc.
Ở miền Nam, trƣớc năm 1975, trắc nghiệm khách quan phát triển khá mạnh. Từ năm 1956 đến những năm 1960 trong các trƣờng học đã sử dụng rộng rãi hình thức thi trắc nghiệm khách quan ở bậc trung học, sớm nhất là trong SH. Năm 1963, “Trắc nghiệm vạn vật lớp 12” của Lê Quang Nghĩa [22] đƣợc xuất bản. Năm 1964 “Phƣơng pháp học và thi vạn vật lớp 12” của Phùng văn Hƣớng [14] đƣợc xuất.
Năm 1969, Dƣơng Thiệu Thống [30] đã giảng dạy “Trắc nghiệm thành quả học tập” cho các lớp cao học và Tiến sĩ Giáo dục tại Đại học sƣ phạm Sài Gòn. Nhƣ vậy, khoa học trắc nghiệm khách quan chính thức đƣợc đƣa vào chƣơng trình đào tạo GV và các nghiên cứu về trắc nghiệm khách quan cũng khá phát triển lúc bấy giờ. Nha Khảo thí (Trực thuộc Bộ giáo dục chế độ cũ) là nơi chuyên phát hành các đề thi trắc nghiệm khách quan trong các kì thi cho các trƣơng trung học. Năm 1974, kì thi tú tài toàn phần đã đƣợc thi bằng trắc nghiệm khách quan.
Sau năm 1975 một số trƣờng vẫn áp dụng trắc nghiệm khách quan song có nhiều tranh luận nên hay không nên áp dụng trắc nghiệm khách quan trong thi cử. Từ những năm 1990, TNKQ thực sự đƣợc quan tâm và áp dụng ở nhiều cấp học. Đáng chú ý nhất là: Năm 1990, Bộ Y tế với sự giúp đỡ của đề án “Hỗ trợ hệ thống đào tạo” của chƣơng trình hợp tác việt Nam –Thụy điểm (03/SIDA) đã mở những khóa đào tập huấn cho giảng viên trƣờng Y tế, đã xây dụng đƣợc bộ công cụ đánh giá bằng TNKQ chuyên khoa. Năm 1994 Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã phối hợp với Viện công nghệ Hoàng Gia Melbourne (Australia), đã tổ chức các cuộc hội thảo với chủ đề “Kĩ thuật xây dựng CH TNKQ” tại các thành phố lớn: Hà Nội, Huế, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Năm 1995, với sự tài trợ của UNESCO trƣờng Đại học Quốc Gia Hà Nội cũng đã 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mở những lớp tập huấn về phƣơng pháp xây dựng CH TNKQ cho nhiều giảng viên. Tại các trƣờng Đại học phƣơng pháp TNKQ đƣợc sử dụng rộng rãi. Tiêu biểu là Đại học Huế, năm 1993 đã đồng loạt triển khai việc soạn thảo ngân hàng CH Test cho từng chuyên nghành. Những nghiên cứu đầu tiên về trắc nghiệm khách quan ở miền Bắc là của Trần Bá Hoành [6].
Năm 1971, ông công bố: “Dùng phƣơng pháp test để kiểm tra nhận thức của HS về một số khái niệm trong chƣơng trình SH đại cƣơng lớp 9”. Năm 1996 - 1997, ông đã đề cập nhiều đến trắc nghiệm khách quan trong các tài liệu “Đánh giá trong giáo dục”, “tài liệu bồi dƣỡng dạy SGK lớp 12 cải cách giáo dục môn SH”. Năm 1986, khoa sinh - kĩ thuật nông nghiệp (Đại học sƣ phạm Hà Nội I) đã tổ chức các hội thảo về “Phƣơng pháp xây dựng hệ thống CH lựa chọn đa phƣơng án” do J. Herath trình bày và hƣớng dẫn, trong chƣơng trình tài trợ của UNDP.
Nhiều giảng viên đã triển khai xây dựng và áp dụng vào kiểm tra đánh giá ở một số bộ môn. Năm 1990, Bộ Y tế với sự giúp đỡ của đề án “Hỗ trợ hệ thống đào tạo”của chƣơng trình hợp tác Việt Nam –Thụy Điển đã mở khóa tập huấn cho toàn bộ giảng viên các trƣơng y tế, đã xây dựng đƣợc bộ công cụ đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan các chuyên khoa, góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo các trƣờng y dƣợc. Nguyễn Quang Quyền và cộng sự [21] ở bộ môn Giải phẫu học trƣờng Đại học Y dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh đã xuất bản cuốn “Mục tiêu bài giảng và CH trắc nghiệm Giải phẫu học”. Cuốn sách gồm 1000 CH TNKQ và đáp án, giúp sinh viên tự học, tự kiểm tra đánh giá kiến thức giải phẫu của mình.
Luận án tiến sĩ của Ngô Trí Hùng do Nguyễn Quang Quyền hƣớng dẫn, bảo vệ năm 1996 tại Đại học Y dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh cũng về vấn đề này. Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về việc thiết kế và sử dụng CHTNKQ trong dạy học nhƣ: Xây dựng và sử dụng CHTNKQ và câu TLN trong đánh giá kết quả học tập môn giáo dục học, Luận án tiến sĩ. Trần Thị Tuyết Oanh [15], ĐHSP Hà Nội–2000. Xây dựng và sử dụng CHTNKQ dạng 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com MCQ để nâng cao chất lƣợng dạy và học môn di truyền ở trƣờng cao đẳng sƣ phạm.
Luận án tiến sĩ, Vũ Đình Luận [20]. Nhƣ vậy cho đến nay, các nghiên cứu xây dựng CH TNKQ đa số đề cập tới KT-ĐG, tự KT-ĐG sử dụng trong củng cố ôn tập …là xu hƣớng của nhiều tác giả hƣớng đến, chƣa có tác giả nào nghiên cứu thiết kế và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạy học chƣơng III: Tuần hoàn, chƣơng V: Tiêu hóa- sinh học 8, Trung học cơ sở 1. Một số vấn đề về câu hỏi TNKQ 1. Vai trò của câu hỏi TNKQ Trắc nghiệm là phƣơng pháp để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh nhƣ chú ý, tƣởng tƣợng, ghi nhớ, thông minh, năng khiếu…hoặc để kiểm tra, đánh giá một số kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ của học sinh.
TNKQ là dạng TN trong đó mỗi câu hỏi có kèm theo câu trả lời.