Tổng quan nghiên cứu

Năm 2020, Ủy ban nhân dân 16 xã và thị trấn tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp nhận và giải quyết 526.359 bản sao chứng thực từ bản chính cùng 67.308 việc chứng thực chữ ký. Đây là một trong những địa bàn ngoại thành có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất thành phố, với tỷ lệ lao động trong độ tuổi đạt 53,53% (tương đương 396.256 người) và tỷ lệ có việc làm thường xuyên đạt 97,23%. Áp lực gia tăng dân số cơ học kéo theo sự chênh lệch mật độ dân cư sâu sắc: xã Vĩnh Lộc B đạt 7.007 người/km2 trong khi xã Bình Lợi chỉ đạt 668 người/km2. Tình trạng này khiến công tác giải quyết thủ tục hành chính, đặc biệt là lĩnh vực chứng thực, thường xuyên rơi vào tình trạng quá tải nghiêm trọng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ những vướng mắc thực tiễn khi thực hiện thẩm quyền chứng thực theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và Thông tư số 01/2020/TT-BTP, kết hợp với sự chồng chéo từ cơ chế đặc thù chuyển giao hợp đồng nhà đất tại Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 31/2011/QĐ-UBND. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng phân định thẩm quyền, chỉ ra các rào cản về định biên nhân sự và quy trình giải quyết hồ sơ tại cơ sở. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 16 đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Bình Chánh trong mốc thời gian từ khi Nghị định số 23/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đến năm 2021. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, cung cấp giải pháp nâng cao chỉ số hài lòng của tổ chức và công dân vượt mức 85%, đồng thời chuẩn hóa tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn đạt 100% tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng Lý thuyết Quản lý hành chính công mới (New Public Management) với định hướng xây dựng chính quyền phục vụ, thân thiện và hiện đại, kết hợp cùng Lý thuyết Phân cấp, phân quyền và ủy quyền hành chính trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tác động qua lại giữa ba yếu tố: khung thể chế pháp lý, tổ chức bộ máy nhân sự cấp cơ sở và mức độ hài lòng của người dân trong việc thụ hưởng dịch vụ công chứng thực.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm pháp lý cốt lõi:

  1. Thẩm quyền chứng thực: Tổng thể các quyền hạn và nghĩa vụ pháp lý do Nhà nước trao cho cơ quan, người có thẩm quyền để xác nhận tính xác thực, hợp pháp của văn bản, chữ ký và giao dịch.
  2. Chứng thực bản sao từ bản chính: Hoạt động căn cứ vào văn bản gốc để xác nhận tính chính xác của bản sao chụp.
  3. Chứng thực chữ ký: Hoạt động xác nhận chữ ký trên văn bản là của chính người yêu cầu chứng thực.
  4. Người thực hiện chứng thực: Chủ thể mang trách nhiệm cá nhân trực tiếp khi ký và đóng dấu chứng thực (Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã) theo quy định tại khoản 9 Điều 2 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu định tính và định lượng nhằm bảo đảm tính khách quan, đa chiều:

  • Cỡ mẫu và đối tượng khảo sát: Tổng cộng 414 phiếu khảo sát hợp lệ thu thập từ 199 cán bộ, công chức (chiếm 48,2%); 122 công nhân, người lao động (chiếm 29,5%); 55 học sinh, sinh viên (chiếm 13,3%); và 37 nông dân (chiếm 9,0%).
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện, thực hiện khảo sát trực tuyến qua nền tảng Google Forms từ ngày 22/01/2021 đến ngày 28/02/2021.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Báo cáo thống kê công tác chứng thực của Phòng Tư pháp huyện Bình Chánh giai đoạn 2015 - 2020, Niên giám thống kê huyện Bình Chánh năm 2019 và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp từ 414 phiếu điều tra xã hội học.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Phương pháp thống kê mô tả giúp lượng hóa chính xác mức độ nhận thức của người dân, trong khi phương pháp phân tích quy phạm và so sánh luật học làm rõ những khoảng trống, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật hiện hành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra 3 phát hiện thực tiễn quan trọng tại địa bàn huyện Bình Chánh:

Thứ nhất, tình trạng quá tải nghiêm trọng và bất cân đối biên chế giữa các đơn vị hành chính. Năm 2020, toàn huyện chỉ bố trí 28 công chức Tư pháp - Hộ tịch cho 16 xã, thị trấn, giảm 3 biên chế so với 31 công chức năm 2015 do tác động của việc tinh giản theo Nghị định số 34/2019/NĐ-CP. Có 4 xã chỉ có 1 công chức Tư pháp - Hộ tịch phụ trách toàn bộ nhiệm vụ. Áp lực công việc phân hóa gay gắt: xã Vĩnh Lộc A xử lý tới 97.378 bản sao và 98 việc chứng thực hợp đồng trong năm 2020 (trung bình trên 310 yêu cầu/ngày), gấp hơn 15 lần so với xã An Phú Tây (chỉ tiếp nhận 5.011 bản sao và 21 hợp đồng, đạt khoảng 25 - 30 yêu cầu/ngày). Tại xã Tân Nhựt, 1 công chức duy nhất phải gánh khối lượng 48.896 bản sao (150 - 160 yêu cầu/ngày).

Thứ hai, sự xung đột pháp lý về thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản. Theo Quyết định số 31/2011/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, toàn bộ hợp đồng giao dịch nhà đất được chuyển giao sang tổ chức hành nghề công chứng. Tuy nhiên, văn bản này được ban hành dựa trên các căn cứ pháp luật cũ đã hết hiệu lực. Việc tiếp tục áp dụng Quyết định số 31/2011/QĐ-UBND mà không có văn bản điều chỉnh tương thích với Nghị định số 23/2015/NĐ-CP đã giới hạn quyền lựa chọn của người dân và tạo ra sự thiếu đồng bộ trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ ba, nhận thức pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế và sai lệch. Khảo sát 414 đối tượng cho thấy có tới 79,7% người dân ưu tiên chọn Ủy ban nhân dân cấp xã để chứng thực bản sao, trong đó 82,4% là các giấy tờ nhân thân, văn bằng. Đáng chú ý, 52,2% người được hỏi vẫn hiểu sai rằng bản sao chứng thực chỉ có giá trị trong thời hạn 6 tháng (chỉ 23,4% biết luật không quy định thời hạn). Ngoài ra, 6,1% người dân vẫn nhầm lẫn rằng vi bằng do Thừa phát lại lập có giá trị tương đương văn bản chứng thực giao dịch mua bán nhà đất.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các bất cập trên bắt nguồn từ cơ chế giao biên chế "cào bằng" theo xã loại 1 (tối đa không quá 37 người gồm cả cán bộ không chuyên trách) mà không căn cứ vào quy mô dân số và tốc độ đô thị hóa thực tế. Một xã có mật độ dân số 7.007 người/km2 như Vĩnh Lộc B lại có định biên tương tự như xã thuần nông Bình Lợi với mật độ chỉ 668 người/km2.

Để minh họa trực quan các kết quả này, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện qua bảng ma trận so sánh khối lượng thụ lý hồ sơ giữa 16 xã, thị trấn và biểu đồ cột phản ánh sự chênh lệch giữa tỷ lệ người dân nhận thức đúng và sai về thời hạn sử dụng bản sao chứng thực.

So sánh với các nghiên cứu trước đây tại các quận nội thành như Gò Vấp hay Hoàn Kiếm, luận văn khẳng định quy định trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã theo khoản 9 Điều 2 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và trách nhiệm tiếp nhận của công chức tư pháp theo Điều 8 Thông tư số 01/2020/TT-BTP đang tạo thành rào cản lớn. Quy định này "trói buộc" công chức tại Bộ phận Một cửa, làm giảm thời gian thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn khác như hòa giải cơ sở, phổ biến giáo dục pháp luật và theo dõi thi hành án.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý và thực thi thẩm quyền chứng thực, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện khung thể chế pháp luật: Đề nghị Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khẩn trương rà soát, ban hành văn bản thay thế Quyết định số 31/2011/QĐ-UBND trong giai đoạn 2022 - 2023. Mục tiêu là phân định rành mạch phạm vi công chứng và chứng thực hợp đồng bất động sản, bảo đảm 100% văn bản quy phạm pháp luật địa phương tương thích hoàn toàn với Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.
  2. Điều chỉnh cơ chế phân bổ biên chế linh hoạt: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Nội vụ cần thí điểm cơ chế đặc thù cho huyện Bình Chánh, bổ sung tối thiểu 2 đến 3 công chức Tư pháp - Hộ tịch cho các xã có quy mô dân số trên 50.000 người (như Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B) trước quý IV/2022, hướng tới mục tiêu rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ chứng thực xuống dưới 15 phút cho mỗi lượt giao dịch.
  3. Đẩy mạnh chuyển đổi số và chứng thực điện tử: Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh chủ trì đầu tư 100% trang thiết bị quét tài liệu chuyên dụng tại Bộ phận Một cửa của 16 xã, thị trấn. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ cấp bản sao điện tử từ bản chính đạt tối thiểu 35 - 40% trên tổng số hồ sơ tiếp nhận trong giai đoạn 2022 - 2025 theo Nghị định số 45/2020/NĐ-CP.
  4. Nâng cao hiệu quả tuyên truyền và bồi dưỡng nghiệp vụ: Phòng Tư pháp huyện Bình Chánh duy trì đào tạo định kỳ 100% công chức cơ sở hàng quý, đồng thời đẩy mạnh kênh truyền thông pháp lý trên nền tảng số để đạt mốc 15.000 lượt tương tác thường xuyên. Mục tiêu là kéo giảm tỷ lệ người dân hiểu sai về thời hạn sử dụng bản sao từ 52,2% xuống dưới mức 15% vào năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã: Giúp nắm vững quy trình xử lý 10 thủ tục chứng thực theo Quyết định số 1114/QĐ-UBND, phòng ngừa rủi ro giấy tờ giả mạo khi giải quyết hơn 500.000 hồ sơ mỗi năm.
  2. Cơ quan hoạch định chính sách tại Sở Tư pháp và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Cung cấp luận cứ thực tiễn để đánh giá tác động chính sách khi xây dựng quy định bãi bỏ Quyết định số 31/2011/QĐ-UBND và sửa đổi quy chế định biên cấp xã.
  3. Học viên, giảng viên và nhà nghiên cứu Luật Hành chính: Sử dụng nguồn dữ liệu thực chứng 414 phiếu khảo sát và phương pháp tiếp cận đa chiều làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về cải cách thủ tục hành chính.
  4. Văn phòng công chứng, luật sư và tổ chức Thừa phát lại: Nhận diện rõ ranh giới thẩm quyền giữa hoạt động chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã và dịch vụ công chứng, lập vi bằng nhằm tư vấn chính xác cho người dân.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Ủy ban nhân dân cấp xã tại Thành phố Hồ Chí Minh không chứng thực hợp đồng mua bán nhà đất? Theo Quyết định số 31/2011/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành năm 2011, toàn bộ hợp đồng giao dịch liên quan đến bất động sản đã được chuyển giao hoàn toàn cho các tổ chức hành nghề công chứng. Do đó, Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn chỉ còn thẩm quyền chứng thực đối với di chúc và văn bản từ chối nhận di sản là động sản.

Bản sao chứng thực từ bản chính có giá trị pháp lý trong bao lâu? Điều 3 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định bản sao có giá trị sử dụng thay thế cho bản chính mà không giới hạn thời hạn hiệu lực. Khảo sát 414 người cho thấy 52,2% người dân nhầm tưởng thời hạn là 6 tháng. Về nguyên tắc, bản sao chứng thực có giá trị vô thời hạn trừ trường hợp bản chính đã bị thay đổi, hủy bỏ hoặc hết hiệu lực pháp luật.

Công chức Tư pháp - Hộ tịch có được quyền ký trực tiếp vào văn bản chứng thực không? Theo khoản 9 Điều 2 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và Điều 8 Thông tư số 01/2020/TT-BTP, thẩm quyền ký chứng thực và đóng dấu thuộc trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chức Tư pháp - Hộ tịch tại Bộ phận Một cửa chỉ chịu trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ và ký xác nhận tính xác thực của chữ ký trước khi trình lãnh đạo ký.

Mua bán nhà đất bằng hình thức lập vi bằng của Thừa phát lại có giá trị pháp lý thay thế chứng thực không? Vi bằng do Thừa phát lại lập chỉ có giá trị ghi nhận sự kiện giao nhận tiền hoặc giấy tờ giữa các bên, hoàn toàn không có giá trị pháp lý thay thế cho văn bản công chứng hay chứng thực giao dịch quyền sử dụng đất. Kết quả khảo sát ghi nhận 6,1% người dân vẫn hiểu sai, tạo kẽ hở cho các đối tượng môi giới bất động sản lừa đảo.

Người dân cần chuẩn bị giấy tờ gì khi yêu cầu chứng thực chữ ký tại Ủy ban nhân dân xã? Theo Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư số 01/2020/TT-BTP, người yêu cầu chứng thực phải xuất trình bản chính hoặc bản sao có chứng thực giấy tờ tùy thân (Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu còn hạn) và văn bản cần ký. Khảo sát cho thấy 41,1% người dân chưa nắm rõ quy định nên không mang đủ giấy tờ khi đến làm thủ tục.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và Thông tư số 01/2020/TT-BTP.
  • Đánh giá thực trạng áp lực quá tải với 526.359 hồ sơ bản sao và 67.308 việc chứng thực chữ ký tại huyện Bình Chánh trong năm 2020.
  • Chỉ rõ nghịch lý giảm từ 31 xuống 28 công chức tư pháp trong bối cảnh dân số bùng nổ tại các xã đô thị hóa như Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B.
  • Nhận diện xung đột thể chế giữa Quyết định số 31/2011/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các văn bản của Chính phủ.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá về hoàn thiện thể chế, điều chỉnh định biên nhân sự và chuyển đổi số giai đoạn 2022 - 2025.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cái nhìn thực chứng sâu sắc về những khó khăn trong công tác chứng thực tại địa bàn đô thị hóa nhanh, mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về việc đánh giá hiệu quả của mô hình chứng thực điện tử trong giai đoạn 2022 - 2025. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp tục khai thác các phát hiện của luận văn để thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính cơ sở.