CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Cộng đồng “Cộng đồng” là một khái niệm đã và đang được sử dụng khá rộng rãi trên văn đàn khoa học, trong nhiều lĩnh vực thuộc cả Khoa học Xã hội và Nhân văn, Khoa học Tự nhiên như sử học, văn hóa học, xã hội học, tâm lý học, triết học, nhân học, sinh học, nghiên cứu phát triển vv… Vì vậy, một yêu cầu khách quan đặt ra là phải có những cách định nghĩa về khái niệm “cộng đồng” để xây dựng được một định nghĩa vừa đảm bảo tính chặt chẽ, khoa học, vừa có tính công cụ hay tính “thao tác luận” (functionalist) cao, làm cơ sở và là công cụ cho những nghiên cứu về cộng đồng và các vấn đề có liên quan đến cộng đồng. Đây là một vấn đề đã được bàn thảo khá nhiều. Thuật ngữ “cộng đồng” vốn bắt nguồn từ gốc tiếng Latin là “cummunitas”, với nghĩa là toàn bộ tín đồ của một tôn giáo hay toàn bộ những người đi theo một thủ lĩnh nào đó.
Ngày nay, thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong các ngôn ngữ Âu - Mỹ, như trong tiếng Pháp là “communité”, tiếng Anh là “community”, tiếng Đức là “Gemeinschaft” nhưng với những ý nghĩa khác nhau trong những khung cảnh khác nhau. Một thực tế hiển nhiên là, do là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học chuyên ngành khác nhau nên “cộng đồng” cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau và cách thức định nghĩa về khái niệm này cũng không giống nhau Trong lĩnh vực xã hội học, “cộng đồng” là một trong những thuật ngữ công cụ quan trọng đã được tiếp cận và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Từ điển bách khoa mở Wikipedia cho biết: đến giữa thập niên 50 của thế kỷ trước đã có tới 94 định nghĩa khác nhau về “cộng đồng” được nêu ra. Tiếp cận từ góc độ kinh tế học hiện đại, “cộng đồng” được xem như một loại “vốn xã hội” (social capital).
Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là các luận điểm của Robert D. Putnam được trình bày trong công trình “Bowling alone: the Collapse and Revival of American Community” (2000). Theo ông, hai yếu tố đã tạo nên cộng đồng với tính cách là một nguồn vốn xã hội chính là tinh thần gắn kết và sự hình thành các mạng lưới xã hội (social networks), trong đó từng người cảm thấy yên tâm, an toàn khi họ ở trong cộng đồng, trong mạng lưới và do đó sẵn sàng đóng góp, hy sinh vì cộng đồng, bảo vệ 12 lợi ích của cộng đồng trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Đây chính là những luận điểm gốc xây dựng nên cái gọi là “văn hóa tổ chức” hay “văn hóa công ty” hiện nay.
Tại Việt Nam, lần đầu tiên xuất hiện khái niệm “cộng đồng” được xuất hiện vào giữa những năm 1950 thông qua một số hoạt động phát triển cộng đồng tại các tỉnh phía Nam trong lĩnh vực giáo dục. Từ ngành giáo dục, phát triển cộng đồng chuyển sang lĩnh vực cộng tác xã hội. Đến những năm 1960, 1970 hoạt động phát triển cộng đồng được biết đến một cách rộng rãi. Cộng đồng thường xem các nguồn tài nguyên như rừng, đất đai, nguồn nước, … là “ngân hàng” của họ, nơi mà họ có thể dựa vào để sinh sống.
Cộng đồng sử dụng tài nguyên nơi mình sinh sống cùng với sự phát triển các tập quán quản lý riêng. Họ khai thác tài nguyển theo nhiều phương thức và chia sẻ lợi ích từ việc khai thác cho các thành viên khác trong cộng đồng của mình. Việc “chia sẻ nguồn lợi” luôn đi liền với “chia sẻ trách nhiệm bảo tồn” được xem là triết lý sống của các cộng đồng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù tiếp cận từ những góc độ khác nhau, dựa trên những lý thuyết khoa học khác nhau và hướng sự quan tâm học thuật tới những dạng thức cụ thể không giống nhau của cộng đồng, nhưng tựu trung lại, có thể coi những dấu hiệu cốt yếu nhất sau đây để nhận biết hay định nghĩa một cộng đồng: - Cộng đồng phải là tập hợp của một số đông người.
- Mỗi cộng đồng phải có một bản sắc / bản thể riêng (identity). - Các thành viên của cộng đồng phải tự cảm thấy có sự gắn kết với cộng đồng và với các thành viên khác của cộng đồng. - Có thể có nhiều yếu tố tạo nên bản sắc và sức bền gắn kết cộng đồng, nhưng quan trọng nhất chính là sự thống nhất về ý chí và chia sẻ về tình cảm, tạo nên ý thức cộng đồng. - Mỗi cộng đồng đều có những tiêu chí bên ngoài để nhận biết về cộng đồng và có những quy tắc chế định hoạt động, ứng xử chung của cộng đồng.
Trên cơ sở những nội hàm như trên, có thể đi đến một định nghĩa chung nhất như sau về “cộng đồng”: “Cộng đồng là tập hợp người có sức bền cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thành 13 viên của cộng đồng cảm thấy có sự gắn kết họ với cộng đồng và với các thành viên khác của cộng đồng”. Cho đến nay đã có nhiều cách phân loại cộng đồng được đề xuất và áp dụng trong các nghiên cứu về cộng đồng, tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là cách chia cộng đồng thành ba loại sau đây: - Cộng đồng địa lý (Geographic Communities): bao gồm từ các cộng đồng láng giềng, xóm, phố, làng xã, thành phố, vùng, quốc gia, thậm chí cho tới toàn bộ hành tinh. Những cộng động này được gọi là cộng đồng địa vực (location). Loại cộng đồng này còn có thể bao gồm cả những cộng đồng về nhu cầu hay về bản sắc, như cộng đồng người khuyết tật hay cộng đồng người cao tuổi vv… - Cộng đồng tổ chức (Community of Organizations): bao gồm từ gia đình, dòng họ, các mạng lưới, cho tới các tổ chức chính thức, kể cả kết cấu của hệ thống hoạch định chính sách, các tập đoàn kinh tế, hiệp hội nghề nghiệp ở các quy mô nhỏ, dân tộc hay quốc tế.
Rõ ràng là ở đây, sự phân loại cộng đồng sẽ trở nên hết sức phức tạp nếu chúng ta không chỉ được ra hệ tiêu chí nào đó làm chỗ dựa cho sự phân loại cộng đồng. Mỗi loại cộng đồng trong mô hình phân loại trên đây đều đặt trọng số vào một tiêu chí nhất định. Sau đây chúng ta sẽ cùng xem xét từng loại cộng đồng nói trên. Sự tham gia của CĐĐP trong phát triển du lịch a.
Khái niệm Sự tham gia của cộng đồng là một trong những yếu tố quan trọng của công cuộc tìm kiếm thành công về sự bền vững trong ngành du lịch (Sherpa, 2011), nhưng “rất khó để đưa ra một định nghĩa chung về sự tham gia của cộng” (Tosun, 2005). Tosun cho rằng không có sự thống nhất giữa các học giả về định nghĩa của thuật ngữ này và mỗi nhà nghiên cứu cần định nghĩa và giải thích sự tham gia của cộng đồng trong quá trình phát triển du lịch để thực hiện các mục đích cụ thể của họ. Tranh luận về sự tham gia chủ yếu xoay quanh 2 quan điểm: (1) Tham gia là một quá trình; (2) Tham gia là một công cụ để tăng hiệu quả của các dự án hay cùng tạo ra các dịch vụ. 14 * Quan điểm thứ nhất được nhiều sự ủng hộ và nghiên cứu này cũng theo quan điểm này: Theo Oaklay and Marsden (1987): Tham gia là một quá trình, trong đó các cá nhân, gia đình, hay các cộng đồng để tiến hành các công việc vì lợi ích của họ và phát triển các năng lực để đóng góp cho sự phát triển của bản thân và cộng đồng.
Theo Paul (1987): Tham gia cộng đồng là một quá trình năng động của các nhóm hưởng lợi ảnh hưởng đến quản lý và thực hiện các dự án phát triển nhằm gia tăng lợi ích của họ về thu nhập, phát triển cá nhân, tự chủ hoặc các giá trị khác mà họ mong đợi. Theo Ngân hàng thế giới (1991): Sự tham gia là một quá trình trong đó những người với lợi ích chính đáng trong một dự án tác động đến các quyết định ảnh hưởng đến họ. Theo Pretty (1995): Tham gia là một quá trình, trong đó các bên liên quan tác động và chia sẻ quyền kiểm soát thông qua các chương trình phát triển và các quyết định và nguồn lực mà ảnh hưởng đến họ. Như vậy, quá trình tham gia có thể hoặc trong một khuôn khổ chương trình, dự án ( Paul,1987; Pretty,1995) hoặc một giai cấp phát triển nào đó.
Trong đó định nghĩa của Paul (1987) phản ánh nghĩa rộng của quá trình tham gia của cộng đồng và được giải thích bởi quan điểm phát triển của một tổ chức (Ngân hàng thế giới). Cộng đồng tham gia chỉ xảy ra khi mọi người hoạt động phối hợp tư vấn, quyết định hoặc hành động về các vấn đề, trong nhất tốt nhất có thể được giải quyết thông qua một số hành động chung. Sự tham gia này là trong các dự án phát triển, của các bên hưởng lợi, và sự tham gia của các bên hưởng lợi theo hình thức nhóm là dấu hiệu của tham gia của cộng đồng. Nếu trong một giai đoạn phát triển của một cộng đồng, tham gia bao gồm: Quy hoạch/ ra quyết định, thực hiện, hưởng lợi/ chia sẻ lợi ích, và đánh giá.
Còn nếu trong khuôn khổ một dự án/ chương trình, tham gia bao gồm: Chia sẻ thông tin, tư vấn, ra quyết định, và khởi động (khi Paul (1987) xem xét sự tham gia trong các dự án của Ngân hàng thế giới, trong quá trình đó là vòng đời dự án) và đối với các dự án thì việc các giai đoạn/ các bước rất chi tiết và rất khác nhau ở các dự án khác nhau. * Quan điểm thứ hai cho rằng tham gia là một công cụ, tức là: người dân tác động lên các nguồn lực để tạo sản phẩm. Người dân chỉ là để những người khác (trong hoặc ngoài địa phương) sử dụng để ra các dịch vụ, sản phẩm. Người dân chỉ tham gia vào quá 15 trình thực hiện khi đã có các quyết định của người khác trước đó, làm và hưởng lợi từ việc đó (giống như làm thuê).
Quan điểm này không được các học giả ủng hộ. Qua phân tích quan điểm về sự tham gia của cộng đồng trên, tác giả khóa luận cũng đồng ý với quan điểm tham gia là một quá trình: “Sự tham gia của CĐĐP trong phát triển du lịch là một quá trình. Quá trình này được bắt đầu từ khi nhận thức được vai trò, lợi ích của du lịch đối với chính bản thân họ và địa phương họ.