Tổng quan về luận án

Phát triển kinh tế biển và du lịch biển giữ vị trí chiến lược đặc biệt trong cơ cấu kinh tế của các quốc gia ven biển. Tại Việt Nam, Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về "Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" đã xác định du lịch và dịch vụ biển là ngành kinh tế được ưu tiên phát triển hàng đầu trong sáu ngành kinh tế biển then chốt. Cùng với đó, Nghị quyết số 58-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 khẳng định du lịch là một trong năm trụ cột tăng trưởng kinh tế, trong đó du lịch biển là một trong ba mũi nhọn đột phá. Trong bối cảnh phân cấp quản lý nhà nước ngày càng sâu rộng, vai trò kiến tạo, điều tiết và giám sát của chính quyền cấp tỉnh (CQCT) trở thành nhân tố quyết định tính bền vững và năng lực cạnh tranh của các điểm đến du lịch biển.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) lớn nhất trong y văn hiện nay nằm ở sự thiếu hụt các mô hình khung lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm toàn diện về quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với một loại hình kinh tế đặc thù như du lịch biển tại các nền kinh tế đang chuyển đổi và đang phát triển. Hầu hết các công trình quốc tế và trong nước trước đây hoặc chỉ tiếp cận quản lý du lịch chung (Cameron et al., 2001; Nguyễn Hoàng Tứ, 2016; Lê Thị Bình, 2022), hoặc tập trung vào khía cạnh sinh thái, sức chịu tải môi trường đơn lẻ (Orams, 1999; Trương Sỹ Vinh & Nguyễn Thùy Vân, 2020), hoặc thuần túy đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến từ góc độ thị trường (Thái Thị Kim Oanh, 2015; Nguyễn Thị Quỳnh Hương, 2018). Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Nguyên Hồng với đề tài "Quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với du lịch biển - Nghiên cứu tại Thanh Hóa" (Chuyên ngành Quản lý kinh tế, Trường Đại học Vinh, 2024; Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hoài Nam và PGS. Trần Thị Hoàng Mai) đã giải quyết triệt để khoảng trống này bằng cách thiết lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học tường minh:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Bản chất, nội hàm và các tiêu chí cấu thành quản lý của CQCT đối với du lịch biển là gì?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Nội dung quản lý nhà nước của CQCT đối với du lịch biển bao gồm những cấu phần cốt lõi nào và chịu sự tác động của những nhóm nhân tố nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Thực trạng công tác quản lý của chính quyền tỉnh Thanh Hóa đối với du lịch biển giai đoạn 2016–2023 bộc lộ những kết quả, hạn chế và nguyên nhân căn bản nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 4 (RQ4): Cần thực thi những phương hướng và hệ thống giải pháp đột phá nào nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền tỉnh Thanh Hóa đối với du lịch biển đến năm 2030, tầm nhìn 2035?

Tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu, luận án kiểm định 5 giả thuyết nghiên cứu chính:

  • Giả thuyết H1: Môi trường kinh tế - xã hội địa phương có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả quản lý của CQCT đối với du lịch biển.
  • Giả thuyết H2: Thể chế quản trị địa phương và mức độ cải cách hành chính có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả quản lý của CQCT đối với du lịch biển.
  • Giả thuyết H3: Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức quản lý du lịch có tác động cùng chiều (+) mạnh mẽ nhất đến hiệu quả quản lý của CQCT đối với du lịch biển.
  • Giả thuyết H4: Nhận thức, thái độ của cộng đồng người dân và doanh nghiệp du lịch có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả quản lý của CQCT đối với du lịch biển.
  • Giả thuyết H5: Cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng đồng bộ có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả quản lý của CQCT đối với du lịch biển.

Luận án vận dụng tích hợp Khung lý thuyết Quản trị công mới (New Public Management - NPM), Lý thuyết Các bên liên quan (Stakeholder Theory) và Lý thuyết Phát triển du lịch bền vững (Sustainable Tourism Development Theory). Về mặt quy mô và tác động định lượng, nghiên cứu phản ánh sự tăng trưởng vượt bậc của du lịch biển Thanh Hóa: khách quốc tế tăng từ 89.000 lượt (năm 2016) lên 195.000 lượt (năm 2019, tăng hơn 2,19 lần); lượng khách nội địa đạt mốc 7,5 triệu lượt vào năm 2022; tổng doanh thu từ du lịch biển tăng từ 4.650 tỷ đồng (năm 2016) lên trên 15.000 tỷ đồng (năm 2022). Theo Báo cáo thực hiện Quyết định số 290-QĐ/TU, giai đoạn 2016–2020 toàn tỉnh đã thu hút 29 dự án đầu tư vào du lịch biển, chiếm tới 85% tổng kinh phí các dự án đầu tư du lịch toàn tỉnh. Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung vào ba trọng điểm du lịch biển tiêu biểu: Khu du lịch biển Sầm Sơn (thành phố Sầm Sơn), Khu du lịch biển Hải Tiến (huyện Hoằng Hóa) và Khu du lịch biển Hải Hòa (thị xã Nghi Sơn) trong khung thời gian dữ liệu 2016–2023, khảo sát chuyên sâu năm 2022 và định hình giải pháp cho giai đoạn 2025–2030, tầm nhìn đến 2035.


Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn quốc tế và trong nước về quản lý du lịch biển thể hiện sự phân hóa rõ nét qua ba dòng nghiên cứu (research streams) chính:

  Mowforth & Munt                     Carson et al.                       Grönroos (1984)
      (2003)                              (2003)                        Parasuraman et al.
  Sharpley (2009)                     Ruhanen (2013)                          (1985)
   Orams (1999)                        Logar (2010)                        Cronin & Taylor
   Cheong (2002)                    Sakolnakorn et al.                        (1992)
                                          (2013)                        Lê Chí Công (2014)

Dòng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào bản chất kinh tế - sinh thái và tính bền vững của du lịch biển. Mowforth & Munt (2003), Sharpley (2009) và Reid (2003) khẳng định phát triển du lịch biển không thể chỉ chạy theo mục tiêu tối đa hóa doanh thu ngắn hạn mà bắt buộc phải tích hợp các tiêu chuẩn bảo tồn đa dạng sinh học và chia sẻ công bằng sinh kế cho cộng đồng bản địa. Orams (1999) phân loại du lịch biển thành các hoạt động tương tác trực tiếp với môi trường nước mặn chịu ảnh hưởng của thủy triều, đồng thời cảnh báo các áp lực hạ tầng và chất thải. Harriott (2002), Ghosh (2011) và Cheong (2002) chỉ rõ các tác động tiêu cực ngoại biên như xả thải chưa qua xử lý, ô nhiễm nguồn nước mặt và nguy cơ xói mòn các giá trị văn hóa bản địa nếu thiếu quy hoạch không gian bờ biển nghiêm ngặt.

Dòng nghiên cứu thứ hai phân tích vai trò quản trị công và chính sách của chính quyền địa phương. Cameron et al. (2001), Carson et al. (2003) và Brokaj (2014) xác lập các chức năng căn bản của chính quyền địa phương gồm quy hoạch không gian sử dụng đất, đầu tư hạ tầng công cộng, xúc tiến quảng bá và ban hành quy chế điểm đến. Tuy nhiên, tồn tại cuộc tranh luận lý thuyết sâu sắc (scholarly debate) giữa hai trường phái đối lập:

  • Trường phái quản trị tập trung hóa/thể chế can thiệp mạnh (Top-down approach): Đại diện bởi Dredge (2001, 2006) và Cetinel & Yolal (2009) tại Thổ Nhĩ Kỳ, cho rằng chính quyền phải giữ vai trò chỉ huy tuyệt đối thông qua các công cụ pháp lý, quy hoạch tổng thể và hạn ngạch đầu tư nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn thất bại thị trường.
  • Trường phái quản trị phi tập trung và có sự tham gia của các bên liên quan (Bottom-up & Collaborative Governance): Được bảo vệ bởi Richards & Hall (2003), Presenza et al. (2013) tại Ý, và Sulistiowati et al. (2020) tại Indonesia. Nhóm tác giả này lập luận rằng các quyết định đơn phương từ chính quyền thường thất bại nếu thiếu sự đồng thuận, hợp tác công - tư (PPP) và sự tham gia thực chất của cộng đồng cư dân địa phương.

Dòng nghiên cứu thứ ba tập trung vào chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch biển. Xuất phát từ nền tảng lý thuyết khoảng cách chất lượng dịch vụ SERVQUAL của Parasuraman et al. (1985), mô hình chất lượng kỹ thuật - chức năng của Grönroos (1984) và SERVPERF của Cronin & Taylor (1992), các tác giả trong nước như Nguyễn Văn Mạnh & Lê Chí Công (2013), Lê Chí Công (2014), Thái Thị Kim Oanh (2015), Nguyễn Thị Quỳnh Hương (2018) và Phan Văn Phùng (2021) đã điều chỉnh các thang đo chất lượng điểm đến phù hợp với đặc thù biển đảo.

So sánh quốc tế:

  1. Nghiên cứu của Logar (2010) tại thị trấn ven biển Crikvenica (Croatia): Đánh giá hiệu quả của hệ thống công cụ chính sách kinh tế (thuế môi trường, phí bãi biển, trợ cấp tài chính, phân vùng bảo tồn). Logar chỉ ra rằng nhiều chính sách được cộng đồng ủng hộ cao nhưng lại thiếu tính khả thi tài chính khi địa phương triển khai thực tế.
  2. Nghiên cứu của Sakolnakorn et al. (2013) tại Phuket (Thái Lan): Phân tích các mối đe dọa nghiêm trọng trong quản lý du lịch biển như quá tải hạ tầng giao thông, khủng hoảng xử lý rác thải đô thị biển và xung đột lợi ích giữa cư dân bản địa với các tập đoàn lữ hành lớn, từ đó đòi hỏi chính quyền phải tái cấu trúc bộ máy điều phối đa ngành.

Định vị của luận án: Khắc phục sự phân mảnh của các nghiên cứu tiền nhiệm tại Việt Nam (như Mai Anh Vũ, 2021 về phát triển bền vững chung; Trịnh Hà Hoàng Linh, 2022 về kinh tế vùng ven biển), luận án của Phạm Nguyên Hồng định vị nghiên cứu tại điểm giao thoa giữa Khoa học Quản lý công và Kinh tế Du lịch, lượng hóa trực tiếp mối quan hệ tác động giữa 5 nhóm nhân tố cấu thành năng lực quản lý của chính quyền cấp tỉnh tới toàn bộ 4 nội dung vận hành quản lý du lịch biển trên một địa bàn cụ thể có tính điển hình cao.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án tạo ra bước tiến triển học thuật quan trọng đối với ba lý thuyết nền tảng:

  1. Mở rộng Lý thuyết Quản trị công mới (NPM): Luận án chứng minh rằng trong quản lý kinh tế biển tại các địa phương đang phát triển, vai trò của chính quyền không chỉ dừng lại ở chức năng "chèo thuyền" (trực tiếp cung cấp dịch vụ công) mà phải chuyển dịch triệt để sang "lái thuyền" (kiến tạo thể chế, điều tiết thị trường, thanh tra kiểm tra và tạo lập môi trường đầu tư minh bạch).
  2. Bổ sung Lý thuyết Các bên liên quan (Stakeholder Theory): Luận án làm rõ cơ chế tương tác đa chiều giữa bốn chủ thể then chốt tại các đô thị biển: Chính quyền tỉnh/huyện - Doanh nghiệp du lịch - Cộng đồng dân cư sở tại - Khách du lịch. Luận án chỉ ra rằng hiệu lực quản lý bị suy giảm nghiêm trọng nếu thiếu vắng cơ chế phản hồi thông tin hai chiều giữa chính quyền và người dân tại các vùng biển chịu áp lực chuyển đổi đất đai.
  3. Hoàn thiện Lý thuyết Chất lượng Điểm đến Du lịch (Destination Quality Theory): Luận án tích hợp các chiều kích quản lý nhà nước (an ninh trật tự, vệ sinh môi trường bãi biển, kiểm soát giá cả) như một tiền tố trực tiếp cấu thành chất lượng điểm đến, thay vì chỉ xem chất lượng điểm đến là kết quả thuần túy từ hoạt động kinh doanh của khối doanh nghiệp tư nhân.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án được cấu trúc hóa một cách chặt chẽ, liên kết logic giữa Mục tiêu quản lý, Nội dung quản lý và Các nhân tố ảnh hưởng:

Điều kiện biên (Boundary Conditions): Khung phân tích được xác lập với các giả định biên rõ ràng: Áp dụng trong phạm vi quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh tại Việt Nam (theo Điều 110 Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương); đối tượng không gian là các dải ven bờ và đảo có hoạt động du lịch nghỉ dưỡng, thể thao, sinh thái; chịu sự chi phối trực tiếp của khung pháp lý Luật Du lịch 2017 và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015.


Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu đứng trên lập trường nhận thức luận Thực chứng (Positivism) kết hợp Hiện thực phê phán (Critical Realism). Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp tuần tự (Sequential Mixed Methods Design) được triển khai bài bản qua hai giai đoạn:

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc tam giác giác hóa dữ liệu (Data Triangulation), kết hợp dữ liệu thống kê thứ cấp giai đoạn 2016–2023 từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, Cục Thống kê tỉnh với nguồn dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa trong năm 2022.

Quy mô mẫu và chiến lược chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện được thiết kế chi tiết theo 3 nhóm đối tượng khảo sát:

  1. Nhóm khách du lịch: Khảo sát tại Sầm Sơn, Hải Tiến, Hải Hòa nhằm đánh giá chất lượng điểm đến du lịch biển (dịch vụ lưu trú, ăn uống, giao thông, an ninh an toàn, sự thân thiện mến khách, cảnh quan, vui chơi giải trí).
  2. Nhóm cộng đồng dân cư ven biển: Đánh giá nhận thức về lợi ích kinh tế, tác động môi trường và hiệu quả quản lý của chính quyền sở tại.
  3. Nhóm cán bộ công chức quản lý và doanh nghiệp kinh doanh du lịch biển: Đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy, tính khả thi của quy hoạch, rào cản chính sách và năng lực thực thi công vụ.

Các bảng hỏi được thiết kế trên thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Rất không đồng ý / Rất kém đến 5: Rất đồng ý / Rất tốt). Độ tin cậy thang đo được kiểm định sơ bộ và chính thức qua hệ số Cronbach's Alpha (yêu cầu $\alpha \ge 0.70$, hệ số tương quan biến - tổng Corrected Item-Total Correlation $\ge 0.30$). Tính hợp lệ của cấu trúc thang đo (Construct Validity) được kiểm định qua phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) với phép trích Principal Axis Factoring hoặc Principal Components, phép quay Varimax; thỏa mãn điều kiện chỉ số KMO ($0.5 \le \text{KMO} \le 1$), kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê ($p < 0.05$), tổng phương sai trích (Total Variance Explained) $> 50%$ và hệ số tải nhân tố (Factor Loading) $> 0.50$.

Data và phân tích

Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và xử lý trên phần mềm chuyên dụng SPSS (Statistical Package for Social Sciences). Mô hình phân tích hồi quy tuyến tính bội (Multiple Linear Regression) được thiết lập dưới dạng:

$$Y = \beta_0 + \beta_1 X_1 + \beta_2 X_2 + \beta_3 X_3 + \beta_4 X_4 + \beta_5 X_5 + \varepsilon$$

Trong đó:

  • $Y$: Hiệu quả quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với du lịch biển.
  • $X_1$: Đội ngũ cán bộ công chức quản lý du lịch biển.
  • $X_2$: Nhận thức của cộng đồng người dân và doanh nghiệp du lịch.
  • $X_3$: Thể chế quản trị địa phương và mức độ cải cách hành chính.
  • $X_4$: Cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng du lịch.
  • $X_5$: Môi trường kinh tế - xã hội địa phương.
  • $\beta_0$: Hằng số tự do; $\beta_1, \dots, \beta_5$: Các hệ số hồi quy chuẩn hóa; $\varepsilon$: Sai số ngẫu nhiên.

Các kiểm định khuyết tật mô hình (Diagnostic Checks) bao gồm: Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến thông qua hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor - $\text{VIF} < 2$); kiểm định phân phối chuẩn của phần dư qua biểu đồ Histogram và Normal P-P Plot; kiểm định phương sai sai số thay đổi và tự tương quan nhằm đảm bảo các ước lượng OLS đạt tính chất không chệch tuyến tính tốt nhất (BLUE).


Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của luận án đã đem lại 5 phát hiện cốt lõi:

  1. Xác lập thứ bậc định lượng các nhân tố ảnh hưởng: Mô hình hồi quy khẳng định biến "Đội ngũ cán bộ công chức quản lý" ($X_1$) có trọng số tác động lớn nhất và mang tính quyết định đến toàn bộ sự thành bại của công tác quản lý nhà nước đối với du lịch biển tại Thanh Hóa ($p < 0.001$). Tiếp theo sau lần lượt là "Nhận thức của người dân, doanh nghiệp" ($X_2$), "Thể chế quản trị địa phương" ($X_3$), "Cơ sở vật chất kỹ thuật" ($X_4$) và cuối cùng là "Môi trường kinh tế xã hội địa phương" ($X_5$). Kết quả này chứng minh rằng yếu tố con người thực thi công vụ giữ vai trò hạt nhân trung tâm vượt lên trên các yếu tố thuần túy về vốn hay hạ tầng vật chất.
  2. Đột phá về thu hút đầu tư nhưng mất cân đối cơ cấu sản phẩm: Giai đoạn 2016–2020, việc thực hiện Quyết định số 290-QĐ/TU đã tạo làn sóng đầu tư mạnh mẽ với 29 dự án du lịch biển quy mô lớn (chiếm 85% tổng vốn đầu tư du lịch toàn tỉnh), làm thay đổi diện mạo các quần thể nghỉ dưỡng FLC Sầm Sơn, Sun Group Sầm Sơn. Tuy nhiên, chính sách thu hút đầu tư mới chỉ tập trung vào phân khúc bất động sản nghỉ dưỡng và lưu trú ven bờ, thiếu vắng các dự án công viên chuyên đề đại dương, thể thao biển cao cấp (lặn biển, dù lượn biển, bến du thuyền quốc tế) và du lịch biển đảo chuyên sâu (đảo Hòn Mê, đảo Biện Sơn).
  3. Sự phân hóa chất lượng điểm đến gay gắt giữa các cụm du lịch biển: Đánh giá của du khách cho thấy Sầm Sơn có bước bứt phá ngoạn mục về trật tự kỷ cương du lịch, văn hóa giao tiếp và hạ tầng đô thị biển; trong khi đó, Khu du lịch biển Hải Tiến và Hải Hòa bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: sản phẩm dịch vụ vui chơi giải trí đơn điệu, tình trạng thiếu hụt trầm trọng lao động chuyên nghiệp có trình độ ngoại ngữ và nghiệp vụ cao, công tác xúc tiến quảng bá còn mang tính mùa vụ, thụ động.
  4. Nút thắt về sức chịu tải môi trường và tính mùa vụ khắc nghiệt: Đồng tình với cảnh báo của Trương Sỹ Vinh & Nguyễn Thùy Vân (2020), dữ liệu thực trạng chỉ rõ hạ tầng thu gom và trạm xử lý nước thải tại các bãi tắm Sầm Sơn và Hải Tiến bị quá tải trầm trọng trong 3 tháng cao điểm hè (tháng 5–7). Tình trạng bán hàng rong, chế biến hải sản tự phát trên bãi biển và xả thải ven bờ vẫn tái diễn do công tác thanh tra, hậu kiểm của chính quyền cấp huyện, xã chưa thực sự kiên quyết. Tính mùa vụ đặc trưng của vùng biển Bắc Trung Bộ (mùa đông kéo dài) khiến các cơ sở lưu trú đạt công suất phòng rất thấp ngoài mùa vụ, làm suy giảm động lực giữ chân lao động chất lượng cao.
  5. Bất cập trong mô hình tổ chức bộ máy và liên kết quản lý đa tầng: Cơ chế phối hợp liên ngành giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch với các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng và UBND các huyện ven biển (Sầm Sơn, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Nghi Sơn) còn lỏng lẻo; bộ máy các Ban Quản lý khu du lịch biển trực thuộc huyện chưa được trao đủ thẩm quyền pháp lý và công cụ kinh tế để xử lý kịp thời các vi phạm về trật tự xây dựng và bảo vệ môi trường.

Implications đa chiều

  • Hàm ý lý thuyết (Theoretical Implications): Bổ sung mô hình tích hợp đánh giá hiệu năng quản lý công trong bối cảnh các điểm đến du lịch biển đang trong giai đoạn chuyển đổi từ mô hình "du lịch đại chúng chi phí thấp" sang "du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng cao cấp".
  • Hàm ý phương pháp luận (Methodological Implications): Cung cấp bộ công cụ thang đo đã được chuẩn hóa qua kiểm định EFA và hồi quy OLS, có khả năng tái lặp và mở rộng áp dụng cho các tỉnh ven biển khác tại Việt Nam như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Bình Định.
  • Hàm ý thực tiễn và chính sách (Policy & Practical Implications):
    1. Đổi mới quy hoạch không gian biển: Chuyển từ quy hoạch cục bộ từng bãi tắm sang quy hoạch chuỗi hành lang kinh tế du lịch ven biển kết nối 3 trung tâm hạt nhân: Cụm phía Bắc (Hải Tiến - Linh Trường - Hoằng Phụ), Cụm trung tâm (Sầm Sơn - Quảng Xương) và Cụm phía Nam (Hải Hòa - Đảo Hòn Mê - Đô thị mới Nghi Sơn), kết hợp đồng bộ với tuyến đường bộ ven biển.
    2. Cải cách thể chế và nâng cao năng lực cán bộ: Xây dựng đề án bồi dưỡng chuẩn hóa chức danh quản lý du lịch biển cho cán bộ cấp huyện, xã; đẩy mạnh chuyển đổi số thông qua ứng dụng công nghệ du lịch thông minh (Smart Tourism Destination), số hóa bản đồ du lịch và thiết lập hệ thống giám sát môi trường biển tự động.
    3. Chính sách khắc phục tính mùa vụ: Ban hành gói ưu đãi tài chính, thuế đối với các doanh nghiệp phát triển sản phẩm du lịch bốn mùa (du lịch hội nghị MICE, du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch thể thao biển mùa đông, lễ hội văn hóa dân gian miền biển).
    4. Tăng cường chế tài thanh tra, giám sát môi trường: Áp dụng triệt để nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" (Polluter Pays Principle) thông qua thu phí xả thải du lịch, siết chặt việc cấp phép xây dựng sát bờ biển theo đúng hành lang bảo vệ bờ biển.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn thừa nhận 4 giới hạn nghiên cứu chính:

  1. Giới hạn về phạm vi địa lý và tính đại diện: Nghiên cứu chỉ tập trung dữ liệu tại 3 khu du lịch biển chính của tỉnh Thanh Hóa, chưa bao quát toàn bộ các bãi tắm nhỏ và các vùng biển đảo tiền tiêu chưa khai thác du lịch, do đó khả năng suy rộng cho các vùng biển có đặc trưng khí hậu quanh năm ấm áp (như Nam Trung Bộ hay Nam Bộ) cần có sự điều chỉnh.
  2. Giới hạn về dạng dữ liệu cắt ngang (Cross-sectional Data): Dữ liệu điều tra bằng bảng hỏi được thu thập tại một thời điểm nhất định (năm 2022), chưa phản ánh được sự biến động nhận thức và hành vi của du khách cũng như cộng đồng dân cư qua các chu kỳ kinh tế dài hạn.
  3. Giới hạn về kỹ thuật mô hình hóa: Luận án chủ yếu sử dụng phân tích EFA và Hồi quy tuyến tính bội OLS, chưa ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM hoặc CB-SEM) để kiểm định các mối quan hệ tác động gián tiếp, đa tầng hoặc vai trò điều tiết (Moderating/Mediating effects) của các biến trung gian như văn hóa tổ chức hay mức độ cạnh tranh thị trường.
  4. Giới hạn trong đo lường chỉ số sinh thái vật lý: Việc đánh giá môi trường biển chủ yếu dựa trên cảm nhận của các bên liên quan và số liệu hành chính thứ cấp, chưa tích hợp được các chỉ số đo lường hóa lý trực tiếp về chất lượng nước biển ven bờ và suy giảm hệ sinh thái rạn san hô, rừng ngập mặn.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  • Hướng 1: Ứng dụng mô hình SEM và phân tích đa cấp bậc (Multilevel Modeling) để làm rõ mối quan hệ giữa thể chế quản trị cấp tỉnh, năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp và sự gắn kết của cộng đồng cư dân.
  • Hướng 2: Triển khai các nghiên cứu theo chuỗi thời gian (Longitudinal Studies) hoặc phương pháp tiếp cận dữ liệu bảng (Panel Data) nhằm theo dõi diễn biến sức chịu tải môi trường và hiệu quả chính sách qua từng giai đoạn 5 năm.
  • Hướng 3: Mở rộng nghiên cứu so sánh liên tỉnh (Comparative Study) giữa các tỉnh duyên hải Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh) nhằm xây dựng mô hình liên kết vùng trong quản lý và xúc tiến du lịch biển quốc tế.
  • Hướng 4: Nghiên cứu ứng dụng các công cụ kinh tế thị trường mới như tín chỉ carbon xanh (Blue Carbon Credits), thanh toán dịch vụ hệ sinh thái biển (PES) trong cơ chế tài chính quản lý du lịch biển bền vững.

Tác động và ảnh hưởng

• Tài liệu tham khảo               • Luận cứ khoa học                 • Tái cấu trúc chuỗi
  chuẩn mực Quản lý                  xây dựng Kế hoạch                  giá trị sản phẩm
  Kinh tế / Du lịch                  phát triển du lịch                 du lịch biển
• Tiền đề phát triển                 biển Thanh Hóa                     • Chuyển đổi sinh kế
  các đề tài nghiên                  giai đoạn 2025-2030                bền vững cho hàng
  cứu chuyên sâu                   • Cải tổ bộ máy BQL                 nghìn hộ dân ngư
  về Kinh tế biển                    khu du lịch biển                   nghiệp ven biển
  • Tác động học thuật (Academic Impact): Công trình cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn cao cho các cơ sở đào tạo sau đại học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công và Kinh tế du lịch; mở ra khung phân tích chuẩn mực cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học tiếp tục đào sâu nghiên cứu về kinh tế biển tại Việt Nam.
  • Tác động chính sách công (Policy Influence): Cung cấp các luận cứ khoa học thực chứng xác đáng trực tiếp hỗ trợ Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thanh Hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc tổng kết thực hiện các Nghị quyết chuyên đề, đồng thời hoạch định "Đề án phát triển du lịch biển tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2025–2030, định hướng đến năm 2035"; hỗ trợ việc tái cấu trúc bộ máy Ban Quản lý các khu du lịch biển tại thành phố Sầm Sơn, thị xã Nghi Sơn và huyện Hoằng Hóa.
  • Tác động chuyển đổi ngành và kinh tế - xã hội (Industry & Societal Transformation): Định hướng các nhà đầu tư chiến lược chuyển trọng tâm vốn vào các sản phẩm du lịch biển cao cấp, giải trí đêm và dịch vụ thể thao biển chất lượng cao; tạo cơ chế bảo vệ quyền lợi và nâng cao thu nhập cho hàng nghìn hộ gia đình làm dịch vụ du lịch bản địa, thúc đẩy chuyển đổi sinh kế bền vững từ khai thác thủy sản truyền thống sang làm dịch vụ du lịch sinh thái biển văn minh.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Học giả (Doctoral Researchers & Academics): Tiếp cận một khung lý thuyết quản lý nhà nước cấp tỉnh hoàn chỉnh, bộ thang đo các nhân tố ảnh hưởng đã kiểm định độ tin cậy, và các khoảng trống nghiên cứu sâu sắc về kinh tế biển để tiếp tục phát triển đề tài.
  • Nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh và Bộ ngành (Policy Makers): Sở hữu cơ sở dữ liệu thực nghiệm và hệ thống giải pháp 7 nhóm đồng bộ để ban hành các quy định quản lý, tiêu chuẩn dịch vụ, chính sách ưu đãi đầu tư và quy chế phối hợp liên ngành hiệu quả.
  • Các doanh nghiệp lữ hành, lưu trú và hiệp hội du lịch (Industry & Businesses): Nắm bắt rõ quy hoạch không gian biển của tỉnh, các chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm mới, từ đó xây dựng chiến lược kinh doanh giảm thiểu rủi ro tính mùa vụ và nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ.
  • Cộng đồng dân cư và ngư dân ven biển (Local Communities): Được hưởng lợi từ môi trường sống bãi biển sạch đẹp, trật tự xã hội an toàn, giảm thiểu hiện tượng ép giá, được tham gia các khóa đào tạo nâng cao văn hóa ứng xử du lịch và nâng cao thu nhập một cách bền vững.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý luận độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?

Đóng góp độc đáo nhất là việc luận án đã lượng hóa thành công vai trò của quản lý nhà nước cấp tỉnh như một cấu phần nội sinh quyết định chất lượng và tính bền vững của kinh tế du lịch biển tại quốc gia đang phát triển. Luận án mở rộng trực tiếp Lý thuyết Quản trị công mới (NPM) trong việc chuyển đổi phương thức quản trị từ hành chính mệnh lệnh sang quản trị kiến tạo dịch vụ công chất lượng cao, đồng thời làm phong phú Lý thuyết Các bên liên quan (Stakeholder Theory) bằng cách mô hình hóa cơ chế cân bằng lợi ích kinh tế - sinh thái giữa Nhà nước, Doanh nghiệp và Cư dân ven biển.

2. Phương pháp nghiên cứu của luận án có điểm gì đổi mới so với các công trình tiền nhiệm?

So với nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Tứ (2016) và Lê Đức Viên (2017) vốn nặng về mô tả định tính và thống kê đơn biến, luận án của NCS Phạm Nguyên Hồng đã thực hiện quy trình nghiên cứu hỗn hợp chuẩn mực: kết hợp phương pháp chuyên gia Delphi hiệu chỉnh thang đo với phân tích thống kê đa biến nâng cao (EFA, Kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, Hồi quy tuyến tính bội OLS trên phần mềm SPSS, kiểm định ANOVA và các khuyết tật mô hình VIF), lượng hóa chính xác mức độ tác động của từng nhân tố quản trị địa phương.

3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất và có ý nghĩa quản lý như thế nào?

Phát hiện gây bất ngờ nhất là nhân tố "Cơ sở vật chất kỹ thuật""Môi trường kinh tế xã hội" không phải là các yếu tố có sức chi phối hàng đầu, mà chính "Đội ngũ cán bộ công chức quản lý" mới là nhân tố có hệ số tác động lớn nhất ($\beta$ chuẩn hóa cao nhất) đến hiệu quả quản lý du lịch biển. Điều này bác bỏ quan điểm truyền thống cho rằng chỉ cần rót vốn đầu tư hạ tầng là du lịch sẽ phát triển, và khẳng định then chốt của bài toán quản lý nằm ở chất lượng bộ máy nhân sự thực thi công vụ.

4. Luận án có cung cấp quy trình nhân bản nghiên cứu (Replication Protocol) rõ ràng không?

Có. Luận án trình bày chi tiết toàn bộ quy trình thiết kế công cụ nghiên cứu, hệ thống bảng hỏi điều tra 3 nhóm chủ thể, danh mục các biến quan sát đo lường các thành phần chất lượng điểm đến và các nội dung quản lý nhà nước (tại Chương 1 và Phụ lục), cùng các tiêu chuẩn kiểm định định lượng cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà nghiên cứu khác áp dụng nhân bản mô hình tại bất kỳ tỉnh ven biển nào tại Việt Nam và khu vực.

5. Luận án đã phác thảo chương trình hành động và nghiên cứu 10 năm tới như thế nào?

Luận án vạch ra lộ trình giải pháp hai giai đoạn rất rõ ràng: Giai đoạn 2025–2030 tập trung kiện toàn bộ máy quản lý, hoàn thiện quy hoạch chuỗi đô thị biển kết nối Sầm Sơn - Hải Tiến - Nghi Sơn, giải quyết dứt điểm các điểm nóng về ô nhiễm môi trường và sức chịu tải bãi biển; Giai đoạn định hướng đến năm 2035 tập trung phát triển kinh tế biển xanh (Blue Economy), số hóa toàn diện quản trị điểm đến thông qua trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, phát triển mạnh phân khúc du lịch đảo cao cấp (Hòn Mê) và du lịch biển quốc tế.


Kết luận

  1. Chuẩn hóa cơ sở lý luận và nội hàm quản trị: Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ toàn diện khái niệm, nội dung quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với du lịch biển, xây dựng khung phân tích đa chiều bao gồm 4 nội dung vận hành cốt lõi và 5 nhóm nhân tố tác động then chốt.
  2. Cung cấp bằng chứng thực nghiệm giá trị cao: Thông qua xử lý dữ liệu thực tế giai đoạn 2016–2023 và khảo sát mẫu lớn năm 2022 tại Thanh Hóa, nghiên cứu lượng hóa chính xác sự đóng góp của du lịch biển (chiếm 85% vốn đầu tư du lịch toàn tỉnh với 29 dự án lớn, doanh thu đạt trên 15.000 tỷ đồng năm 2022) và xác lập thứ bậc tác động khoa học của các nhân tố quản lý.
  3. Chỉ ra chính xác các nút thắt phát triển: Luận án nhận diện khách quan những tồn tại cố hữu về tính mùa vụ, sự phân hóa chất lượng giữa Sầm Sơn với Hải Tiến/Hải Hòa, hạn chế trong phân cấp quản lý liên ngành và sự quá tải sức chịu tải môi trường bãi biển tại các đợt cao điểm.
  4. Hệ thống giải pháp 7 nhóm đồng bộ, khả thi: Đề xuất các nhóm giải pháp mang tính đột phá từ hoàn thiện bộ máy, quy hoạch không gian biển chuỗi liên kết, đổi mới chính sách thu hút đầu tư sản phẩm bốn mùa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công vụ đến tăng cường chế tài kiểm tra giám sát và phát triển hạ tầng kỹ thuật.
  5. Mở ra các hướng nghiên cứu học thuật mới: Thiết lập nền tảng phương pháp luận vững chắc cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về quản trị kinh tế biển xanh, liên kết vùng duyên hải và lượng giá dịch vụ hệ sinh thái biển tại Việt Nam.
  6. Giá trị thực tiễn và di sản quản lý lâu dài: Đóng vai trò như một cẩm nang khoa học và công cụ quản trị chiến lược, trực tiếp phụng sự mục tiêu đưa Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm du lịch biển chất lượng cao hàng đầu của cả nước theo tinh thần Nghị quyết 58-NQ/TW của Bộ Chính trị.