CHƯƠNG I: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm, định nghĩa về hệ thống y tế và bảo hiêm y tế Báo hiếm Y tế (BHYT) là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tô chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm phải tham gia theo quy định của Luật BHYT. Thuật ngữ BHYT được sử dụng trong nghiên cứu này là BHYT xã hội, không phải BHYT tư nhân [11]. BHYT bắt buộc: ở các quốc gia trên thế giới khi mới thực hiện BHYT đều có hình thức BHYT bat buộc, trong đó đối tượng bắt buộc là những người có thu nhập ổn định tại khu vực lao động chính thức, có trách nhiệm phải tham gia BHYT theo Luật.
Ớ Việt Nam, đối tượng tham gia BHYT bat buộc gôm: người làm việc theo hợp đồng lao dộng không xác định thời hạn. hợp đồng có xác định thời hạn có từ đủ 3 tháng trở lên theo quy định của pháp luật về lao động; người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền công; cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật 111]. BHYT tự nguyên có mức đóng theo quy định của Quỹ BHYT. Ở Việt Nam, mức đóng là 01 tháng bằng 4.5% mức lương tối thiểu.
Trường hợp tham gia BHYT theo HGĐ được giảm trừ mức đóng. Quyên lợi được hưởng như đôi tượng tham gia BHYT bắt buộc khi thẻ BHYT đã được phát hành sau 30 ngày và được hưởng chi phí dịch vụ kỹ thuật cao sau khi có thời gian liên tục tham gia BHYT 180 ngày trở lên [11], BHYT toàn dân: Hầu hết mọi người dân trong xã hội đều có BHYT, với những trường hợp không có BHYT thì có những cơ che phù hợp khác để hỗ trợ khi Ốm đau, bệnh tật nhằm đảm bảo cho họ được tiếp cận một cách đầy đủ với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe[l 1]. Vân để bao phủ BHYT toàn dân phải được tiêp cận đẩy đủ trên ba phương diện về chăm sóc sức khỏe (CSSK) toàn dân của Tổ chức y tế thế giới bao gồm: (1) Bao phủ về dân số, tức là là tỷ lệ dân sổ tham gia BHYT; (2) Bao phủ gói quyền lợi về bảo hiểm y tế, tức là phạm vi dịch vụ y tế (DVYT) được đảm bảo; và (3) Bao 6 phủ về chi phí hay mức độ dược bảo hiểm đẻ giảm mức chi trả từ tiền túi của người bệnh [13]. Tại Việt Nam, người cao tuổi (NCT) là những người trên 60 tuổi [12].
Trước đây, tại đa phần các nước phát triển, những người trên 65 tuổi mới được coi là NCT, tuy nhiên định nghĩa này không the áp dụng tại các quốc gia châu Phi - nơi mà tuổi thọ trung bình rất thấp. Định nghĩa này có thể không thể áp dụng rộng rãi, nhưng vấn đề độ tuổi NCT còn phụ thuộc vào mức tuổi mà con người có thể được nhận lương hưu. Các vấn đề sức khỏe người cao tuổi Gánh nặng bệnh tật lớn nhât đôi với NCT chính là các bệnh không truyền nhiễm. “Ảnh hưởng của các bệnh không truyền nhiễm đối với NCT tại các nước có thu nhập thấp và trung bình cao gấp 3—5 lần so với các nước thu nhập cao”, WHO đã nhận định.
Mặc dù có sự khác biệt về mô hình bệnh tật của NCT tại các quốc gia khác nhau, nhưng có thể thấy rằng dù ở quốc gia nào thì gánh nặng sức khỏe lớn nhất đối với NCT cũng là các bệnh tim mạch, đột quỵ. khiếm thị, suy giảm thính lực và sa sút về trí tuệ. Các bệnh mãn tính gặp ở NCT thường không xuất hiện đơn lẻ, mà một NCT thường phải gánh chịu nhiều bệnh cùng một lúc. Gánh nặng bệnh tật không chỉ gây ra tử vong, những NCT mac nhiêu bệnh cùng một lúc thường phải chịu dựng những sự suy giảm chất lượng cuộc sống và số năm sổng khỏe mạnh.
Bệnh mãn tính cản trở khả năng sinh hoạt hàng ngày của NCT, việc mất dần chức năng vận động độc lập và thần kinh dần dần sẽ làm suy giảm cả những khả năng sinh hoạt cơ bản nhất như vệ sinh thân thể, tự mặc quần áo hay tự đi vệ sinh. Tại Mỹ, điều tra về sức khỏe NCT năm 2013 cho thấy các bệnh tim mạch và ung thư là những nguyên nhân lớn nhất dẫn đen tử vong trong nhóm NCT. Bệnh tim mạch gây ra 27,7% số ca tử vong, và 22,1% là số tử vong do ung thư gày ra [29J. Bên cạnh đó, các bệnh mãn tính như đột quỵ, Alzheimer và đái tháo đường cũng là những nguyên nhân chủ yếu gây tử vong cho NCT (6,4%; 4.
7 Tại vùng phía Tây nước úc, nghiên cứu về nguyên nhân tử vong chính trong các nhóm tuổi, đã chỉ ra rang, trong nhóm NCT trên 65 tuổi trở lên, gánh nặng bệnh tật chiếm đến 39% toàn bộ dân số, và không có sự khác biệt về DALYs ở cả hai giới [26], Các bệnh về tim mạch được chẩn đoán ở 61% nam giới, và 52% nữ giới [26], Rối loạn tàm thần kinh là nhóm bệnh thường gặp thứ hai ở NCT, và thường gặp ở nữ hơn nam giới. Cũng theo nghiên cứu này, bệnh mạch vành, đột quỵ, ung thư phổi, suy giảm trí tuệ là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho NCT [26]. Trong đó, ở nam giới các bệnh mạch vành, ung thư phổi, COPD và giảm thính lực xuât hiện nhiêu hơn, thì ở nữ giới, đột quỵ, suy giảm trí tuệ và giảm thị lực là những bệnh phổ biến. Châu Âu luôn được coi là châu lục già của Thể Giới.
Dân số già ở châu Âu hiện nay tăng lên nhanh chóng. Năm 2010, số NCT trên 65 tuối tại châu Âu chỉ đạt mức gần 20 triệu người, sau 50 năm, vào năm 2060, dân số nhóm này tại châu Âu dự đoán tăng gấp 3 lần, đạt mức gần 60 triệu NCT tại châu Âu [22]. Tại châu lục này, các bệnh mãn tính phổ biến bao gồm, đái tháo đường, bệnh tim mạch, ung thư, COPD, và các bệnh thần kinh. Tỉ lệ mac các bệnh này trong dân số cao tuổi cao gap nhiều lần so với các nhóm tuổi khác [22].
Không chỉ NCT tại các quốc gia phát triển mới có nguy cơ đối mặt với các bệnh không truyền nhiễm, NCT tại các quốc gia đang phát triển cùng một lúc đối mặt với gánh nặng kép về sức khỏe. Trong các nguyên nhân tử vong ở NCT tại Ấn Độ, bên cạnh các bệnh truyền nhiễm dã xuất hiện lại những năm gần đây, các bệnh không truyền nhiễm, đặc biệt là bệnh tim mạch, kèm theo các bệnh như viêm phế quản mãn tính, thiếu máu, huyết áp cao, đau ngực, bệnh thận, rối loạn tiêu hóa, các vẩn đề thị lực, tiểu đường, thấp khớp, và trầm cảm đã làm giảm khả năng hồi phục của NCT khi có bệnh tật của NCT tại nước này [33]. Hệ thông chăm sóc sức khỏe NCT 3. Tần suất sử dụng dịch vụ y te Sử dụng DVYT là khả năng và mức độ được cơ sở y tể cung ứng các dịch vụ chăm sóc, phát hiện và điều trị theo nhu cầu và mức độ bệnh của mỗi người dân khi có bệnh/tật.
Việc sử dụng DVYT phụ thuộc vào nhiều yếu tổ, trong đó, điều kiện kinh te là yếu tố quyết định. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rang hình thức tự mua thuôc điêu trị được người bệnh đánh giá là tiêt kiệm chi phí và chiêm tỉ lệ cao nhât. Bên cạnh đó còn có các ycu tố khác như yếu tố con người (trình độ học vấn, hiểu biêt vê sức khỏe, thói quen, tập quán khám chữa bệnh (KCB).); yếu tố từ nhà cung cấp các DVYT (chất lượng chuyên môn, thái độ, thời gian cung cấp dịch vụ. Mức độ bệnh hiện tại của một người và các hoạt động tư vấn của thầy thuốc cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ của người dân.
Bệnh tật ở NCT thường do nhiêu nguyên nhân khác nhau, cùng với đó là khả năng phục hồi sau điều trị của NCT kém, việc điều trị đặc hiệu rất khó khăn và tốn kém. Do đó, CSSK cho NCT tập trung chủ yểu vào vấn đề dự phòng. Phẩn lớn bệnh tật thường gặp ở NCT là các bệnh mãn tính có the phòng ngừa được, thay đổi hoặc trì hoãn bởi cả các can thiệp về y tế và cả những can thiệp về kinh tế, xã hội, môi trường. Đôi với NCT, việc thường xuyên thăm khám sức khỏe là một điều kiện tốt để theo dõi, điều trị kịp thời các căn bệnh.
Tuy nhiên, các vấn đề về NCT hiện nay chưa nhận được quan tâm đúng mức, do đó, tỉ lệ NCT được đàm bảo KCB thường xuyên còn ít, chủ yêu tập trung trong nhóm NCT vê hưu. hoặc được hưởng các chê độ của người có công, thương bệnh binh. Nhóm NCT gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận các DVYT có chất lượng là những NCT ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo, mà đây lại là nhóm đối tượng chiếm đa số. Nhu cầu CSSK của NCT rất lớn và đa phần chưa được đáp ứng, nguyên nhân chủ yếu xuất phát do hệ thông y tế còn thiêu sót, đặc biệt về thuốc men và trang thiết bị y tế.
Hiện nay, chủ trương xã hội hóa ngành y tế, tuy nhiên y tế tư nhân hiện nay mới phát triển, chi phí KCB còn cao, đối với những NCT thu nhập thấp rất khó tiếp cận loại hình y tể này. Trên Thế giới Tại Canada, mặc dù chỉ chiếm 14% dân số, nhưng trên 40% ca nhập viện cap tính xảy ra ở nhóm NCT trên 65 tuổi [24], NCT tại Canada sử dụng các DVYT nhiều hơn rất nhiều so với các nhóm tuổi khác, đặc biệt như các dịch vụ điều trị nội trú cấp tính gấp 5 lần so với nhóm khác, điều trị ngoại trú gấp 3 lần, và cấp cứu gấp gần 1. Không chỉ sử dụng nhiều DVYT, số ngày nằm viện của nhóm này cũng nhiều hơn các nhóm khác. Thời gian nằm viện của NCT tại khoa nội trú gấp 1.5 lần so với nhóm dưới 65 tuổi, thời gian cấp cứu nhiều hon 1.5 giờ, điều này có thể lí giải do thể trạng của NCT yếu, vì vậy NCT có the cần những quan sát thêm để chắc chắn họ đủ khỏe mạnh để ra viện [21].
Ngoài sử dụng các DVYT khi nhập viện, NCT cũng sử dụng nhiêu hơn các dịch vụ sau nhập viện như điều trị tại nhà, bác sĩ phục hồi chức năng và sử dụng thuốc kê đơn. Tại Việt Nam Khả năng và tỷ lộ tiếp cận các dịch vụ CSSK giữa các nhóm NCT hết sức khác nhau và đây là một nguyên nhân khiến cho NCT không được điều trị, chăm sóc đày đủ ngay cả khi phát hiện ra bệnh tật.