Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THỰC TẬP TẠI DOANH NGHIỆP CỦA SINH VIÊN 1. Lý luận về thái độ đối với hoạt động thực tập tại doanh nghiệp của sinh viên 1. Khái niệm về thái độ Thái độ là một hiện tượng rất phức tạp, nội hàm của nó không những có sự khác biệt giữa tâm lý học duy vật biện chứng và tâm lý học phương Tây, mà ngay cả giữa các nhà tâm lý học hoạt động cũng chưa có sự thống nhất hoàn toàn. Về mặt thuật ngữ, trong từ điển Anh - Việt, thái độ được viết là “Attitude”, nghĩa là “cách cư xử, quan điểm của một cá nhân” Theo đại từ điển tiếng Việt: “Thái độ là mặt biểu hiện bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hay việc gì thông qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động.
Thái độ là ý thức, cách nhìn nhận, đánh giá và hành động theo một hướng nào đó trước một sự việc”. [15] Ở phương Tây, hai nhà nghiên cứu người Mỹ là W.Znaniecki với tư cách là người đầu tiên sử dụng khái niệm “thái độ” như một đặc tính quan trọng của vấn đề. Trong những công trình nghiên cứu của mình, năm 1918 hai ông cho rằng: “Thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân như là thành viên của cộng đồng đối với giá trị này hay giá trị khác, làm cho cá nhân có phương pháp hành động hay không hành động khác mà được xã hội chấp nhận” [dẫn theo 5, tr. Hai nhà nghiên cứu khẳng định thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân đồng thời họ đã đồng nhất thái độ với định hướng giá trị của cá nhân.
Họ cũng khẳng định thái độ của con người bao gồm các phản ứng tiêu cực hay tích cực với một hiện tượng cụ thể, không có những đánh giá chung chung. Trong tác phẩm “A Handbook of Social Psychology” (1935) G.Allport đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về thái độ. Theo ông “Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhân đến các khách thể và tình huống mà nó quan hệ. [dẫn theo17, tr.
Như vậy, thái độ được coi như một trạng thái tâm lý, sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh cho hoạt động tâm sinh lý có chức năng điều chỉnh hành vi của cá nhân. Mặc dù định nghĩa này chưa đề cập đến vai trò của môi trường xã hội, nhu cầu, động cơ trong quá trình hình thành thái độ của con người song nó lại trả lời được các câu hỏi như: thái độ là gì? Nguồn gốc của thái độ? Chức năng và vai trò của thái độ. 11 “Thái độ của cá nhân đối với một đối tượng nào đó là thiên hướng hành động, nhận thức, tư duy, cảm nhận của anh ta với khách thể liên quan”. [dẫn theo 16,tr 319] là quan điểm của Newcome.
Định nghĩa này có một hạn chế là chưa bao hàm thực tế rằng, trong nhiều trường hợp xảy ra, quá trình này diễn ra rất phức tạp. Một định nghĩa được thừa nhận rộng rãi trong tâm lý học Phương tây – xem thái độ như một khái niệm chủ yếu thuộc về tâm lý học cá nhân đó là: “Một trạng thái ổn định, bền vững, do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhất định, không phải với bản thân chúng ra sao mà như chúng được nhận thức ra sao” - Từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản tại New York năm 1966. Trianodis nhà tâm lý học Mỹ đưa ra định nghĩa: “Thái độ là những tư tưởng được tạo nên bởi các xúc cảm, tình cảm. Nó gây tác động lên hành vi nhất định, thái độ của con người bao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách xử sự của họ đối với đối tượng đó” [dẫn theo 23, tr.
Trong định nghĩa này ta thấy chủ yếu mặt xúc cảm, tình cảm của con người chi phối và hình thành lên thái độ ở mỗi cá nhân, nó tác động đến hành vi của con người Một khái niệm khác cũng đồng quan điểm thái độ là sự sẵn sàng phản ứng là “Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêu cực đối với đối tượng hay các ký hiệu “(biểu tượng) trong môi trường… Thái độ là sự định hướng của cá nhân đến các khía cạnh khác nhau của môi trường và là cấu trúc có tính động cơ” là ý kiến của nhà tâm lý học H. [20] Như vậy, các tác giả TLH phương Tây đều định nghĩa thái độ dựa trên một điểm tựa là chức năng của nó. Thái độ thực hiện việc định hướng hành vi ứng xử của con người, thúc đẩy và tăng cường tính sẵn sàng của những phản ứng nơi con người hướng tới đối tượng. Trong TLH Liên Xô, D.
Uznatze cho rằng: “Thái độ là một trạng thái toàn vẹn, xác định của chủ thể… yếu tố tính khuynh hướng năng động của nó là một yếu tố toàn vẹn theo một hướng nhất định nhằm một tính năng động nhất định… đó là sự phản ứng cơ bản đầu tiên đối với tác động của tình huống trong đó chủ thể phải đặt ra và giải quyết nhiệm vụ”. [dẫn theo 5, tr.267]; Tác giả đã chỉ ra bản chất của thái độ là vừa thừa nhận thái độ mang tính tích cực, tự giác lại vừa thừa nhận thái độ như là một bộ phận cấu thành mang tính trọn vẹn ý thức của con người Khái niệm thái độ của H. Forvec nhấn mạnh chức năng của thái độ đối với hoạt động chung, hoạt động hợp tác của con người trong xã hội. Hai ông cho 12 rằng thái độ luôn bị chi phối và bị quyết định tính chất nào đó, xuất hiện trong những tình huốn thực tế.
Sự chi phối này vừa phụ thuộc vào khuynh hướng cá nhân vừa phụ thuộc vào chủ thể hữu quan. Quan điểm này mở ra một con đường mới trong nghiên cứu thái độ là đi sâu vào nghiên cứu hành vi và hoạt động cụ thể của con người. Miaxisev đã đề ra “ thuyết thái độ nhân cách”. Ông đã coi nhân cách như một hệ thống thái độ.
Miaxisev viết: “thái độ, dưới dạng chung nhất, là hệ thống trọn vẹn các mối liên hệ cá nhan, có chọn lọc, có ý thức của nhân cách với các khía cạnh khác nhau của hiện thực khách quan. Hệ thống này xuất phát từ toàn bộ lịch sử phát triển của con người, nó thể hiện kinh nghiệm cá nhân và quy định hành động và thể hiện các thể nghiệm của cá nhân từ bên trong” [dẫn theo 9 ,tr.154]; Theo Ông, thái độ là khía cạnh chủ quan bên trong, có tính chọn lọc của các mối liên hệ đa dạng ở con người với các khía cạnh khác nhau của hiện thực. Trong toàn bộ lịch sử hình thành và phát triển của cá nhân thì hệ thống này diễn ra song song, biểu hiện khả năng của quá trình tâm lý và liên quan đến tính tiêu cực, tích cực của nhân cách. Nhà nghiên cứu V.
Miaxisev có vai trò vô cùng quan trọng cho sự ra đời của tâm lý học thái độ theo quan điểm của Macsxit và ông cũng có những đóng góp không nhỏ cho việc nghiên cứu về thái độ. Nhưng lý thuyết này còn có những hạn chế như: Chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của quan hệ xã hội với thái độ xã hội, xúc cảm, nhận thức, tình cảm. Chưa có cơ sở khoa học để khẳng định thuộc tính tâm lý của nhân cách là thái độ. Trong TLH xã hội Mỹ, Guil Ford quan niệm: “Thái độ là những cử chỉ, phong thái, ý nghĩ liên quan đến những hoàn cảnh xã hội”.
Myers lại cho rằng phản ứng có tính chất không thiện chí hay có thiện chí về một vấn đề nào đó, một cá nhân nào đó được biểu hiện ở hành vi có chủ định hay niềm tin và cảm xúc. Như vậy, các quan điểm về thái độ của các nhà tâm lý học nói trên được diễn đạt bằng những hình thức khác nhau nhưng họ có điểm chung là nghiên cứu thái độ theo quan điểm, chức năng thái độ định hướng hành vi ứng xử các vấn đề xã hội, là trạng thái tinh thần điều chỉnh và quy định tính sẵn sàng phản ứng. Thái độ được hình thành nhờ kinh nghiệm sống, có tính ổn định và có khả năng thay đổi tùy theo tình huống. “Thái độ là những phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối như đã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó” [dẫn theo 12,tr 356].
Là quan điểm của nhà tâm lý Nguyễn Khắc Viện(CB) (1991) được ghi trong cuốn “Từ điển tâm lý học”. Tác giả Hoàng Phê cho rằng “Thái độ là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành 13 động theo một hướng nào đó trước một vấn đề hay một tình huống cụ thể” [dẫn theo 11, tr.1128]; Một quan điểm khác khẳng định thái độ là phản ứng của chủ thể khi hiện thực khách quan tác động là ý kiến của tác giả Võ Thị Minh Chí“Thái độ là phản ứng, ứng xử mang tính chủ thể với hiện thực khách quan, được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ xã hội mà chủ thể tham gia vào đó thông qua hoạt động và giao tiếp của mình” [dẫn theo 10, tr.281]; Trong cuốn “Từ điển tâm lý học” của tác giả Vũ Dũng, theo ông thái độ được hiểu là : “Thái độ là một sản phẩm phức tạp của các quá trình học tập, lĩnh hội, trải nghiệm, cảm xúc bao gồm cả những hứng thú, ác cảm, thành kiến, mê tín, quan điểm khoa học và tôn giáo cũng như chính trị” (dẫn theo 2, tr. Tác giả tập trung phân tích đến mặt xã hội của thái độ khi cho rằng một trong những sản phẩm của quá trình học tập là thái độ. Từ việc tìm hiểu và phân tích các định nghĩa về thái độ của các tác giả khác nhau, tôi thấy rằng có rất nhiều quan điểm về thái độ được đưa ra.
Bên cạnh những mặt khác nhau thì các quan điểm này cũng có những điểm chung nhất định về thái độ. Theo chúng tôi, khi nghiên cứu về thái độ phải xem xét, tìm hiểu, lý giải thái độ trong mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội theo các thành phần của thái độ. Từ nghiên cứu về vấn đề thái độ qua ba thành phần nhận thức, xúc cảm - tình cảm, hành vi của tác giả M.