Nghiên cứu thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội

Nghiên cứu thái độ học tập môn lịch sử của học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

106
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ HỌC TẬP MÔN LỊCH SỬ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tình hình nghiên cứu về thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông

1.2. Các nghiên cứu ở nước ngoài

1.3. Các nghiên cứu ở trong nước

1.4. Một số khái niệm cơ bản

1.5. Thái độ học tập

1.6. Môn Lịch sử

1.7. Học sinh trung học phổ thông

1.8. Thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông

1.9. Một số yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông

1.9.1. Yếu tố chủ quan

1.9.2. Yếu tố khách quan

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nghiên cứu lí luận

2.1.1. Mục đích nghiên cứu lí luận

2.1.2. Nội dung nghiên cứu lí luận

2.1.3. Phương pháp nghiên cứu lí luận

2.2. Nghiên cứu thực tiễn

2.2.1. Giai đoạn thiết kế bảng hỏi

2.2.2. Giai đoạn điều tra thử

2.2.3. Giai đoạn điều tra chính thức

2.2.4. Giai đoạn xử lí kết quả

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ THÁI ĐỘ HỌC TẬP MÔN LỊCH SỬ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HÀ NỘI

3.1. Thực trạng thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông

3.1.1. Thực trạng thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông thể hiện ở mặt nhận thức

3.1.2. Thực trạng thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông thể hiện ở mặt cảm xúc

3.1.3. Thực trạng thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông thể hiện ở mặt hành vi

3.2. Tổng hợp các mặt biểu hiện thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông

3.3. Sự khác biệt về thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông giữa các nhóm học sinh

3.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông

Môn Lịch sử đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về cội nguồn dân tộc. Tuy nhiên, thái độ học tập của học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội hiện nay đang gặp nhiều vấn đề. Nhiều học sinh không coi trọng môn học này, dẫn đến việc thiếu kiến thức và sự quan tâm đến lịch sử dân tộc. Việc tìm hiểu thái độ học tập của học sinh là cần thiết để cải thiện tình hình này.

1.1. Khái niệm thái độ học tập và tầm quan trọng của môn Lịch sử

Thái độ học tập là sự phản ánh của học sinh đối với môn học, bao gồm nhận thức, cảm xúc và hành vi. Môn Lịch sử không chỉ giúp học sinh hiểu biết về quá khứ mà còn hình thành nhân cách và trách nhiệm công dân. Việc học Lịch sử giúp học sinh nhận thức rõ hơn về giá trị văn hóa và lịch sử dân tộc.

1.2. Tình hình hiện tại về thái độ học tập môn Lịch sử

Theo thống kê, nhiều học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội không đăng ký thi môn Lịch sử, cho thấy thái độ học tập chưa tích cực. Sự thiếu quan tâm này có thể ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách và ý thức công dân của học sinh trong tương lai.

II. Vấn đề và thách thức trong thái độ học tập môn Lịch sử

Thái độ học tập của học sinh trung học phổ thông đối với môn Lịch sử đang gặp nhiều thách thức. Sự thiếu động lực học tập, ảnh hưởng từ gia đình và phương pháp giảng dạy là những yếu tố chính tác động đến thái độ này. Việc nhận thức rõ các vấn đề này sẽ giúp tìm ra giải pháp hiệu quả.

2.1. Thiếu động lực học tập và sự quan tâm từ phụ huynh

Nhiều học sinh không có động lực học tập môn Lịch sử do thiếu sự quan tâm từ phụ huynh. Phụ huynh thường ưu tiên cho các môn học khác như Toán, Văn, Ngoại ngữ, dẫn đến việc học sinh coi Lịch sử là môn phụ.

2.2. Phương pháp giảng dạy chưa hiệu quả

Phương pháp giảng dạy môn Lịch sử hiện nay chưa thu hút học sinh. Việc giảng dạy chủ yếu dựa vào lý thuyết, thiếu sự tương tác và thực hành, khiến học sinh cảm thấy nhàm chán và không hứng thú với môn học.

III. Phương pháp cải thiện thái độ học tập môn Lịch sử

Để cải thiện thái độ học tập của học sinh đối với môn Lịch sử, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy mới và tạo động lực học tập cho học sinh. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sẽ giúp học sinh hứng thú hơn với môn học.

3.1. Áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực

Sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực như thảo luận nhóm, dự án nghiên cứu sẽ giúp học sinh tham gia tích cực hơn vào quá trình học tập. Việc này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về môn học mà còn phát triển kỹ năng làm việc nhóm.

3.2. Tạo động lực học tập từ giáo viên

Giáo viên cần tạo động lực cho học sinh bằng cách khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện. Việc kết nối kiến thức lịch sử với thực tiễn cuộc sống sẽ giúp học sinh thấy được giá trị của môn học.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về thái độ học tập môn Lịch sử đã chỉ ra rằng việc cải thiện phương pháp giảng dạy và tạo động lực học tập có thể nâng cao thái độ học tập của học sinh. Các trường học cần áp dụng những kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn để nâng cao chất lượng giáo dục.

4.1. Kết quả từ các trường học tại Hà Nội

Nhiều trường học tại Hà Nội đã áp dụng các phương pháp giảng dạy mới và nhận thấy sự cải thiện rõ rệt trong thái độ học tập của học sinh. Học sinh tham gia tích cực hơn vào các hoạt động học tập và thể hiện sự quan tâm đến môn Lịch sử.

4.2. Đánh giá hiệu quả của các giải pháp

Các giải pháp được áp dụng đã cho thấy hiệu quả tích cực trong việc nâng cao thái độ học tập của học sinh. Việc đánh giá thường xuyên sẽ giúp điều chỉnh và cải thiện các phương pháp giảng dạy.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho môn Lịch sử

Thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội cần được cải thiện để đảm bảo rằng thế hệ trẻ hiểu và trân trọng lịch sử dân tộc. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ và liên tục để nâng cao nhận thức và thái độ học tập của học sinh.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao thái độ học tập

Nâng cao thái độ học tập môn Lịch sử không chỉ giúp học sinh có kiến thức vững vàng mà còn hình thành nhân cách và trách nhiệm công dân. Điều này sẽ góp phần xây dựng một xã hội văn minh và phát triển.

5.2. Định hướng phát triển môn Lịch sử trong tương lai

Cần có những chính sách và chương trình giáo dục phù hợp để phát triển môn Lịch sử. Việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong giảng dạy sẽ giúp học sinh hứng thú hơn với môn học này.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh thái độ học tập môn lịch sử của học sinh trung học phổ thông ở hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí luận về thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông. - Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu. - Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hƣơng 1 Ơ SỞ LÍ LUẬN VỀ T Á HỌC TẬP MÔN LỊCH SỬ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.

Tình hình nghiên cứu về thái đ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông 1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Người đầu tiên khởi xướng những nghiên cứu về thái độ là A. Trong các tác phẩm của mình như: Chương trình nghiên cứu nhân cách trong mối quan hệ với môi trường (1912), Tâm lí học đại cương và thực nghiệm (1912), Bút kí khoa học về tính cách (1916), Phân loại nhân cách (1917), A.Lagiurxki đã đề cập đến khái niệm thái độ chủ quan ở con người với môi trường. Ông cho rằng, có hai lĩnh vực trong đời sống tâm lí thực của con người: - Cái tâm lí bên trong: là cơ sở bẩm sinh của nhân cách (khí chất, tính cách và một loạt các đặc điểm tâm sinh lí khác).

- Cái tâm lí bên ngoài: là hệ thống thái độ của nhân cách với môi trường xung quanh.Lagiurxki thì thái độ cá nhân là sự biểu hiện ra bên ngoài của cái tâm lí, phản ứng với sự tác động của môi trường xung quanh. Ông hiểu khái niệm này theo nghĩa rộng, bao gồm thái độ với giới tự nhiên, với sản phẩm lao động, với những cá nhân khác, với các nhóm xã hội và với những giá trị tinh thần. Trong đó, thái độ của nhân cách đối với lao động, với nghề nghiệp; và sở hữu, với người khác và với xã hội là điều mà A.Lagiurxki đặc biệt coi trọng.258] Những nghiên cứu về thái độ ở Liên Xô (cũ) được bắt đầu sớm hơn so với ở phương Tây. Nhà tâm lí học Xô viết V.Miaxisev (1892 – 1973) cũng bắt đầu từ các nghiên cứu của A.Lagiurxki nhưng “thổi” vào đó những quan 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điểm của tâm lí học mác xít về bản chất của con người và xây dựng nên “học thuyết thái độ nhân cách”, cho rằng hạt nhân tâm lí nhân cách là một hệ thống trọn vẹn mang tính cá thể của các thái độ có ý thức – chọn lọc, mang tính giá trị của chủ quan đối với hiện thực khách quan.

Hệ thống thái độ được hình thành theo cơ chế chuyển dịch “từ ngoài vào trong”, thông qua với những người khác trong những điều kiện xã hội mà chủ thể đang sống và sinh hoạt [8]. Trong học thuyết này, V.Miaxisev còn đề cập việc phân loại thái độ, ông chia thái độ thành hai loại là tích cực (dương tính) và tiêu cực (âm tính); ông cũng đưa ra các chỉ báo về thái độ cho phép đánh giá và phân tích nhân cách. Những đề xuất trong nghiên cứu thái độ của ông còn được ứng dụng triển khai trong nghiên cứu các bệnh suy nhược thần kinh – một lĩnh vực ứng dụng thực hành của khoa học tâm lí. Một học thuyết khác được coi là có ảnh hưởng lớn tới tâm lí học Liên Xô (cũ) là thuyết tâm thế.

Trong thuyết này, D.Uznadze đã đưa ra định nghĩa, một cách hiểu mới về tâm thế, cho rằng tâm thế là “sự mô phỏng trọn vẹn của chủ thể, sự sẵn sàng tri giác các sự kiện và sự xác định hoàn thiện về hướng của hành vi” [8, tr. Tâm thế là cơ sở của tính tích cực có chọn lọc, có chủ định. Xuất phát từ vai trò, vị trí của tâm thế trong hoạt động, tâm thế được xem như là một trạng thái vô thức, chỉ sau khi hội tụ đủ hai yếu tố: nhu cầu và hoàn cảnh, điều kiện thỏa mãn nhu cầu thì xu hướng biểu hiện tâm lí hành vi vủa một cá thể bất kì mới được quyết định. Cách tiếp cận, xem xét khái niệm tâm thế theo D.Uznadze giúp cho việc xác định nghiên cứu tâm thế xã hội – thái độ trong tâm lí học xã hội ở Liên Xô trước đây, được đặt trong bối cảnh khả quan.

Sau này, học trò của D. Nadiraevili đã phát hiện những quy luật tác động qua lại của tâm thế xã hội – thái độ giữa người đi thuyết phục và người bị thuyết phục. Cũng trong nghiên cứu tâm thế xã hội, thành phần cấu trúc của tâm thế xã hội đã được P. Siltllirev mô tả gồm có ba thành phần là nhận thức, cảm xúc và hành động.

Tuy nhiên, bằng việc nghiên cứu thực nghiệm, La Piere 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là người đầu tiên đã phát hiện có sự không đồng bộ, thống nhất với nhau giữa các phản ứng bằng lời nói với hành vi thực trong cuộc sống của cá nhân trong tâm thế xã hội của họ. Để giải quyết mâu thuẫn giữa các thành phần của thái độ, V. Iadov đã đưa ra thuyết nghiên cứu hệ thống định vị điều chỉnh hành vi hoạt động xã hội của cá nhân. Thuyết này đã phát triển khái niệm tâm thế và cho rằng hành vi xã hội của mỗi cá nhân được điều khiển bởi hệ thống định vị bao gồm tâm thế, tâm thế xã hội, xu hướng cơ bản của hứng thú, cơ sở hệ thống định hướng giá trị.

Theo đó, tâm thế chỉ là một dạng định vị điều chỉnh hành vi, phản ứng cá nhân trong các tình huống đơn giản khi có sự “gặp gỡ” giữa nhu cầu sinh lí và đối tượng thoả mãn nhu cầu. Hệ thống định vị cũng có cấu trúc thứ bậc, trong đó định vị bậc cao có thể chi phối định vị bậc thấp. Iadov đã lí giải một cách hợp lí về mâu thuẫn giữa hành vi và các phản ứng bằng lời trong thái độ của cá nhân: “Vai trò chủ đạo điều khiển hành vi thuộc về cách bố trí dàn binh của một mức độ khác” mà theo cách này, hành vi bị điều khiển phụ thuộc vào vị trí động cơ (đối tượng hoạt động) tương ứng trong cấu trúc thứ bậc động cơ của nhân cách [8, tr. Trong những năm cuối thế kỉ XX nhà tâm lí học người Nga B.Lomov cũng đã đề cập đến khái niệm thái độ chủ quan của nhân cách [18].

Cơ sở khoa học của khái niệm này, B.Lomov xác định là các quan hệ xã hội, trong đó quan hệ kinh tế có vai trò quyết định. Còn tính chất và động thái của thái độ chủ quan được hình thành ở mỗi cá nhân phụ thuộc vào vị trí (lập trường) mà nó chiếm chỗ trong hệ thống các quan hệ xã hội và sự phát triển của nó trong hệ thống đó.Lomov còn khẳng định tính nhiều chiều, nhiều tầng và cơ động của thái độ chủ quan trong một hệ thống phức tạp được gọi là “không gian chủ quan đa chiều”. Tuy nhiên, không phải lúc nào không gian này cũng trùng hợp với không gian các quan hệ xã hội mà cá nhân tham gia một cách khách quan nên chúng ta thường gặp nhiều hơn là sự “pha trộn” giữa chúng. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cũng theo B.Lomov, thái độ chủ quan được hình thành thông qua hoạt động và giao tiếp.

Ông cho rằng cũng có khi xảy ra sự mâu thuẫn giữa giao tiếp và hoạt động, nhưng chính việc giải quyết mâu thuẫn này bảo đảm cho cá nhân chuyển từ thời kì, giai đoạn này sang thời kì, giai đoạn khác. Như vậy, trên cơ sở những đề xuất, quan điểm nghiên cứu nhân cách, trong đó có thái độ chủ quan của cá nhân, B.Lomov đã vạch ra cơ sở khoa học, phương pháp luận cho việc nghiên cứu thái độ. Tóm lại, khi nghiên cứu các vấn đề của thái độ các nhà tâm lí học Liên Xô trước đây đã vận dụng cách tiếp cận hoạt động và nhân cách, gắn thái độ với nhu cầu, với điều kiện hoạt động, với nhân cách, coi thái độ như là một hệ thống, từ đó đưa ra cách lí giải hợp lí và khoa học về sự hình thành thái độ, vị trí, chức năng của thái độ trong quá trình điều chỉnh hành vi và hoạt động của cá nhân. Trong tâm lí học phương Tây, vấn đề thái độ (attitude) lần đầu tiên được đặt ra bởi W.Znaniecki vào năm 1918, từ đó nó được đặt vào một vị trí trọng tâm nghiên cứu của các nhà khoa học.

Trong nghiên cứu của mình, nhà tâm lí học xã hội Liên Xô (cũ) P.Sikllirev đã chia lịch sử nghiên cứu thái độ ở phương Tây ra làm ba thời kì chính [9, tr.318]: - Thời kì thứ nhất kéo dài từ năm 1918 đến năm 1939, gắn với tên tuổi của hai tác giả người Mĩ nêu trên là W.Znaniecki khi họ khởi đầu nghiên cứu về thái độ của những người nông dân Ba Lan di cư sang Mĩ. Các công trình nghiên cứu ở thời kì này chủ yếu tập trung vào vấn đề định nghĩa, cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệ của nó với hành vi. Sự phát hiện ra “nghịch lí La Piere” năm 1934, biểu thị sự không nhất quán giữa phản ứng bằng lời nói (thái độ) và hành vi chính là công trình nghiên cứu thực nghiệm gây chú ý nhất trong thời kì này. Có thể coi đây là thời kì phát triển mạnh mẽ các nghiên cứu về thái độ.

- Thời kì thứ hai kéo dài từ năm 1939 đến cuối những năm 1950, gắn với những tên tuổi như Liker, Sank, G. Các 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu ở thời kì này chủ yếu tập trung tìm hiểu, lí giải những hoài nghi về vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi. Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu về thái độ ở thời kì này có sự giảm sút một cách đáng kể. - Thời kì thứ ba kéo dài từ cuối những năm 1950 đến nay, có thể được coi là thời kì bùng nổ của những nghiên cứu về thái độ ở phương Tây.

Các nghiên cứu ở thời kì này thường đề cập đến những quan niệm mới về định nghĩa thái độ, cấu trúc và chức năng của nó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà học sinh tại Hà Nội tiếp cận và cảm nhận về môn Lịch sử. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học tập mà còn chỉ ra những lợi ích của việc hiểu rõ môn học này trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc cải thiện thái độ học tập có thể dẫn đến kết quả học tập tốt hơn và sự phát triển toàn diện của học sinh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả học tập, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp tiếng trung khảo sát những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả học tập các học phần chuyên ngành sư phạm theo mô hình học tập kết hợp của sinh viên khoa tiếng trung trên hệ thống vle. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến việc học tập trong các lĩnh vực khác nhau.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về Khóa luận tốt nghiệp tâm lý học đặc điểm động cơ học tập của sinh viên ngành cử nhân tâm lý học trường đại học sư phạm thành phố hồ chí minh, nơi phân tích động cơ học tập của sinh viên, từ đó có thể rút ra những bài học quý giá cho việc cải thiện thái độ học tập.

Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên đại học ueh đối với hình thức học tập trực tuyến cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về sự hài lòng trong học tập, một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thái độ học tập của sinh viên.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ và hiệu quả học tập.