Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Bình Nguyên Lộc, được thực hiện năm 2015 tại Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Lý Minh Tiên, tiếp cận vấn đề động cơ học tập (ĐCHT) của người học trong bối cảnh chuyển đổi phương thức đào tạo đại học sang học chế tín chỉ. ĐHSP TP.HCM là một trong 14 trường đại học trọng điểm quốc gia và là một trong hai trường sư phạm lớn của cả nước. Bên cạnh đào tạo khối ngành sư phạm truyền thống, Nhà trường tổ chức đào tạo các khối ngành cử nhân ngoài sư phạm. Mô hình đào tạo tín chỉ đòi hỏi người học phải nâng cao tính năng động, tự giác và chủ động trong việc lập kế hoạch học tập, lựa chọn khối kiến thức nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra.
Căn cứ theo Chương trình đào tạo ngành Cử nhân Tâm lý học (CN TLH) ban hành kèm theo Quyết định số 1252/ĐHSP-ĐT ngày 22 tháng 7 năm 2011 của Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, mục tiêu chung đặt ra là đào tạo cử nhân có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất nghề nghiệp để nghiên cứu tâm lý học và làm việc tại các trung tâm, cơ quan, đoàn thể xã hội. Chương trình nhấn mạnh phẩm chất "có thái độ chủ động, tích cực trong rèn luyện nhân cách" và mục tiêu kiến thức "có kiến thức về những vấn đề cơ bản trong tâm lý người, những cơ sở khoa học của hiện tượng tâm lý người để định hướng vận dụng nhằm thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội". Để đáp ứng khối lượng hoạt động học tập đa dạng và đạt chuẩn đầu ra theo quy định, sinh viên ngành CN TLH cần xác định rõ ràng ĐCHT. Thiếu ĐCHT hoặc ĐCHT không rõ ràng sẽ khiến sinh viên mất phương hướng, giảm tính kiên trì trong việc tích lũy tri thức chuyên ngành và làm suy giảm kết quả học tập.
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu đặc điểm động cơ học tập của sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số biện pháp thúc đẩy động cơ học tập của sinh viên.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài: Nghiên cứu lý luận về động cơ, ĐCHT; đặc điểm tâm lý của lứa tuổi thanh niên sinh viên; tổng hợp các tài liệu, đề tài khoa học, khóa luận và luận văn thạc sĩ liên quan.
- Nghiên cứu thực trạng: Khảo sát đặc điểm ĐCHT của sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học; tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ĐCHT; phân tích ĐCHT thông qua nhận thức, thái độ và hành vi học tập của sinh viên.
- Đề xuất biện pháp: Dựa trên kết quả khảo sát và phỏng vấn, đề xuất một số biện pháp có tính cần thiết và khả thi nhằm thúc đẩy ĐCHT của sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học.
Giả thuyết nghiên cứu:
- Sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học chịu sự chi phối từ động cơ Hoàn thiện tri thức hơn là động cơ Quan hệ xã hội.
- Động cơ học tập của sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học chịu sự chi phối, tác động bởi các yếu tố chủ quan (nhu cầu, sở thích, hứng thú, năng lực) hơn là yếu tố khách quan (môi trường học tập, giảng viên, bạn bè).
- Thái độ học tập của sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học là tích cực.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Động cơ học tập của sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học, Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi và giới hạn đề tài:
- Giới hạn về không gian nghiên cứu: Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Tìm hiểu đặc điểm động cơ học tập của sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Khảo sát trên 280 sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học thuộc các khối lớp từ năm 1 đến năm 4.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc kế thừa và tổng thuật các lý thuyết tâm lý học hành vi, tâm lý học nhân văn và tâm lý học hoạt động Mác-xít.
Về khái niệm công cụ, tác giả tiếp thu định nghĩa của Nguyễn Quang Uẩn làm cơ sở nghiên cứu: Động cơ là "cái thúc đẩy con người hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu, là cái làm nảy sinh tính tích cực và quy định xu hướng của hướng tích cực đó. Động cơ là động lực kích thích trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành vi". Trong cấu trúc hoạt động học tập, tác giả vận dụng lý thuyết hoạt động của A.N. Leontiev với cấu trúc 6 thành tố biện chứng phân chia theo mặt chủ thể và mặt đối tượng: Hoạt động – Động cơ, Hành động – Mục đích, Thao tác – Phương tiện. Khái niệm hoạt động học tập được soi chiếu qua quan điểm của D.B. Elkonin (hoạt động nhằm tự biến đổi bản thân, với sản phẩm là những biến đổi diễn ra trong chính chủ thể) và Lê Văn Hồng (hoạt động đặc thù nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới).
Về phân loại ĐCHT, khóa luận tiếp cận theo mô hình phân loại ba nhóm của ThS. Lý Minh Tiên (1981):
- Động cơ bên trong: Xuất phát từ nhu cầu nhận thức, ham hiểu biết, niềm tin và sự quan tâm trực tiếp tới tri thức, kỹ năng nghề nghiệp. Hoạt động học tập tự thân mang giá trị tưởng thưởng.
- Động cơ bên ngoài: Bắt nguồn từ các kích thích bên ngoài như điểm số, phần thưởng, áp lực gia đình, yêu cầu xã hội hoặc việc né tránh trách phạt.
- Động cơ trung gian: Dạng động cơ nằm ở khoảng giữa, là sự kết hợp, hòa trộn giữa các dấu hiệu của động cơ bên trong và động cơ bên ngoài.
Khóa luận đồng thời sử dụng kết quả đề tài cấp Nhà nước KX-07-04 (Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang) về 5 giá trị hàng đầu của sinh viên Việt Nam (học vấn, niềm tin, nghề nghiệp, sống có mục đích, tự trọng) và thuyết nhân cách hướng nghiệp của John Holland để lý giải đặc điểm tâm lý, sự phù hợp giữa nhân cách sinh viên với ngành học.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp ba phương pháp cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp các tài liệu, giáo trình, công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế để xây dựng khung lý thuyết.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập dữ liệu trên mẫu 280 sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học (từ năm 1 đến năm 4). Bảng hỏi đo lường các khía cạnh: lý do chọn trường/ngành; nhận thức về các nhóm động cơ (trong, ngoài, trung gian); nhận thức về chương trình học; thái độ học tập (tích cực, tiêu cực); hành vi học tập; và các nhóm yếu tố ảnh hưởng.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp một số sinh viên dựa trên các vấn đề nổi trội phát hiện từ dữ liệu bảng hỏi để làm rõ cơ chế tâm lý đằng sau hành vi.
- Phương pháp thống kê toán học: Toàn bộ dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích trên phần mềm SPSS for Windows phiên bản 13.0, tính toán các đại lượng thống kê mô tả (điểm trung bình, tần số), độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha) và hệ số tương quan (HSTQ).
| Tiêu chí phương pháp |
Chi tiết triển khai trong khóa luận |
| Quy mô mẫu (n) |
280 sinh viên hệ Cử nhân Tâm lý học |
| Phân tầng khách thể |
Khối lớp năm 1, năm 2, năm 3, năm 4 |
| Địa bàn khảo sát |
Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường ĐHSP TP.HCM |
| Công cụ thu thập |
Bảng hỏi chuẩn hóa thang đo + Phỏng vấn sâu |
| Công cụ xử lý số liệu |
Phần mềm SPSS for Windows phiên bản 13.0 |
| Chỉ số thống kê |
Điểm trung bình, tỷ lệ %, hệ số tương quan (HSTQ) |
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG CƠ HỌC TẬP
Chương 1 dành dung lượng hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu ĐCHT qua ba dòng công trình:
- Phương Tây: Điểm qua thuyết hành vi tạo tác của E. Thorndike (kích thích hướng hành vi); thuyết bản năng của S. Freud (năng lượng sinh học Libido); thuyết xung năng giảm căng thẳng của Clark Hull; quan điểm hành vi của J.B. Watson; thuyết nhân văn của Abraham Maslow (phân biệt động cơ thiếu hụt và động cơ muốn thăng tiến để thể hiện tối đa tiềm năng); quan điểm của J. Bruner (kích thích nằm ngay trong hoạt động học tập); và nghiên cứu ĐCHT ngoại ngữ của H.D. Brown (1994). Tác giả nhận định các nghiên cứu phương Tây đã bao quát yếu tố chủ quan và khách quan nhưng còn nặng về yếu tố thưởng - phạt nhân viễn, ít chú ý đến bối cảnh xã hội của chủ thể.
- Tâm lý học Xô-viết: Phân tích quan điểm Mác-xít của L.S. Vygotsky, S.L. Rubinstein, A.N. Leontiev (động cơ là đối tượng được vật hóa của nhu cầu, phân ly thành động cơ hiểu biết và động cơ hành động), L.I. Bozhovich (động cơ tự hoàn thiện bản thân), A.K. Markova và M.A. Alekseeva. ĐCHT được xác lập từ ba nguồn gốc: cá nhân, bên trong và bên ngoài.
- Trong nước: Kế thừa các công trình của Đặng Xuân Hoài (1976), Lý Minh Tiên (1981 - chia động cơ thành bên trong, bên ngoài, trung gian), Trịnh Quốc Thái, Nguyễn Trần Hương Giang (2008), Phạm Thị Đức (1994), Khăm Van Khim Ôn (1994), Nhâm Văn Chăn Cơn, Nguyễn Hồi Loan (2003), Đoàn Huy Oánh (2004), Nguyễn Kế Hào (2005), Hồ Ngọc Đại, Phạm Minh Hạc, Dương Thị Kim Oanh (2008), Nguyễn Thạc (2009), Phan Thị Tố Oanh và Trần Thị Ngọc Anh (2010), Phạm Thị Hồng Thái (2010), Thái Thị Xuân Đào (2011).
Chương này cũng làm rõ các biểu hiện của ĐCHT (qua nhận thức, cảm xúc - thái độ và hành vi học tập), điều kiện chuyển hóa động cơ, và phân tích các đặc trưng tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên: sự phát triển tư duy lý luận độc lập, nhu cầu khẳng định bản thân, năng lực tự đánh giá - tự ý thức, và định hướng giá trị đường đời. Cuối chương, tác giả phân loại các yếu tố tác động thành:
- Yếu tố chủ quan: Sự đấu tranh nhu cầu (phân tán thời gian cho nghỉ ngơi, giải trí), thiếu nỗ lực ý chí và kỷ luật học tập, thiếu năng lực/phương pháp học tập, niềm tin giới hạn về năng lực bản thân, và tâm lý lo lắng, căng thẳng trong thi cử.
- Yếu tố khách quan: Môi trường sư phạm, phương pháp giảng dạy của giảng viên, trang thiết bị học tập, tập thể bạn bè, gia đình và các chính sách hỗ trợ xã hội.
CHƯƠNG 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐCHT CỦA SV NGÀNH CN TLH TRƯỜNG ĐHSP TP.HCM
Chương 2 trình bày toàn bộ kết quả khảo cứu thực nghiệm trên 280 sinh viên ngành CN TLH Trường ĐHSP TP.HCM, được cấu trúc qua các nội dung và hệ thống bảng số liệu sau:
1. Mô tả mẫu và công cụ đo lường (Mục 2.1):
Trình bày cơ cấu thành phần mẫu nghiên cứu (Bảng 2.1) gồm 280 sinh viên từ năm 1 đến năm 4; cấu trúc bảng hỏi; thang điểm đánh giá các câu hỏi (Bảng 2.6, Bảng 2.7); kiểm định độ tin cậy thang đo và phương pháp phỏng vấn sâu.
2. Nhận thức của sinh viên về các nhóm động cơ (Mục 2.2.1):
Dữ liệu Bảng 2.8 tổng hợp điểm trung bình nhận thức của sinh viên về ba nhóm động cơ: động cơ bên trong, động cơ bên ngoài và động cơ trung gian. Kết quả cho thấy sinh viên có sự phân biệt rõ ràng về mức độ chi phối của từng nhóm động cơ đối với việc học tập chuyên ngành.
3. Biểu hiện ĐCHT qua mục đích chọn trường, chọn ngành và định hướng nghề nghiệp (Mục 2.2.2):
- Biểu đồ 2.1 minh họa lý do chọn học đại học của sinh viên ngành CN TLH.
- Phân tích lý do chọn học ngành CN TLH tại Trường ĐHSP TP.HCM: phản ánh sự kết hợp giữa hứng thú tìm hiểu khoa học tâm lý và uy tín đào tạo của Nhà trường.
- Định hướng chuyên ngành sau khi ra trường của sinh viên cử nhân: phản ánh kỳ vọng tham gia thị trường lao động tại các cơ sở tư vấn, trung tâm ứng dụng tâm lý, trường học và cơ quan xã hội.
4. Biểu hiện ĐCHT qua nhận thức, thái độ và hành vi (Mục 2.2.4 – 2.2.6):
- Bảng 2.9 đo lường biểu hiện ĐCHT qua nhận thức về việc học và chương trình đào tạo của sinh viên ngành CN TLH.
- Bảng 2.10 và Bảng 2.11 phân tích các biểu hiện ĐCHT qua thái độ học tập tích cực (tính say mê, tự giác) và thái độ học tập tiêu cực (lo âu, ức chế tâm lý).
- Bảng 2.12 phản ánh biểu hiện ĐCHT qua hành vi học tập cụ thể: mức độ chuyên cần trên lớp, thói quen đến thư viện, nghiên cứu giáo trình ngoài giờ và làm việc nhóm.
5. Các yếu tố ảnh hưởng đến ĐCHT (Mục 2.2.7):
- Bảng 2.13: Đo lường mức độ tác động của các yếu tố chủ quan (nhu cầu, ý chí, năng lực, hứng thú).
- Bảng 2.14: Đo lường các yếu tố liên quan đến nhà trường (chất lượng giảng dạy, phương pháp của giảng viên, cơ sở vật chất).
- Bảng 2.15: Đánh giá tác động của yếu tố xã hội và các chính sách hỗ trợ học tập.
6. Biện pháp đề xuất thúc đẩy ĐCHT (Mục 2.2.8):
- Bảng 2.16: Tổng hợp mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất cho giảng viên.
- Bảng 2.17: Tổng hợp mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp về chính sách hỗ trợ từ phía Khoa Tâm lý – Giáo dục và Nhà trường.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Thứ bậc chi phối của các nhóm động cơ: Sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học Trường ĐHSP TP.HCM nhận thức ĐCHT chịu sự dẫn dắt chủ đạo bởi nhóm động cơ bên trong (hoàn thiện tri thức, làm chủ kiến thức khoa học chuyên ngành, chuẩn bị năng lực hành nghề tương lai). Động cơ trung gian đóng vai trò kết nối, trong khi động cơ bên ngoài (học để đối phó thi cử, vì áp lực bằng cấp đơn thuần) giữ thứ bậc thấp hơn.
- Động lực chọn ngành và định hướng nghề nghiệp: Mục đích học tập của sinh viên xuất phát từ sự đam mê lĩnh vực tâm lý học con người và mong muốn đóng góp cho xã hội. Sinh viên nhận thức rõ chương trình đào tạo Cử nhân Tâm lý học đòi hỏi quá trình tự rèn luyện nhân cách và năng lực nghiên cứu theo đúng Quyết định số 1252/ĐHSP-ĐT.
- Thực trạng thái độ và hành vi học tập: Thái độ học tập tích cực chiếm ưu thế rõ nét so với thái độ tiêu cực. Hành vi học tập của sinh viên thể hiện tính chủ động trong việc thu thập học liệu, khai thác mạng internet và sách chuyên khảo, tham gia thảo luận; tuy vậy, áp lực thi cử và sự đấu tranh nhu cầu vẫn tạo ra những biểu hiện phân tán nhất định ở một bộ phận sinh viên.
- Mức độ tác động của các nhóm yếu tố: Các yếu tố chủ quan (nhu cầu nâng cao hiểu biết, năng lực học tập, định hướng nghề nghiệp) tác động mạnh mẽ và trực tiếp nhất tới ĐCHT của sinh viên, vượt trội so với các yếu tố khách quan từ môi trường ngoài. Trong nhóm yếu tố khách quan, phương pháp giảng dạy của giảng viên và môi trường học thuật của Nhà trường giữ vai trò ảnh hưởng đáng kể nhất.
Biện pháp đề xuất của tác giả
Khóa luận xây dựng hệ thống biện pháp can thiệp sư phạm được đo lường về tính cần thiết và tính khả thi:
- Biện pháp đối với giảng viên: Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm; tích hợp các tình huống thực tiễn nghề nghiệp tâm lý vào bài giảng; đa dạng hóa hình thức đánh giá tín chỉ; hướng dẫn kỹ năng nghiên cứu khoa học và phương pháp tự học tài liệu chuyên ngành cho sinh viên.
- Biện pháp đối với Khoa và Nhà trường: Hoàn thiện chính sách hỗ trợ học tập, tăng cường học bổng khuyến khích; hiện đại hóa trang thiết bị giảng đường và nguồn học liệu chuyên ngành tâm lý học tại thư viện; mở rộng mạng lưới liên kết với các trung tâm tham vấn, bệnh viện, trường học và doanh nghiệp để tạo cơ hội thực tập, kiến tập nghề nghiệp sớm cho sinh viên Cử nhân Tâm lý học.
Đóng góp của đề tài
- Đóng góp lý luận: Khóa luận bổ sung bức tranh thực chứng về ĐCHT của khối sinh viên cử nhân khoa học xã hội ngoài sư phạm đang theo học tại một trường đại học sư phạm trọng điểm; vận dụng hiệu quả mô hình ba nhóm động cơ (trong, ngoài, trung gian) của ThS. Lý Minh Tiên vào nghiên cứu thực tiễn.
- Đóng góp thực tiễn: Cung cấp bộ số liệu thực trạng cho Ban Chủ nhiệm Khoa Tâm lý – Giáo dục và Ban Giám hiệu Trường ĐHSP TP.HCM nhằm điều chỉnh nội dung đào tạo, cải tiến hoạt động hỗ trợ sinh viên đáp ứng chuẩn đầu ra trong điều kiện đào tạo tín chỉ. Đề tài mở ra tiền đề nghiên cứu cho các đề tài tiếp theo về tâm lý học sinh viên ngành Tâm lý học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Giới hạn phạm vi nghiên cứu thực trạng trong phạm vi sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM với mẫu khảo sát 280 sinh viên. Đề tài chưa tiến hành khảo sát đối sánh giữa sinh viên hệ Cử nhân Tâm lý học với sinh viên hệ Sư phạm Tâm lý – Giáo dục trong cùng một cơ sở đào tạo, hoặc so sánh liên trường với sinh viên tâm lý học của các trường đại học khác trên địa bàn TP.HCM. Phương pháp tiếp cận mang tính cắt ngang tại một thời điểm, chưa theo dõi biến động ĐCHT theo chiều dọc qua từng năm học của cùng một nhóm khách thể.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu khảo sát đối sánh đa trường; nghiên cứu sâu mối tương quan định lượng giữa ĐCHT với điểm trung bình chung tích lũy (GPA) thực tế của sinh viên; và triển khai các nghiên cứu thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng mức độ hiệu quả của từng nhóm giải pháp kích hoạt động cơ bên trong.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Sư phạm làm khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ hoặc đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến động cơ, hứng thú học tập và tâm lý sinh viên.
- Giảng viên các bộ môn Tâm lý học, đặc biệt là giảng viên trực tiếp giảng dạy hệ đào tạo tín chỉ tại các trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học sư phạm.
- Cán bộ quản lý đào tạo, trợ lý công tác sinh viên tại các trường đại học quan tâm đến việc xây dựng môi trường thúc đẩy động lực học tập cho người học.
- Nội dung giá trị nhất:
- Phần tổng quan lịch sử nghiên cứu ĐCHT ở Chương 1, đặc biệt là sự đối sánh chi tiết giữa trường phái phương Tây, Liên Xô và các tác giả tại Việt Nam.
- Hệ thống công cụ bảng hỏi khảo sát thực trạng ở Chương 2 đo lường cụ thể ba nhóm động cơ (bên trong, bên ngoài, trung gian) kết hợp với các biểu hiện nhận thức, thái độ, hành vi học tập và quy trình phân tích thống kê trên SPSS 13.0.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận căn cứ vào cơ sở pháp lý và chuẩn đào tạo nào để đối chiếu mục tiêu đào tạo của ngành Cử nhân Tâm lý học?
Khóa luận căn cứ trực tiếp vào Chương trình đào tạo ngành Cử nhân Tâm lý học ban hành kèm theo Quyết định số 1252/ĐHSP-ĐT ngày 22 tháng 7 năm 2011 của Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Văn bản này quy định chuẩn đào tạo cử nhân có chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và khả năng nghiên cứu, làm việc tại các trung tâm, cơ quan, đoàn thể xã hội.
2. Khóa luận sử dụng mô hình phân loại động cơ học tập nào để tiến hành đo lường thực trạng?
Khóa luận sử dụng mô hình phân loại ba nhóm động cơ của ThS. Lý Minh Tiên (1981): động cơ bên trong, động cơ bên ngoài và động cơ trung gian. Cách phân loại này cho phép nhận diện dạng động cơ nằm ở khoảng giữa hai cực, phản ánh tính chất đan xen giữa động lực nội tại và áp lực bên ngoài trong hoạt động học tập của sinh viên.
3. Quy mô và cơ cấu mẫu khảo sát thực trạng của đề tài được tổ chức ra sao?
Khách thể nghiên cứu gồm 280 sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học, thuộc Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM. Mẫu nghiên cứu được phân bổ trên cả 4 khối lớp: năm 1, năm 2, năm 3 và năm 4 để bảo đảm tính đại diện cho toàn bộ tiến trình đào tạo cử nhân.
4. Dữ liệu khảo sát được xử lý bằng công cụ thống kê nào?
Toàn bộ dữ liệu từ 280 phiếu điều tra bằng bảng hỏi được mã hóa, nhập liệu và xử lý thống kê toán học bằng chương trình phần mềm SPSS for Windows phiên bản 13.0, tính toán các chỉ số thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo và hệ số tương quan (HSTQ).
5. Ba giả thuyết khoa học đặt ra ở phần Mở đầu của khóa luận là gì?
Ba giả thuyết bao gồm: (1) Sinh viên ngành CN TLH chịu sự chi phối từ động cơ Hoàn thiện tri thức hơn là động cơ Quan hệ xã hội; (2) ĐCHT của sinh viên chịu sự chi phối bởi các yếu tố chủ quan (nhu cầu, sở thích, hứng thú, năng lực) hơn là yếu tố khách quan (môi trường học tập, giảng viên, bạn bè); (3) Thái độ học tập của sinh viên ngành CN TLH là tích cực.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Bình Nguyên Lộc đã phản ánh một cách toàn diện và khoa học về đặc điểm động cơ học tập của 280 sinh viên ngành Cử nhân Tâm lý học tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Bằng việc phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận hoạt động tâm lý và dữ liệu điều tra thực tiễn thông qua SPSS 13.0, công trình đã làm sáng tỏ thứ bậc chi phối của các nhóm động cơ bên trong, động cơ bên ngoài và động cơ trung gian, đồng thời phân tích rõ nét các biểu hiện nhận thức, thái độ và hành vi của người học. Những phát hiện thực nghiệm cùng hệ thống giải pháp đề xuất đối với giảng viên và cơ sở đào tạo là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác quản lý giáo dục đại học theo học chế tín chỉ.