CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VE TRI HOAN TRONG HỌC TAP VÀ ĐỘNG CƠ HỌC TẬP Ở SINH VIÊN 1. Tông quan các công trình nghiên cứu 1. Một số nghiên cứu trên thế giới 1.
Một sé nghiên cứu trên thé giới về trì hoãn trong học tập Trì hoãn đã xuất hiện cùng với sự phát triển của con người từ rất lâu, chăng han, vào những năm 1400 trước Công nguyên, con người đã dau tranh trong việc quản lý thời gian, bằng chứng này đã được lưu lại trong một loại chữ tượng hình Ai Cập cô đại được khai quật. người La Mã cũng ghi nhận sự tác động của trì hoăn đến cuộc sống và họ nhân mạnh tam quan trọng của việc tận dụng tôi đa thời gian mỗi ngày. Mặt khác, vào năm 800 trước Công nguyên, nhà tho Hesiod đã đề cập “Đừng bỏ dé công việc của ban cho đến ngày mai và ngày kia, vì sự ué oải của công nhân không làm hoàn thành công việc cua minh” (Janssen, 2015). Chính lịch sử đã chứng minh, trì hoãn không chỉ tác động mạnh mẽ đến cá nhân mà còn ảnh hưởng đến toan xã hội.
vì vậy, rất nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về chủ đề này với nhiều khía cạnh tiếp cận khác nhau: Hướng tiếp cận thực trạng trì hoãn trong học tập Solomon và Rothblum (1984) khi nghiên cứu trên 342 sinh viên đã chỉ ra, 46% sinh viên cho rằng họ gần như luôn luôn hoặc luôn luôn trì hoãn trong việc viết một học kỳ, 27,6% trì hoãn việc học cho các kỳ thi và 30,1% trì hoãn trên đọc bai tap hang tuần. Một nhóm nhỏ sinh viên nhận thấy họ trì hoãn các công việc hành chính (10,6%), các nhiệm vụ chuyên can (23.0%): và các hoạt động của trường nói chung (10. Xét đối với các môn học, sinh viên cảm thấy sự trì hoãn là một van dé đối với họ, 23,7% báo cáo rằng nó gan như luôn luôn hoặc luôn luôn là một van đề khi viết một bài báo học kỳ, 21,2% cho rằng đó là van dé khi học cho các kỳ thi và 23,7% nói rằng đó là một van đề khi thực hiện các bài đọc hàng tuần. Sự trì hoãn ít vẫn đề hơn với phân còn lại nhiệm vụ và các hoạt động của nhà trường nói chung.
Về mức độ đôi tượng được cho là muốn giảm xu hướng trì hoãn của họ, 65,0% nói rằng họ muốn hoặc chắc chắn muốn giảm sự trì hoãn của họ khi viết một điều khoản giấy, 62.2% muốn giảm nó khi học cho các kỳ thi và 55,1% muốn glảm nó khi thực hiện các bài đọc hàng tuần. Tương tu, trong nghiên cứu của Gallagher va cộng sự (1992) đã chi ra, khoảng 75% trong tông số 608 sinh viên tham gia nghiên cứu đã chỉ ra họ có các biểu hiện trì hoãn trong học tập. Mat khác, 52% sinh viên được khảo sat chỉ ra rằng họ cần sự giúp đỡ vẻ đề giảm thiểu sự trì hoãn từ mức trung bình đến mức cao. Trong nghiên cứu của Ozer và Sackes (2011) có dé cap, với 314 sinh viên đại học tham gia nghiên cứu thì cho thấy có 38% sinh viên tự nhận là người thường xuyên tri hoãn, với các sinh viên nam cho biết thường xuyên trì hoãn hơn so với các sinh viên nữ.
Hướng nghiên cứu về nguyén nhân trì hoãn trong học tập Một số nguyên nhân được tìm thay là yếu tố ảnh hướng đến sự trì hoãn là mức độ tận tâm thấp hơn, rỗi loạn thần kinh cao, cu thé là, khi sự trì hoãn trở thành một cách sông thay vì một hành vi không thường xuyên, mọi người thường gánh chịu một loạt các hậu quả tiêu cực (Lee va cộng sự 2006; Milgram va Tenne, 2000). Tác giả Milgram và nhóm cộng sự (1988) khi nghiên cứu trên 314 sinh viên đại học đã chỉ ra, sự trì hoãn xuất hiện nhiều hơn với các nhiệm vụ được coi là khó chịu hoặc áp đặt, ngược lại với đó, sự trì hoãn xuất hiện ít hơn ở các nhiệm vu đỏi hỏi kỳ năng. Sự trì hoan cũng tìm thấy có mỗi tương quan nghịch với sự tự điều chính va kha năng kiểm soát thời gian. Một trong những lý do phô biến nhất khiến các cá nhân trì hoãn trong các nhiệm vụ học tập là công việc mang tính áp đặt (Steel, 2007).
Ngoài ra, tình huéng cảng thủ địch, càng có nhiều khả năng một người sẽ trì hoãn nhiệm vu (Anderson, 2001; Briody, 1980; Froclich, 1987; Haycock, 1993). Do đó, khi một người cảm thấy một nhiệm vụ không vui vẻ, làm họ cảm thay bực bội hoặc khó chịu, kha năng cao họ sé trì hoãn, tuy nhiên, sự tri hoãn trong học tập không đơn giản là không thích nhiệm vụ. Hướng nghiên cứu về hệ quả trì hoãn trong học tập Trì hoãn gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe thẻ chất và cả sức khỏe tỉnh thần của chúng ta. Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng sự trì hoãn trong học tập có thê dẫn đến tram cảm va lo lắng (Janssen, 2015; Ferrari và cộng sự, 1995), thêm căng thăng, ảnh hưởng đến khả năng cảm nhận hạnh phúc của mỗi người (Haghbin va Pychyl, 2013).
thiếu tự ti và hiệu quả làm việc thấp (Milgram và cộng sự 2001); sợ thất bại (Steel, 2007). Một nghiên cứu cũng chỉ ra những người hay trì hoãn không khỏe mạnh bằng những người không trì hoãn, cy thé là sự trì hoãn làm tôn hại hệ miễn dịch dẫn đến bị cảm lạnh (Sirois và cộng sự 2003); ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình trao đổi chất, lam cho con người cảm thấy mệt mỏi va ué oải, ngăn ngừa hệ thông miễn dịch hoạt động 7 hiệu qua (Tice và Baumeister, 1997). Với những nhiệm vụ có han xa, những người không trì hoãn sẽ bắt đầu làm ngay lập tức, vì vậy, các van dé vẻ sức khỏe và căng thăng sẽ cao. Ngược lại.
những người tri hoãn được bao cao it căng thăng hơn. Tuy nhiên, khi thời hạn đến gan thì điều này hoàn toàn ngược lại, những người trì hoãn ở thời điểm này căng thăng và có nhiều triệu chứng bệnh tật hơn so với những người không trì hoãn. Ngoài ra, những người trì hoãn sẽ có chất lượng công việc thấp hơn những người trì hoãn (Tice va Baumeister, 1997), Hướng nghiên cứu can thiệp su trì hoãn trong hoc tập Trì hoãn trong học tập được nghiên cứu rất rộng rãi trong hai thập kỉ vừa qua, tuy nhiên, nghiên cứu về các biện pháp can thiệp dé giảm thiêu trì hoãn trong học tập vẫn còn rất hạn chế (Zacks và Hen, 2018; Steel và Klingsieck, 2016). Nguyên do của sự hạn chế này là trì hoãn trong học tập được tìm thấy có mỗi liên hệ với nhiều yếu tố nhưng lại rất khó lựa chọn được khía cạnh trọng tâm dé can thiệp (Rebetez và cộng sự, 2015).
Thực chất, sự trì hoãn trong học tập không chỉ có tác động tiêu cực mà còn có những tác động tích cực (Chu và Choi, 2009), song, những ảnh hưởng tiêu cực thường lâu dài hơn và ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của người học, do vậy, chúng cần được giải quyết trong môi trường học tập (Kim va Sco, 2015). Các cách can thiệp dé giảm thiểu sự trì hoãn trong học tập về cơ bản có thẻ phân thành 3 nhóm là (1) điều trị trị liệu; (2) phòng ngừa trị liệu và (3) can thiệp từ phía giáo viên (Zacks và Hen, 2018). Các phương pháp điều trị liệu tìm cách can thiệp sau khi một sinh viên đã xuất hiện hành vi trì hoãn trong học tập, ví đụ, chỉ ôn thi vào buỗi cuối cùng trước ngày thi; trong khi đó, các biện pháp phòng ngừa tri liệu có thê ngăn chặn các tác động tiều cực của trì hoãn ngay từ đầu, ví dụ như các khóa học trị liệu được cung cấp cho sinh viên ngay từ khi bắt đầu học kỳ (Ozer, Demir, & Ferrari, 2013). Như vậy, điều trị trị liệu và can thiệp trị liệu đều áp dụng các biện pháp can thiệp trị liệu dé giam thiểu sự trì hoãn, chi là khác nhau về thời điểm can thiệp (Zacks va Hen, 2018).
Những chiến lược can thiệp xuất phát từ phía giáo viên là một phương pháp can thiệp có giá trị do ty lệ trì hoãn ở sinh viên đại học có thé lên đến 80% (Steel & Ferrari, 2013). Người giảng viên có thê giảm thiêu trì hoãn ở sinh viên bằng cách đưa ra chiến lược học tập cụ thẻ, hợp lý, sử dụng các biện pháp tạo động cơ học tập cho học sinh, cho học sinh làm việc thành nhóm nhỏ thay vì làm việc cá nhân (Zacks va Hen, 2018). Đồng thời, thường xuyên trao đôi với sinh viên về mục tiêu nghề nghiệp, kinh nghiệm học tập, kỹ năng và 8 thói quen học tập dé giúp họ tự phát triển khả năng tự điều chỉnh, từ đó giảm thiểu sự trì hoãn trong học tập (Klingsieck, 2013; Steel & Klingsieck, 2016; Zacks và Hen, 2018). So với các kỹ thuật tư vấn, liệu pháp trị liệu nhận thức hành - vi (CBT) cũng được khám phá như một kỹ thuật mang đến hiệu quả trong việc giảm sự trì hoãn trong học tập.
Một nghiên cứu khác đã sử dụng mô hình ABC (Ellis) dé tạo ra một chương trình can thiệp nhóm cho học sinh. Mỗi phiên can thiệp kéo dai 90 phút, được tô chức vào hàng tuần đã cho kết quả điểm số học tập vả sự trì hoãn của họ giảm xuống (Ozer và cộng sự, 2013). Can thiệp nhóm cũng được tìm thấy có hiệu quả trong việc giảm trì hoãn trong học tập ở sinh viên (Tuckman vả Schouwenburg, 2004; Scent và Boes, 2014). Trong đó, các kỳ thuật can thiệp nhóm được sử dung là dạy sinh viên các kỹ năng quan lý thời gian (Tuckman và Schouwenburg, 2004); sử dụng nguyên tắc của liệu pháp chap nhận và cam kết (ACT) (Scent và Boes, 2014).
Sinh viên thường xuyên trì hoãn bởi vì họ cảm thấy việc quản lý quá trình học tập rất khó khăn. Họ vẫn chưa hoàn toan tự lập và trưởng thành, vì vậy, việc tự tạo động lực và khuyến khích bản thân vượt qua các nhiệm vụ khó khăn trong học tập dường như rất khó (Orpen, 1998). Một nghiên cứu can thiệp khác đã tác động vảo sự trì hoãn của sinh viên thông qua việc sử dụng hệ thong qua SMS đẻ nhắc nhở học sinh đọc chương sách được giao và chuan bị cho bài kiểm tra hàng tuân trên lớp, khi học sinh hoàn thành bai tập hàng tuần sẽ ngừng nhận tin nhắn SMS lặp đi lặp lại, nhờ vậy, sự trì hoãn đã giảm xuống (Davis và Abbitt, 2013). Thực chat, tông quan tinh hình nghiên cứu trên thé giới cho thay, sự trì hoãn đã xuất hiện từ rất sớm.
Việc nghiên tiếp cận trì hoãn cũng đã được thực hiện liên tục từ những năm 80 của thé kỷ trước, điều này giúp không ngừng khai phá.