Chương 1. Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực làm việc cho người lao động. Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty Cổ phần Bất động sản Hải Phát. Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty Cổ phần Bất động sản Hải Phát.
6 Luan van PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIÊC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm động lực làm việc và các khái niệm liên quan * Động lực Thuật ngữ “động lực” được sử dụng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội, xung quanh khái niệm động lực còn có rất nhiều quan niệm và nhận thức khác nhau đã được đưa ra. Tùy theo từng mục đích tiếp cận, mỗi tác giả đều đưa ra những quan niệm riêng của mình về động lực.S Vũ Thị Uyên: “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức” [9;10] Động lực là nguồn lực bên trong con người để khơi dậy, thúc đẩy lòng nhiệt tình, sự kiên trì theo đuổi một hành động nào đó. Khi con người ở mỗi vị trí lam việc đều sẽ có những mục tiêu và mong muốn riêng nên động lực phấn đấu của mỗi người là không giống nhau. Muốn tạo động lực cho NLĐ thì trước hết phải biết thế nào là động lực và thế nào là động lực làm việc.
“Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động” [8;85] Động lực thúc đẩy NLĐ hoạt động một cách năng nổ có kết quả công việc chất lượng, hiệu quả, tăng khả năng hòa nhập, khơi nguồn cảm hứng sáng tạo cao nhất với tiềm năng của họ. Động lực làm việc thể hiện sự mong muốn và tự nguyện của NLĐ để bẩn thân NLĐ nỗ lực phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu chung. 7 Luan van Động lực làm việc gắn với các biến chuyển hành vi của con người hướng vào công việc và ra khỏi trạng thái nghỉ ngơi hoặc các lĩnh vực khác trong cuộc sống.
Từ những định nghĩa trên ta có thể hiểu về động lực như sau: Động lực của con người là sự tác động tổng hợp các yếu tố (vật chất và tinh thần) có tác dụng thúc đẩy, kích thích sự hăng say, nỗ lực làm việc, phấn đấu của mỗi người nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu tổ chức. Khi con người có động lực tốt, họ sẽ quyết tâm hơn và tự giác hơn, có sự hăng say, nỗ lực hơn trong quá trình làm việc nhằm đạt được những mục chung. * Động cơ Động cơ được hiểu là các yếu tố bên trong NLĐ, thúc đẩy NLĐ làm việc, nó bắt nguồn từ nhu cầu NLĐ, gia đình và xã hội. Động cơ làm việc của NLĐ có ba đặc điểm cơ bản sau: - Động cơ làm việc xảy ra bên trong con người, ở dạng vật chất vô hình rất khó nhận biết.
- Động cơ làm việc của con người rất đa dạng và biến đổi theo thời gian. - Động cơ làm việc của con người không phải lúc nào cũng có mục đích mà đôi khi là hành động vô thức * So sánh giữa động cơ làm việc và động lực làm việc: Giống nhau: - Động cơ làm việc và động lực làm việc đều không thể nhìn thấy được, xuất phát từ bên trong bản thân NLĐ và chỉ thể hiện ra bên ngoài bằng những hành vi của NLĐ. Vì vậy để hiểu được động cơ và động lực của NLĐ nhà quản lý cần phải quan sát thông qua hoạt động, hành vi của họ. - Động cơ làm việc và động lực làm việc đều không cố định nó biến đổi từ người này sang người khác thậm chí là trong phạm vi một người.
8 Luan van Khác nhau: - Động cơ làm việc chịu tác động lớn từ phía bản thân NLĐ, gia đình và môi trường xã hội còn động lực làm việc chịu tác động lớn từ phía bản thân NLĐ và mỗi trường làm việc của họ. - Động cơ làm việc là lí do khiến NLĐ làm việc còn động lực làm việc lại giải thích tại sao NLĐ làm việc với hiệu quả như vậy. * Khái niệm công ty, Công ty cổ phần Công ty là loại hình doanh nghiệp có ít nhất từ hai thành viên trở lên, trong đó các thành viên cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần góp vốn và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phần vốn của mình góp vào công ty. Có 2 loại công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
Khái niệm công ty cổ phần theo điều 111 Luật doanh nghiệp 2020: Công ty cổ phần là pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập so với những chủ thể sở hữu nó. Vốn điều lệ của công ty được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và có thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư.2 Khái niệm và vai trò của tạo động lực làm việc * Tạo động lực làm việc Từ các khái luận về động lực và động lực làm việc ta có thể đưa ra cách hiểu về tạo động lực và tạo động lực làm việc như sau: “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc" [8:87] Tạo động lực làm việc là các hoạt động của nhà quản lý hướng tới nhân viên nhằm khuyến khích, động viên nhân viên để họ nâng cao hiệu quả làm việc, tăng năng suất lao động của mình nhằm đạt được mục tiêu mà tổ chức đặt ra. Để làm được điều đó thì người quản lý phải biết được mục đích của NLĐ và gắn động cơ, 9 Luan van nhu cầu của họ với lợi ích của tổ chức, đưa ra các dự đoán và kiểm soát hành động của NLĐ và hướng họ tới mục tiêu chung của tổ chức. * Vai trò của tạo động lực làm việc.
- Đối với người lao động: Mỗi người đều có những nhu cầu cần được thỏa mãn cả về vật chất và tinh thần khác nhau. Khi các nhu cầu này được thỏa mãn đồng nghĩa với việc họ sẽ làm việc hãng say hơn. Tạo động lực làm việc sẽ giúp kích thích tính sáng tạo và năng lực làm việc của NLĐ, họ đem hết tâm huyết và khả năng của mình cống hiến cho tổ chức. - Đối với tổ chức: Tạo động lực làm việc có vai trò quan trọng đối với tổ chức nhất là khi chúng ta đang trong thời kỳ hội nhập quốc tế và đất nước tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước như hiện nay.
Nguồn vốn mà chúng ta cần đặc biệt quan tâm đó chính là NLĐ và vấn đề tạo động lực làm việc (kích thích NLĐ làm việc). Tạo động lực giúp: Tổ chức sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, khai thác và phát huy tối ưu khả năng, tiềm năng của NLĐ, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hình thành nên đội ngũ lao động giỏi, có tâm có tầm, gắn bó với tổ chức. Tạo bầu không khí hăng say làm việc, thoải mái, góp phần xây dựng văn hóa tổ chức, nâng cao uy tín, hình ảnh của tổ chức.
- Đối với xã hội: Các thành viên trong xã hội được phát triển toàn diện, có được cuộc sống hạnh phúc hơn khi mà các nhu cầu của họ được thỏa mãn. Động lực làm việc giúp cá nhân có thể tiến tới mục đích của mình, làm phong phú thêm đời sống tinh thần cho bản thân. Từ đó, hình thành nên những giá trị mới cho xã hội. - Động lực làm việc gián tiếp xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh hơn dựa trên sự phát triển của các chức kinh doanh và sự phát triển của mỗi cá nhân NLĐ.2 Một số học thuyết tạo động lực làm việc 1.1 Học thuyết nhu cầu của Maslow Abraham Maslow (1908-1970) – nhà tâm lý học nhân văn cho rằng mặc dù ở con người có sự tồn tại của rất nhiều những nhu cầu khác nhau, tuy nhiên có thể phân loại thành 5 loại nhu cầu chính, đó là: 10 Luan van 1.
Nhu cầu sinh lí: nhu cầu này là tổng hợp của những loại nhu cầu về chỗ ở, thực phẩm, nhu cầu sinh lí hay các nhu cầu vật chất khác… 2. Nhu cầu an toàn: đây là nhu cầu về sự an toàn, được bảo vệ khỏi những tác nhân xấu (bao gồm cả những vật chất lẫn tinh thần). Nhu cầu xã hội: là những nhu cầu cơ bản về mặt tình cảm, sự chấp nhận và bằng hữu. Nhu cầu được tôn trọng: bao gồm những yếu tố được tôn trọng từ bên trong ( tự trọng và quyền tự chủ…) và bên ngoài (sự chú ý, địa vị, sự công nhận…) 5.
Nhu cầu khẳng định: là nhu cầu giúp con người tự hoàn thiện bản thân thông qua sự cố gắng phát huy và đạt được những cái có thể và thỏa mãn về bản thân. Có thể nhận thấy, học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow được xây dựng từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất, khi nhu cầu thấp hơn được thỏa mãn thì lập tức các nhu cầu cao hơn sẽ xuất hiện. Trong công việc cũng vậy, con người cũng có những nhu cầu tương tự và nhu cầu của họ ngày một càng cao và gần như không có điểm dừng. Điều này đặt ra cho người quản lý phải nắm bắt được các nhu cầu của nhân lực và phải có những biện pháp nhất định để đáp ứng những nhu cầu đó của nhân sự.
Giải quyết được vấn đề này sẽ góp phần tạo nên thành công trong việc khuyến khích và tạo động lực cho nhân viên. Học thuyết nhu cầu của Maslow đã mang lại lời giải thích ngắn gọn và dễ hiểu cho nguồn gốc vận động và phát triển của con người cũng như là lời giải cho vô vàn hành vi khác ở con người, trong đó có kinh tế và nguồn nhân lực.2 Học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom Vào năm 1964, nhà tâm lý học người Canada - Victor H. Vroom đã phát triển học thuyết kỳ vọng Vroom.